Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
c, Bố cục 3 phần cân đối
Mở bài (từ đầu… đáng trân trọng
Thân bài: đoạn 2, 3, 4, 5
Kết bài: đoạn còn lại
c. Trong các tác phầm như thơ, truyện, kịch có thể sử dụng yếu tố nghị luận.
Ví dụ :Trong đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán, Nguyễn Du đã vận dụng phương thức nghị luận qua lời lập luận gỡ tội của Hoạn Thư:
- Là đàn bà nên ghen tuông là chuyện bình thường.
- Hoạn Thư cũng đối xử tốt với Kiều, khi Kiều trốn cũng không đuổi theo.
- Hoạn Thư và Kiều chung chồng => đều là nạn nhân chế độ đa thê
- Hoạn Thư lỡ gây đau khổ cho Kiều, giờ chỉ biết trông chờ vào sự khoan dung của nàng.
=> Lập luận chặt chẽ, logic, khiến Kiều không thể xử phạt.
* Trong văn tự sự, yếu tố nghị luận là yếu tố phụ, mục đích sử dụng là làm cho đoạn văn thơ thêm sâu sắc. Yếu tố này được sử dụng khi người viết muốn người nghe suy nghĩ về một vấn đề nào đó, thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận, làm câu chuyện tăng thêm phần triết lí.
Trong bài thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” của Hồ Chí Minh, âm điệu nhẹ nhàng, trong trẻo của thiên nhiên được thể hiện thật tinh tế qua cách sử dụng điệp thanh “tiếng suối”, “trong”, “xa”. Những âm thanh ngân dài của vần “a” và thanh bằng đã tạo nên cảm giác êm dịu, thanh thoát, gợi lên không gian yên bình giữa núi rừng Việt Bắc. Qua điệp thanh ấy, ta như cảm nhận được tâm hồn thi nhân hòa quyện với thiên nhiên, ung dung và an nhiên giữa cuộc sống gian lao. Từ đó, em càng thêm khâm phục Bác – một con người dù trong hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ được tinh thần lạc quan, yêu đời và yêu thiên nhiên tha thiết.
Ví dụ văn bản: “Qua Đèo Ngang” – Bà Huyện Thanh Quan Nguyên văn: Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Dừng chân đứng lại: trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta. Phân tích các phương diện: Bố cục (cách chia đoạn): Hai câu đầu: Miêu tả cảnh thiên nhiên ở Đèo Ngang. Hai câu tiếp: Hình ảnh con người xuất hiện, thưa thớt, hiu quạnh. Hai câu 5–6: Tâm trạng gợi nhớ nước, thương nhà. Hai câu cuối: Cô đơn, nỗi buồn riêng dồn nén. → Bố cục theo trình tự: Cảnh → Người → Tình cảm → Tâm trạng. Kết cấu: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, kết cấu chặt chẽ. Có đối ở cặp câu 3–4 (lom khom/lác đác), 5–6 (nhớ nước/ thương nhà). Ngôn ngữ: Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, trang trọng, có tính ước lệ. Từ láy giàu gợi hình: lom khom, lác đác. Biện pháp tu từ: Điệp từ: “chen... chen”, “nhớ nước/ thương nhà” → nhấn mạnh cảm xúc. Đối: vừa tạo nhạc điệu, vừa làm nổi bật cảnh thưa vắng, tâm trạng buồn. Nhân hoá: “con quốc quốc”, “cái gia gia” → gắn tiếng chim với nỗi lòng. Vần: Vần bằng, gieo ở chữ cuối câu 1, 2, 4, 6, 8: tà – hoa – nhà – gia – ta. Nhịp: Thường là nhịp 4/3 hoặc 2/2/3, tạo sự khoan thai, trầm buồn. Ví dụ: Bước tới Đèo Ngang // bóng xế tà (4/3).