Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đất nước ta nay đang trong thời kì mở cửa, những đổi mới do sự giao lưu văn hoá rộng rãi đã đem lại bao không khí mới cho cuộc sống. Song mở cửa ắt gió lùa. Không ít những nếp sống vốn là nét đẹp riêng của dân tộc đang lung lay trước cơn gió lùa của thời mở cửa. Không ít người sa vào con đường tội ác, họ quên đi gốc rễ, đánh mất bản thân. Muốn tìm lại được mình thì phải trả bằng không ít đớn đau. Đáng trách hơn có kẻ lại còn cho rằng nền nếp văn hoá lâu đời là cổ hủ, phong kiến. Hà Nội mến yêu của ta, Thủ đô mến yêu của ta cũng không là ngoại lệ. Vậy câu:
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ”
có còn chỗ đứng nữa không? Làm sáng tỏ điều đó không chỉ là trách nhiệm của, riêng bạn hay riêng tôi mà là của tất cả chúng ta.
Đọc câu ca dao mà không ít người ngơ ngác: Sao bảo đó là câu ca nói về người thủ đô Thăng Long – Hà Nội? Chắc họ ngạc nhiên với cái tên Tràng An? Vâng, Tràng An xưa kia vốn là tên kinh đô của Trung Quốc, là đất đế đô của nhiều thế kỉ của nhiều triều đại phong kiến nên tập trung nhiều nét đặc sắc của văn minh Trung Hoa. Người Tràng An có những nét văn minh, thanh lịch mà nơi khác không có hoặc có mà không đậm nét bằng. Lâu dần, “Tràng An” trở thành tên chung, tượng trưng cho những vùng đất kinh đô và nói “người Tràng An” là chỉ chung những người sống ở kinh kì của một nước, không cứ là kinh kì của Trung Hoa. Bởi thế, ca dao cổ Việt Nam cũng gọi người kinh đô của mình là “người Tràng An”.
Nói “không” (không thơm, không thanh lịch) cũng chỉ là cách nói thậm xưng (ngoa dụ) vậy thôi, chính là nhằm để khẳng định, để ca tụng: hoa nhài có hương thơm đặc biệt, hoa khác không dễ gì có được, cũng như người Hà Nội có nếp thanh lịch đặc biệt, nơi khác không dễ gì sánh được. Và vì nó có vẻ riêng biệt nên nói “không” hay đúng hơn, nói “ít” cũng là so với cái hương thơm, cái thanh lịch không giống với cái hương thơm và nét thanh lịch của chính nó đó thôi.
Có người lại cho rằng, người Hà Nội thường là xinh đẹp, là trai thanh gái tú. Họ không chấp nhận người lao động lam lũ là thanh lịch, và không hề băn khoăn khi vội vàng khẳng định một chàng trai đẹp, mũi dọc dừa, mắt sáng là một con người thanh lịch. Sai hết, sai cơ bản vì thanh lịch là tính cách của con người. Câu ca dao ấy nói rằng người Tràng An là người thanh lịch, vì vậy không thơm nồng nàn đắm đuối như hoa hồng mà nhẹ nhàng ngát hương như hoa nhài, dẫu thế nào cũng được tiếng thơm là người Thăng Long – Hà Nội.
Vậy thế nào là người thanh lịch? Người thanh lịch là con người trong sáng (thanh) và lịch sự (lịch). Con người đó không nhỏ nhen tầm thường, biết ứng xử tốt, biết nói hai từ “cảm ơn” và “xin lỗi” đúng nơi, đúng lúc.
Tại sao người Hà Nội lại được tiếng là thanh lịch? Vì nước Đại Việt ta từ ngàn năm trước, nơi đâu có trường học lớn nhất? – Thăng Long. Nơi đâu như có ánh sáng, có khí thiêng sông núi kết tinh như Bấc Đẩu rạng rỡ chiếu khắp giang sơn đất nước? – Thăng Long. Chính vì thế mà nhắc tới Thăng Long – Hà Nội, nhắc tới người Hà Nội, mọi người như nhắc tới một nơi đẹp đẽ cao cả, nhắc tới người thông minh, thanh lịch.
Thật diễm phúc cho ai được sinh ra và lớn lên trên đất Hà Nội, để trở thành người Hà Nội. Nhưng Hà Nội ngày hôm nay đã khác với Hà Nội ngày xưa. Chưa nói tới Hà Nội của thời câu ca dao ra đời, chỉ xin so với Hà Nội những năm khói lửa chống đế quốc Mĩ thôi, đã thấy Hà Nội nay mất đi không ít những nét đáng quý của con người Hà Nội. Người Hà Nội thuở ấy không sợ đạn bom, sẵn sàng hi sinh vì người khác. Họ đối xử với nhau thật đẹp, mộc mạc nhưng chân tình, ấm áp; chỉ cần gặp nhau một lần thôi, thoáng chốc thôi nhưng dư âm thì mãi mãi. Và giữa một thời bom dội, họ luôn đứng thẳng, từ nơi sâu thẳm trong trái tim tràn ngập một niềm tin: “Chân ta bước lòng ung dung tự hào, kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao!”. Vì vậy, Hà Nội trở thành “niềm tin yêu hi vọng của núi sông hôm nay và mai sau”. Còn ngày nay? Người Hà Nội ngày nay khá phức tạp. Có những người sống vì bạo lực và cũng vì bạo lực mà bỏ phí mạng sống của mình. Có kẻ suốt ngày thác loạn trong ánh đèn mờ ảo của vũ trường,.. .Song, cũng còn rất nhiều người giữ và đang phát huy được “nếp xưa”: họ sống chân thành, chăm chỉ làm việc để dựng xây gia đình và xã hội,…Nhờ họ mà nếp sống người Hà Nội, đất Hà Nội vẫn giữ được vẻ đẹp riêng.
Không thể có một đất nước hạnh phúc khi không có cuộc sống an ninh ổn định trên đất nước ấy. Mà cơ sở làm nên sự an ninh ấy là cuộc sống có văn hoá. Cuộc sống văn hoá mới không thể cắt lìa với cội nguồn. Có lẽ vì thế mà những năm gần đây, nhà trường và xã hội đều quan tâm giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá dân tộc. Thủ đô ta cũng trong trào lưu đó. Chúng ta quan tâm giữ gìn và phát huy nếp sống thanh lịch của người Hà Nội. Bởi thế, chúng ta thường nghe nhắc nhiều đến câu ca dao xưa, vốn là niềm tự hào của thủ đô:
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.
#tham khảo #
học tốt
+Nói rằng “chẳng thơm”, nói rằng “không thanh lịch” chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người Thủ đô Thăng Long – Hà Nội: nét thanh lịch…
+Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc, với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng, và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức nồng nàn mà chỉ thoang thoảng, nhưng lâu bền.
+Còn Tràng An, vốn là kinh đô của muời hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kinh kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi tụ hội kết tinh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kinh kì; được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kinh kì, kinh đô nói chung của các nước vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ “người Tràng An” trong câu ca có nghĩa là nói kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối song rất tao nhã, thanh cao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lối sống đó đã trở thành bản sắc; dù có đi xuôi về ngược, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu nguời ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa “rừng hương”, ở đất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục thanh nhã, dáng đi nhẹ nhàng, ăn nói dịu dàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang dịu hiền mà vẫn lanh lợi tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém.
Có lẽ, đa số chúng ta đều dễ dàng hiểu được thông điệp ngữ nghĩa được ngụ ý trong câu ca dao này: Dù không có vị thơm (như thường có) thì cũng là loài hoa thuộc dòng hoa lài (hoa nhài). Và dù không được “lịch" (lịch lãm, từng trải) thì cũng đang mang danh là người Tràng An (theo quan niệm xưa, được hiểu là người thuộc xứ kinh kỳ).
Câu ca dao nói lên một nét đẹp đặc trưng, tinh tế và đó là niềm tự hào của mỗi công dân đã và đang sống trên mảnh đất Thăng Long từ xa xưa cho đến bây giờ. Bởi lẽ giàu có, phú quý thì nơi nơi nhiều người có, nhưng hiểu biết, lịch lãm thì không phải cứ nhiều tiền là có được. Đồng thời, câu này cũng gián tiếp nhắc nhở những con người của “Hà Nội ngàn năm văn hiến” cần phải có ý thức, bổn phận về việc trau dồi phẩm chất, sao cho xứng đáng với truyền thống đã có và đang có, với niềm tin yêu, kỳ vọng của mọi người.
Điều tôi muốn nói ở đây là bây giờ, đa số câu thứ hai trong câu ca dao trên được đọc là “Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Về ngữ nghĩa, cấu trúc này không khác, thậm chí tường minh hơn (dẫu là không được thanh lịch song dù sao cũng đang được tiếng là người Tràng An - những người được tôn vinh vốn dĩ là có nét đẹp về phẩm chất (thanh nhã, lịch lãm, lịch sự…). Tuy nhiên, từ xa xưa, câu này vẫn được truyền tụng là “Chẳng thơm cũng thể hoa lài/Chẳng lịch cũng thể là người Tràng An”. Theo tôi, đây mới là nguyên gốc của câu ca dao. Nó còn lưu giữ trong khá nhiều tài liệu và bản thân tôi đã đọc trong sách giáo khoa thuở nhỏ.
Trước hết, hai câu lục bát trên có sự tương đồng về cú pháp, lặp cấu trúc “chẳng x cũng thể A = không có phẩm chất x cũng vẫn là A”. Chuyện song hành cú pháp như vậy trong văn chương không hiếm. Chẳng hạn: Cơm ăn một bát sao no/Ruộng cày một vụ sao cho đành lòng (ca dao); Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng/Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương/Nếu là mây tôi sẽ là một vừng mây ấm/Là người, ta sẽ chết cho quê hương… (bài hát Tự nguyện của nhạc sĩ Trương Quốc Khánh). Phép lặp kép diễn ra trong các câu kế tiếp nhau tạo nên hướng lập luận và làm cho thông điệp rõ ràng, thuyết phục hơn.
“Chẳng x cũng thể A” là một cấu trúc không quen thuộc của tiếng Việt. Cấu trúc lạ này vẫn được hiểu (và không bị hiểu sai) khi nó được đặt trong hai phát ngôn mà hướng lập luận là như nhau. Lài (nhài) là một loại cây nhỡ, là hình bầu dục, hoa màu trắng mọc thành cụm, nở về đêm, có vị thơm thanh mát (Hoa đào chưa thắm đã phai/Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu). Đây là “vật chứng” quan trọng được đưa ra làm xuất phát điểm cho lập luận.
Tương tự với nét đẹp của hoa lài, người Thăng Long - Hà Nội được coi là những người có tính cách riêng, tiêu biểu cho cư dân vùng kinh thành: đẹp, lịch sự, tế nhị, từng trải, biết cách cư xử đúng mực. Chữ LỊCH ở đây nghĩa rộng hơn nhiều (lịch duyệt, lịch lãm, lịch sự, lịch thiệp…) so với thanh lịch, vốn chỉ là một nét phẩm chất (thanh nhã và lịch sự). Do đó, theo tôi, khi trích dẫn, cần phải trả câu ca dao trên về dạng “nguyên sơ” của nó, vừa thống nhất, chặt chẽ về cấu trúc, vừa hàm súc và giàu sức liên tưởng về ngữ nghĩa:
Chẳng thơm cũng thể hoa lài
Chẳng lịch cũng thể là người Tràng An.
Bạn tham khảo, chúc bạn học tốt!![]()
Cứu 1 mạng người hơn xây bảy tháp phù đồ" - nếu đem so sánh bình thường thì đây chì là một cách so sánh thôi; nhưng nếu đặt vào tình cảnh của xã hội khi mà ai cũng đua tranh cúng dường đóng góp chùa lớn, chùa mới chỉ để mục đích khoe khoang "công đức", trong khi bên ngoài phố vẫn còn người ăn xin chết đói thì câu này lại có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc.
Cũng tương tự như chuyện Taliban phá hủy tượng Phật ở Bamiyan trước đây; tại vùng này có rất nhiều người tị nạn trong cảnh đói khát mà chính quyền Taliban kêu gọi Liên Hiệp Quốc, các xứ Tây Phương cùng Phật giáo đóng góp giúp đở họ. Qua nhiều năm chẳng ai cho đồng xu vì lý do nhân đạo này. Khi họ tuyên bố phá hủy tượng Phật thì thế giới lại đổ tiền "cứu trợ" bức tượng; điều này đã làm họ tức giận không lay chuyển quyết định phá tượng. Họ tuyên bố là họ chỉ phá những "đống đá vô trì" mà thôi... Họ cho việc khóc tượng là điều giả dối.
DẪU XÂY CHÍN ĐỢT PHÙ ĐỒ
Từ lâu chúng ta đã nghe câu ca dao : “ Dẫu xây chín đợt phù đồ , không bằng làm phúc cứu cho một người ”. Chúng ta phân tích về câu nói này. Trước hết ta tra tự điển không thấy chữ “ phù đồ ” mà từ này bắt nguồn từ tiếng Ấn Độ là Phật Đà. Phù Đồ có nghĩa là xây chùa tháp để thờ Phật. Khi một người dùng từ phù đồ có nghĩa là người đó có thể là nhà Sư hay là người có sự am hiểu tôn trọng về đạo Phật. Tuy nhiên vì sao họ nói dù xây chín lần chùa tháp cũng không bằng làm phúc cứu cho một người. Chín đợt phù đồ là xây tháp thờ Phật cao 9 tầng hoặc chúng ta có 9 lần xây chùa với 9 ngôi chùa khác nhau . Khi nói câu này có nghĩa công đức mà chúng ta dồn vào xây dựng chùa chiền tín ngưỡng rất là lớn.
Trong cuộc đời một người mà phát tâm bỏ tiền của ra xây dựng một ngôi chùa đã là việc lớn lao rồi. Khi ngôi chùa đó được bá tánh Phật tử tới lui nghe pháp tu học , có những vị Thầy tới giảng dạy giáo hóa thì công đức của người đó rất lớn. Còn trong câu này nói một người làm ra đến 9 ngôi chùa thì công đức không thể nghĩ bàn.
Người đó giành hết tâm huyết , giành hết cuộc đời cho tín ngưỡng nhưng ông bà ta nói công đức xây chùa đó là thua kém công đức mà chúng ta ra ân cứu một người khỏi cơn hoạn nạn nguy biến. Chúng ta thường thấy hiếm có người nào bỏ tiền của ra xây một ngôi chùa mà không có sự hùn phước của nhiều người đóng góp tịnh tài cho công việc đó.
Chúng ta phân tích khách quan để thấy câu ca dao này rất thâm thúy và đúng với đạo lý nhà Phật. Người nói câu này là người hiểu đạo Phật sâu sắc , hiểu tới gốc rễ của đạo Phật. Còn người hiểu cạn sẽ buồn nói mình mộ đạo nên việc xây chùa là tốt , chứ sao nói công đức không bằng cứu người. Thoạt nghe qua chúng ta cứ tưởng như bác đạo Phật.
Chúng ta biết rằng cứu một người qua cơn nguy biến thì phước đức rất lớn . Thứ nữa người cứu người khác thường họ có tâm từ bi thương người , sẳn lòng dấn thân giúp đỡ , thậm chí có thể hy sinh cả tính mạng để cứu người. Thí dụ : Một người dám lao ra đoàn tàu lửa đang lao vùn vụt tới để cứu một em bé đi lạc trên đường ray , hay lính cứu hỏa sẳn sàng lao vào căn nhà đang bốc cháy ngùn ngụt để cứu người bị nạn , hoặc một người bị lật thuyền rớt xuống sông kêu cứu được ta bơi ra cứu giúp mang vào bờ , cứu người trong thiên tai bão lụt v.v…như thế không những ta cứu mạng người , tránh những sự mất mát đau buồn cho người thân của nạn nhân , còn mang niềm vui đến cho những người thân , bà con xóm giềng sau biến cố đó. Công đức cứu người đó cộng hưởng nhiều mặt nên là rất lớn.
Khi chúng ta làm việc phúc chẳng hạn như cho một người nào đó 100 ngàn VNĐ , đi xin việc làm cho ai đó , tài trợ tiền học phí cho những đứa trẻ nghèo , mua sách vỡ tặng học sinh nghèo , xây cây cầu cho dân làng và trẻ em qua lại học hành sinh hoạt , hiến một miếng đất mấy sào để xây bệnh viện , trường học v.v… khi ta làm việc nào chỉ thấy một việc , chứ nào biết ảnh hưởng rất lớn là mọi người xung quanh được hưởng lợi ích , có hệ quả lây lan đến mọi người.
Khi xây cất một cái chùa thì có Phật Tử , Tăng Ni đến tu học , rồi giáo hóa nhờ đó mà đạo lý của Phật lan tỏa vào cuộc đời. Khi lời Phật dạy rớt vào tâm người thì giúp bá tánh có thiện căn lành từ kiếp này sang kiếp khác.
Việc cứu giúp người công đức cũng rất lớn. Vậy sau câu ca dao này có vẻ thiên vị về công đức cứu người con người hơn cả việc xây dựng chùa tháp.
Chúng ta biết mục tiêu của đạo Phật là cứu giúp con người và tất cả giáo lý của đạo Phật là nhằm mục tiêu cứu khổ ban vui. Chúng ta cứu người là áp dụng lời Phật dạy vào thực tiễn cuộc đời.
Chúng ta không phải là dồn hết tâm lực của mình vào tâm linh tín ngưỡng mà quay lưng bỏ quên cuộc đời.
Người hiểu đạo là người có công đức thực tế với cuộc đời. Ta không thể thuộc làu kinh điển mà thực tế luôn vị kỷ cho mình , không biết giúp đỡ ai.
Khi ta hiểu Đạo sâu sắc rồi thì đạo nằm trong từng chiếc lá rơi , trong từng mầm xanh vươn lên , đạo nằm trong tiếng chim hót lúc ban mai, đạo nằm trong tiếng khóc của đứa trẻ bên làng, đạo nằm ở một người phụ nữ gánh rau ra chợ bán buổi sáng, đạo nằm ở bà cụ già đang quẩy gánh đi về nhà trong buổi chiều hoàng hôn, , đạo nằm ở đứa bé bán lạc rang trong xóm với tiếng rao vang , đạo nằm nơi đứa trẻ và con trâu đang cày dưới đồng ruộng yên bình, đạo nằm nơi đứa bé đứng trông mẹ đi chợ về v.v…và đạo nằm trong tất cả những điều mà người ta đau khổ hay hạnh phúc.
Một người hiểu đạo không lệ thuộc đạo ở chùa chiền hay đạo ở trong tâm mình nữa mà mỗi bửa sáng khi mở cửa ra nhìn thấy cuộc đời thì tất cả tràn ngập đạo lý và tất cả đều kêu gọi bổn phận của chúng ta bước đến với cuộc đời để làm một việc gì đó có ý nghĩa , mang lại lợi ích cho mọi người. Khi nào tình thương yêu chúng ta gửi đến từng thân phận con người , từng niềm vui nỗi khổ của con người , có tình thương và trách nhiệm với con người thì đó chính là Đạo.
Người chưa hiểu đạo thì thấy đạo chỉ nằm ở chùa , còn khi về nhà thì vẫn tham sân si như thường. Người bắt đầu hiểu đạo thì thấy đạo trong tâm luôn giữ không phạm điều sai lầm. Còn người hiểu đạo sâu sắc , không còn phạm sai lầm nữa , tình thương yêu lan tỏa ra khắp nơi trong cuộc sống thì thấy nơi nào cũng là đạo , nơi nào cũng là để ta thương yêu đến từng lá cây , ngọn cỏ , từng người già , em bé v.v…Khi gặp gỡ mọi người trong cuộc sống này ta luôn bị thôi thúc muốn làm một cái gì đó cho mọi người vui vẻ lợi ích an lạc , thì đó chính là Đạo. Hiểu đạo đến mức độ như vậy là chúng ta đã ngộ đạo ở tầm cao , còn nếu ta chỉ vị kỷ cá nhân không quan tâm đến mọi người , không cứu giúp ai thì ta phải tu còn nhiều lắm.
Câu ca dao chúng ta nghe có vẻ công đức tách đôi ra , một công đức thuộc về tôn giáo tín ngưỡng là xây chùa tháp. Một công đức thuộc về cứu giúp con người ở bên ngoài xã hội làm chúng ta cứ tưởng công đức giành cho đạo không bằng công đức giành cho đời. Thật sự công đức nằm trong cuộc sống mà đạo cũng nằm trong cuộc sống , trong tất cả mọi người mọi chúng sinh.
Đạo là gì ? Đức Phật ra đời để làm gì ? chính là để cứu độ chúng sanh , để chúng sinh sống đúng đạo lý , được an vui và giải thoát.
Câu ca dao này còn có ý nghĩa là đừng nghĩ đây là công đức xây chùa tháp , còn kia là công đức cứu giúp người mà công đức chính là bắt nguồn từ cuộc sống. Cho dù có xây chín bậc phù đồ mà không đem lại lợi ích thực tế cho con người thì không phải là công đức chân thật. Nếu chùa đó không lan tỏa được đạo lý vào cuộc đời thì thật là phí phạm.
Câu ca dao này cảnh báo công đức thật sự nằm trong cuộc sống , còn chùa là hệ quả phát sinh tự nhiên của công đức chứ không phải nền của công đức. Ai chưa biết thương yêu con người , ý các Ngài cảnh báo là phải biết yêu thương cứu giúp con người trước , rồi hãy làm việc xây chùa tháp. Quan điểm này thật chuẩn xác đối với đạo Phật. Căn bản là chúng ta thương yêu giúp đỡ con người trước , vì nếu không như thế chúng ta chỉ cầu quả báo vị kỷ cho bản thân khi đóng góp xây chùa tháp.
Có hai điều cực đoan mà chúng ta cần tránh : Cực đoan thứ nhất cho là tôi không cần tu , không cần đạo , chỉ cần thực tế là lo cho con người , lo cho cuộc đời. Đó là một cực đoan vì không biết đến đạo lý , sẽ không phát triển trí tuệ tâm linh. Cực đoan thứ hai là chỉ biết đến tu tập tâm linh tín ngưỡng nhưng không bao giờ biết đến một việc làm từ thiện trong cuộc sống , quay lưng với nỗi khổ niềm đau của nhân thế. Đó cũng là một cực đoan vì không có lòng từ.
Con người phải phát triển trí tuệ , tiến dần từ phàm lên Thánh , chứ không sẽ luẩn quẩn đọa lạc mãi trong luân hồi sanh tử.
Những người thích tu tập nhưng không có những công đức trong xã hội thì giống như xây tòa tháp không có nền móng.
Chúng ta thấy gốc của câu ca dao trên là dựng lại một trung đạo. Việc cứu người là chính yếu ưu tiên hàng đầu , cứu người là công đức lớn.
Có 3 trường hợp cứu người :
•Thứ nhất là chúng ta cứu người trong nguy cấp như : người ta đang bị tai nạn , đang bị thương tật , đang bị hỏa hoạn , bị côn đồ đánh đập cướp của v.v… đây là ưu tiên số một.
•Thứ hai là giúp người nghèo đói , bệnh tật , những mảnh đời cơ nhỡ bất hạnh xung quanh ta. Đây là trường hợp có thời gian để chúng ta thực hiện.
•Thứ ba là giúp con người khỏi u tối mê lầm , để người ta có đạo lý , tránh điều tội biết làm phúc , tăng trưởng phẩm giá đạo hạnh của người ta lên. Điều này khó làm nhưng có giá trị lợi ích lâu dài vì khi đạo lý rớt vào tâm rồi thì dù người đó có già mất đi thì đạo lý trong tâm vẫn còn tồn tại đến những kiếp sau. Chúng ta phải có đức độ , có duyên lành mới làm được điều này.
Chúng ta nói chuyện với nhau về câu ca dao : “ Dù xây chín đợt phù đồ , không bằng làm phúc cứu cho một người ” là để tránh sự cực đoan và thấy rằng gốc rễ của Đạo nằm trong cuộc sống. Chúng ta cần thương yêu giúp đỡ nhau trong cuộc sống thực tế làm nền , rồi chúng ta mới tu tập thăng tiến về tâm linh được. Chúng ta không thể làm một phàm phu mãi mãi mà phải tiến dần lên thành một vị Thánh trong đạo Phật.
Cuộc sống của mỗi người luôn có những biến đổi, có những lúc thăng nhưng bên cạnh đó cũng có những nốt trầm. Trước sự thay đổi của cuộc sống chúng ta cần giữa vững ý chí, niềm tin và hơn hết là giữ gìn phẩm giá của bản thân. Để nói về điều này, ông cha ta đã gửi gắm qua câu tục ngữ: Đói cho sạch, rách cho thơm.
Câu tục ngữ được chia làm hai vế, cân đối, nhịp nhàng. Trước hết chúng ta cần hiểu nghĩa đen của câu tục ngữ này là gì. Dù có bị đói chúng ta cũng phải ăn miếng ăn sạch sẽ, dù có nghèo quần áo cũng phải gọn gàng, thơm tho, không được ăn mặc lôi thôi, luộm thuộm. Đằng sau lớp nghĩa bề mặt đó, ông cha ta còn gửi gắm đến thế hệ sau một thông điệp vô cùng sâu sắc, ý nghĩa. Đói và rách ở đây chỉ cuộc sống khó khăn, túng quẫn; sạch, thơm không chỉ dùng chỉ hình thức bề ngoài mà còn thể hiện phẩm chất, tính cách bên trong mỗi con người: sự trong sạch, trung thực, không tham lam, lừa dối. Câu tục ngữ khuyên nhủ mỗi người dù cuộc sống có khó khăn, vất vả, phải chịu nhiều khổ cực cũng phải luôn giữ gìn nhân cách, phẩm chất của bản thân. Không bởi vì hoàn cảnh thay đổi mà bán rẻ nhân phẩm, lương tâm, đạo đức của chính mình.
Trong cuộc sống, khi gặp những khó khăn người ta thường dễ dàng suy sụp, nản chí, có những hành động không đúng với chuẩn mực đạo đức, “đói ăn vụng, túng làm càn”. Đồng thời đây cũng là lúc thử thách bản lĩnh của mỗi con người. Nếu là người có ý chí, có bản lĩnh vững vàng sẽ không bị sa ngã trước những cám dỗ của cuộc sống, sẽ giữ được lương tâm, phẩm giá, nhân cách của bản thân. Ngược lại, bị cám dỗ sẽ trở thành kẻ xấu, tha hóa về đạo đức. Với xã hội hiện đại đây là câu nói răn mình mà mỗi người cần phải ghi nhớ để không sa đà vào những tệ nạn khi gặp khó khăn, vất vả.
Từ cổ chí kim có rất nhiều tấm gương sáng về tinh thần, thái độ sống đúng đắn, đúng mực, không bị cám dỗ trước những sa hoa của cuộc sống. Khổng Tử người có phẩm hạnh, đạo đức cao thượng, dù cả đời ông sống trong nghèo túng, nhưng chưa bao giờ ông bị những lời dụ dỗ làm cho mất đi những nét phẩm cách của một bậc thánh nhân. Gần hơn là cụ Phan Bội Châu, vị anh hùng của dân tộc, là một người tài giỏi, lãnh đạo nhân dân cứu nước theo con đường dân chủ, mặc dù nhiều lần bị thực dân Pháp dụ dỗ, đe dọa nhưng ông vẫn kiên trinh tấm lòng cứu nước, cứu dân. Và còn rất nhiều tấm gương khác trong cuộc sống thể hiện đức tính tốt đẹp, không bán rẻ lương tâm, nhân cách của bản thân trước những cám dỗ của cuộc sống.
Bên cạnh đó vẫn còn những con người coi thường những giá trị tốt đẹp của dân tộc, bán rẻ nhân phẩm của mình vì những lợi ích trước mắt như: buôn bán ma túy, ăn trộm, ăn cắp,… Những hành động này thật đáng lên án và những kẻ đó cần có những hình phạt thích đáng.
Đói cho sạch, rách cho thơm từ xưa đến nay đã là lời răn dạy, là lẽ sống mà mỗi con người phải hướng đến. Là một học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường chúng ta phải kiên định, trung thực, không vì những lợi ích trước mắt mà bán rẻ nhân cách của mình. Chỉ có tu dưỡng, rèn luyện đạo đức ngay từ bây giờ thì sau này ta mới trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Câu tục ngữ trên có 2 nghĩa
Thứ nhất, “Đói cho sạch” nhắc nhở con người ta là dù có đói đến mức độ nào cũng nên chú ý sạch sẽ. Ăn uống nên đảm bảo vệ sinh để có lợi cho sức khỏe cũng như tạo thói quen tốt về sau. Còn “Rách cho thơm” ý là dù trong cảnh khó khăn, quần áo có rách nát cũng phải giữ cho nó không bẩn. Người ăn mặc tuy rách rưới nhưng vẫn giữ quần áo sạch sẽ, thơm tho thì không một ai kì thị và khó chịu.
Thứ hai, nói về hàm ý sâu xa của nó. “Đói cho sạch, rách cho thơm” là lời răn của ông bà ta về đạo lý sống ở đời. Cuộc sống thật sự có rất nhiều khó khăn và mỗi chúng ta phải học cách vượt qua nó. Nếu chẳng may, bạn lâm vào hoàn cảnh khốn cùng, nghèo đói đeo bám thì cũng đừng quá nản lòng. Đừng vì thế mà đánh mất đi giá trị của bản thân. Hãy sống giống như những đóa hoa sen, dù bị bùn vùi lấp vẫn thơm ngát và tỏa sắc kiêu hãnh. Như chúng ta, nghèo vật chất chứ đừng nghèo nhân nghĩa.
Câu 4: Trong câu ca dao sau đây, câu nào nhắc đến địa danh ở Long An?
A. Không ngon cũng tiếng thơm vườn
Gá duyên không đặng cũng để đường xuống lên.
B. Bảng treo ở chợ Cai Tài
Bên văn bên võ bên tài ra thi.
C. Đền nào thiêng nhất sứ Thanh
Ở đâu mà lại có thành tiên xây?
D. Rủ nhau xem cảnh kiếm hồ
Xem cầu Thê Húc xem Chùa Ngọc Sơn.
Câu 5: Trong câu tục ngữ sau đây, câu nào chích theo địa chí Long An, Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long.
A. Lá lành đùm lá rách.
B. Đói cho sạch, rách cho thơm.
C. Một mặt người bằng mười mặt của.
D. Đắt ra quế, ế ra củi.
Câu 4: Trong câu ca dao sau đây, câu nào nhắc đến địa danh ở Long An?
A. Không ngon cũng tiếng thơm vườn
Gá duyên không đặng cũng để đường xuống lên.
B. Bảng treo ở chợ Cai Tài
Bên văn bên võ bên tài ra thi.
C. Đền nào thiêng nhất sứ Thanh
Ở đâu mà lại có thành tiên xây?
D. Rủ nhau xem cảnh kiếm hồ
Xem cầu Thê Húc xem Chùa Ngọc Sơn.
Câu 5: Trong câu tục ngữ sau đây, câu nào chích theo địa chí Long An, Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long.
A. Lá lành đùm lá rách.
B. Đói cho sạch, rách cho thơm.
C. Một mặt người bằng mười mặt của.
D. Đắt ra quế, ế ra củi.
A/Từ hai hình ảnh ví von gợi cảm đó, người xưa muốn nêu lên một lời khuyên: Là người trong một nước ta phải biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là trong lúc hoạn nạn, khó khăn.
+ Đoạn a không phải là văn biểu cảm vì chỉ miêu tả hoa Hải Đường dưới góc độ sinh học
+ Đoạn b là văn biểu cảm vì bộc lộ rõ cảm xúc:
- Tả hai cây hải đường trổ hoa,từ đó liên tưởng tới lời chào hạnh phúc
- Cảm nhận:khi đứng gần hoa thì "hân hoan ,say đắm"
- thái độ: không đồng tình với cách xưng tôn của các nhà nho
- cảm xúc bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp khỏe khoắn,dân dã của hoa
Nội dung biểu cảm:Đoạn văn đó đã bày tỏ tình cảm khi ngắm nhìn thấy cây hoa hải đường cảm xúc của tác giả khi ngắm nó, và đặc biệt nó để lại những chi tiết rất đặc sắc và mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng tới người đọc.
Ngày nay, trong thanh niên đang hình thành lối sống ăn chơi đua đòi. Họ chạy theo những thị hiếu nhất thời, những màu sắc lòe loẹt lạ mắt của nếp sống xô bồ mà lầm tưởng là hiện đại. Họ quên đi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ thường đánh giá con người bằng vẻ bề ngoài mà không nghĩ đến phẩm chất tâm hồn bên trong. Để nhắc nhở cháu con biết sống đẹp, các bậc cao niên ở Thủ đô ta thường hay nói tới câu ca dao xưa với vẻ rất tự hào:
Chẳng thơm củng thể hoa nhài.
Dẫu không thanh lịch củng người Tràng An,
Nói rằng “chẳng thơm”, nói rằng “không thanh lịch” chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người Thủ đô Thăng Long – Hà Nội: nét thanh lịch…
Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc, với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng, và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức nồng nàn mà chỉ thoang thoảng, nhưng lâu bền.
Còn Tràng An, vốn là kinh đô của muời hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kinh kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi tụ hội kết tinh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kinh kì; được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kinh kì, kinh đô nói chung của các nước vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ “người Tràng An” trong câu ca có nghĩa là nói kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối song rất tao nhã, thanh cao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lối sống đó đã trở thành bản sắc; dù có đi xuôi về ngược, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu nguời ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa “rừng hương”, ở đất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục thanh nhã, dáng đi nhẹ nhàng, ăn nói dịu dàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang dịu hiền mà vẫn lanh lợi tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém.
Ngày nay, tiếp thu nhiều luồng ánh sáng văn minh trên thế giới, người Hà Nội đích thực vẫn vừa thanh lịch vừa thông minh, sắc sảo hơn.
Nhưng trong quá trình “mở cửa” cũng không ít những sản phẩm văn hóa đồi trụy du nhập vào Thủ đô ta, làm xuất hiện không ít những lối sống kém văn hóa, xóa đi nét đẹp của con người kinh thành.
Vậy để gìn giữ những truyền thông tốt đẹp mà ông cha ta để lại mỗi chúng ta phải làm gì?
Điều này tùy thuộc vào bản thân mỗi người, tùy thuộc vào sự cố gắng để trở thành người Tràng An thanh lịch. Trong gia đình, chúng ta cần kính trọng người trên, nhường nhịn kẻ dưới. Trong quan hệ với hàng xóm, láng giềng, mỗi người đều cần tôn trọng lẫn nhau, cần cư xử đúng mực ăn nói, hành động lịch sự, nhã nhặn. Có việc gì xích mích xảy ra cũng phải bình tĩnh giải quyết không nên cãi cọ, chửi bới, ẩu đả. Ra ngoài thì ăn mặc sao cho đứng đắn. Đi làm, đi học thì nên mặc theo quy định cua cơ quan nhà trường. Ngày nghỉ, đi chơi, đi dự lễ hội hoặc theo lễ phục dân tộc, hoặc theo y phục mới cũ cần lựa chọn thích hợp với dáng người, với lứa tuổi… tránh đua đòi.
Ăn chơi theo mẫu mốt không thích hợp thực ra cũng không đẹp.
Tóm lại và hơn thế nữa là giữ gìn những truyền thống, phong tục tốt đẹp, không để chúng phôi pha dần theo ngày tháng. Chúng ta cần cố gắng tự rèn luyện để đất nước có thể tự hào với truyền thống mà qua chặng đường lịch sử lâu dài vẫn giữ được và lấy đó làm cơ sở để xây dựng một xã hội tươi đẹp, hạnh phúc và có thể sánh vai với các cường quốc năm châu
Tục ngữ có câu:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Em hãy giải thích và bình luận câu tục ngữ trên.
MB:
– Khái quát về kinh đô Thăng Long xưa với những truyền thống thanh lịch.
– Nêu vấn đề: nét đẹp của người kinh đô là thanh lịch.
TB:
1. Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ.
– Hoa nhài là loài hoa trắng, không rực rỡ nhưng hương thơm bền.
– Giá trị của hương thơm với vẻ đẹp phẩm chất.
– Người Tràng An: người kinh đô.
– Vẻ đẹp của người kinh đô cũng là vẻ đẹp bên trong: nếp sống thanh lịch, nhã nhặn, trong sáng, lịch sự,..
2. Giá trị của câu tục ngữ xưa trong cuộc sống thủ đô ngày nay.
– Vẫn giữ nguyên tính đúng đắn và cần được phát huy.
– Những quan niệm sai lệch hiện nay cần phê phán.
3. Suy nghĩ về việc giữ gìn truyền thống thanh lịch của người thủ đô.
– Vì sao ngày nay càng phải nhớ câu tục ngữ này?
– Muốn giữ gìn và phát huy truyền thống thanh lịch, chúng ta phải làm gì?
KB:
– Nhấn mạnh bản sắc văn hóa Việt Nam trong nếp sống thanh lịch truyền thống.
– Vai trò của nếp sống thanh lịch trong xây dựng thủ đô.
Ngày nay, trong thanh niên đang hình thành lối sống ăn chơi đua đòi. Họ chạy theo những thị hiếu nhất thời, những màu sắc lòe loẹt lạ mắt của nếp sống xô bồ mà lầm tưởng là hiện đại. Họ quên đi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ thường đánh giá con người bằng vẻ bề ngoài mà không nghĩ đến phẩm chất tâm hồn bên trong. Để nhắc nhở cháu con biết sống đẹp, các bậc cao niên ở Thủ đô ta thường hay nói tới câu ca dao xưa với vẻ rất tự hào:
Chẳng thơm củng thể hoa nhài.
Dẫu không thanh lịch củng người Tràng An,
Nói rằng “chẳng thơm”, nói rằng “không thanh lịch” chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người Thủ đô Thăng Long – Hà Nội: nét thanh lịch…
Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc, với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng, và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức nồng nàn mà chỉ thoang thoảng, nhưng lâu bền.
Còn Tràng An, vốn là kinh đô của muời hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kinh kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi tụ hội kết tinh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kinh kì; được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kinh kì, kinh đô nói chung của các nước vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ “người Tràng An” trong câu ca có nghĩa là nói kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối song rất tao nhã, thanh cao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lối sống đó đã trở thành bản sắc; dù có đi xuôi về ngược, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu nguời ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa “rừng hương”, ở đất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục thanh nhã, dáng đi nhẹ nhàng, ăn nói dịu dàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang dịu hiền mà vẫn lanh lợi tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém.
Ngày nay, tiếp thu nhiều luồng ánh sáng văn minh trên thế giới, người Hà Nội đích thực vẫn vừa thanh lịch vừa thông minh, sắc sảo hơn.
Nhưng trong quá trình “mở cửa” cũng không ít những sản phẩm văn hóa đồi trụy du nhập vào Thủ đô ta, làm xuất hiện không ít những lối sống kém văn hóa, xóa đi nét đẹp của con người kinh thành.
Vậy để gìn giữ những truyền thông tốt đẹp mà ông cha ta để lại mỗi chúng ta phải làm gì?
Điều này tùy thuộc vào bản thân mỗi người, tùy thuộc vào sự cố gắng để trở thành người Tràng An thanh lịch. Trong gia đình, chúng ta cần kính trọng người trên, nhường nhịn kẻ dưới. Trong quan hệ với hàng xóm, láng giềng, mỗi người đều cần tôn trọng lẫn nhau, cần cư xử đúng mực ăn nói, hành động lịch sự, nhã nhặn. Có việc gì xích mích xảy ra cũng phải bình tĩnh giải quyết không nên cãi cọ, chửi bới, ẩu đả. Ra ngoài thì ăn mặc sao cho đứng đắn. Đi làm, đi học thì nên mặc theo quy định cua cơ quan nhà trường. Ngày nghỉ, đi chơi, đi dự lễ hội hoặc theo lễ phục dân tộc, hoặc theo y phục mới cũ cần lựa chọn thích hợp với dáng người, với lứa tuổi… tránh đua đòi.
Ăn chơi theo mẫu mốt không thích hợp thực ra cũng không đẹp.
Tóm lại và hơn thế nữa là giữ gìn những truyền thống, phong tục tốt đẹp, không để chúng phôi pha dần theo ngày tháng. Chúng ta cần cố gắng tự rèn luyện để đất nước có thể tự hào với truyền thống mà qua chặng đường lịch sử lâu dài vẫn giữ được và lấy đó làm cơ sở để xây dựng một xã hội tươi đẹp, hạnh phúc và có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.
Ngày nay, trong thanh niên đang hình thành lối sống ăn chơi đua đòi. Họ chạy theo những thị hiếu nhất thời, những màu sắc lòe loẹt lạ mắt của nếp sống xô bồ mà lầm tưởng là hiện đại. Họ quên đi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ thường đánh giá con người bằng vẻ bề ngoài mà không nghĩ đến phẩm chất tâm hồn bên trong. Để nhắc nhở cháu con biết sống đẹp, các bậc cao niên ở Thủ đô ta thường hay nói tới câu ca dao xưa với vẻ rất tự hào:
Chẳng thơm củng thể hoa nhài.
Dẫu không thanh lịch củng người Tràng An,
Nói rằng “chẳng thơm”, nói rằng “không thanh lịch” chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người Thủ đô Thăng Long – Hà Nội: nét thanh lịch…
Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc, với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng, và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức nồng nàn mà chỉ thoang thoảng, nhưng lâu bền.
Còn Tràng An, vốn là kinh đô của muời hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kinh kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi tụ hội kết tinh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kinh kì; được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kinh kì, kinh đô nói chung của các nước vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ “người Tràng An” trong câu ca có nghĩa là nói kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối song rất tao nhã, thanh cao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lối sống đó đã trở thành bản sắc; dù có đi xuôi về ngược, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu nguời ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa “rừng hương”, ở đất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục thanh nhã, dáng đi nhẹ nhàng, ăn nói dịu dàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang dịu hiền mà vẫn lanh lợi tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém.
Ngày nay, tiếp thu nhiều luồng ánh sáng văn minh trên thế giới, người Hà Nội đích thực vẫn vừa thanh lịch vừa thông minh, sắc sảo hơn.
Nhưng trong quá trình “mở cửa” cũng không ít những sản phẩm văn hóa đồi trụy du nhập vào Thủ đô ta, làm xuất hiện không ít những lối sống kém văn hóa, xóa đi nét đẹp của con người kinh thành.
Vậy để gìn giữ những truyền thông tốt đẹp mà ông cha ta để lại mỗi chúng ta phải làm gì?
Điều này tùy thuộc vào bản thân mỗi người, tùy thuộc vào sự cố gắng để trở thành người Tràng An thanh lịch. Trong gia đình, chúng ta cần kính trọng người trên, nhường nhịn kẻ dưới. Trong quan hệ với hàng xóm, láng giềng, mỗi người đều cần tôn trọng lẫn nhau, cần cư xử đúng mực ăn nói, hành động lịch sự, nhã nhặn. Có việc gì xích mích xảy ra cũng phải bình tĩnh giải quyết không nên cãi cọ, chửi bới, ẩu đả. Ra ngoài thì ăn mặc sao cho đứng đắn. Đi làm, đi học thì nên mặc theo quy định cua cơ quan nhà trường. Ngày nghỉ, đi chơi, đi dự lễ hội hoặc theo lễ phục dân tộc, hoặc theo y phục mới cũ cần lựa chọn thích hợp với dáng người, với lứa tuổi… tránh đua đòi.
Ăn chơi theo mẫu mốt không thích hợp thực ra cũng không đẹp.
Tóm lại và hơn thế nữa là giữ gìn những truyền thống, phong tục tốt đẹp, không để chúng phôi pha dần theo ngày tháng. Chúng ta cần cố gắng tự rèn luyện để đất nước có thể tự hào với truyền thống mà qua chặng đường lịch sử lâu dài vẫn giữ được và lấy đó làm cơ sở để xây dựng một xã hội tươi đẹp, hạnh phúc và có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Vậy thế nào là người thanh lịch? Người thanh lịch là con người trong sáng (thanh) và lịch sự (lịch). Con người biết nói hai từ “xin lỗi” và “cảm ơn” đúng lúc, không nhỏ nhen tầm thường và ứng xử tốt.
Tại sao người Hà Nội lại được tiếng là thanh lịch? Vì từ thời nước Đại Việt ta nghìn năm trước, nơi đây có trường học lớn nhất nước. Nơi đây tổ chức các khoa thi, tụ tập anh tài từ bốn phương tám hướng. Nơi đây như có ánh sáng, có khí thiêng sông núi kết tinh, như Bắc Đẩu rạng rỡ chiếu khắp giang sơn đất nước. Chính vì thế mà nhắc tới Thăng Long - Hà Nội, nhắc tới người Hà Nội, mọi người như nhắc tới một nơi đẹp đẽ, nhắc tới những người thông minh, thanh lịch. Thật diễm phúc cho ai được sinh ra và lớn lên trên đất Hà Nội, để trở thành người Hà Nội. Nhưng Hà Nội ngày hôm nay khác với Hà Nội ngày xưa. Chưa nói tới Hà Nội xa xưa của thời câu ca dao ra đời, chỉ xin so với Hà Nội những năm khói lửa chống Mỹ thôi, đã thấy Hà Nội nay mất đi không ít những nét đáng quý của con người Hà Nội. Người Hà Nội thuở ấy không sợ đạn bom, liều thân mình vì người khác, đối xử với nhau tốt đẹp. Họ có tấm lòng mộc mạc thôi nhưng sao mà ấm áp, sao mà chỉ gặp một lần cũng nhớ mãi và giữa một thời bom dội, họ luôn đứng thẳng, từ trong sâu thẳm nơi trái tim tràn ngập một niềm tin: “Chân ta bước lòng ung dung tự hào, kìa nòng pháo vẫn vươn lèn trời cao!”. Nên “Hà Nội đó niềm tin yêu hi vọng, của núi sông hôm nay và mai sau”. Người Hà Nội ngày nay khá phức tạp. Có những người sống vì bạo lực và cũng vì bạo lực mà bỏ mạng uổng phí. Có kẻ suốt ngày trong ánh đèn mờ ảo của những vũ trường. Song cũng rất may là còn có rất nhiều người hiền lành tử tế, chăm chỉ. Nhờ họ mà đất Hà Nội, nếp sống người Hà Nội vẫn đẹp.
Không thể có một đất nước hạnh phúc khi không có cuộc sống an bình ổn định trên đất nước ấy. Mà cơ sở làm nên sự an bình ấy là cuộc sống có văn hóa. Cuộc sống văn hóa mới không thể cắt lìa với cội nguồn. Có lẽ vì thế mà những năm tháng gần đây, nhà trường và xã hội đều quan tâm giữ gìn và phát huy những truyền thông văn hóa dân tộc. Thủ đô ta cũng trong trào lưu đó. Một trong những nội dung đó là chúng ta có quan tâm giữ gìn và phát huy nếp sống thanh lịch của người thủ đô. Bởi thế chúng thường được nghe nhắc nhiều đến câu ca dao xưa, vốn là niềm tự hào của thủ đô.
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dầu không thanh lịch cũng người Tràng An.