K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Khi nghiên cứu sự vi phạm về chất lượng của nền kinh tế và nền sản xuất ở các nước đang phát triển, tôi nhận ra rằng nguyên nhân chính là ở các nước này, nhân quyền chưa được tôn trọng. Có rất nhiều sự việc cho thấy điều ấy. Tại sao có hiện tượng bỏ melamine vào sữa, tại sao có hiện tượng nhiễm độc thực phẩm? Bởi vì con người không được giáo dục về nhân quyền, bởi vì con người chưa được tôn trọng. Hiện nay, chúng ta vi phạm những lợi ích của nông thôn, nông dân để đổi lấy một sự nghiệp công nghiệp hoá không có thành tựu. Về cơ bản, người tạo ra toàn bộ vinh quang cho hoạt động xuất khẩu của người Việt vẫn là người nông dân và người công nhân bán chuyên nghiệp có nguồn gốc nông dân, đó là những lực lượng cửu vạn trùng trùng điệp điệp. Và chính cuộc di dân vĩ đại đến các xí nghiệp ấy đã tạo ra các sản phẩm xuất khẩu mà chúng ta kể thành tích là xuất siêu. Bây giờ thử tìm xem liệu có người đô thị nào chấp nhận đi làm thợ may xuất khẩu đế lấy 700 – 800 nghìn/tháng không? Không có. Giai cấp công nhân quốc doanh mà chúng ta vẫn tự hào không tạo ra bất kỳ sản phẩm gì để xuất khẩu, còn giai cấp công nhân tạo ra thành tựu đổi mới, tạo ra thành tích xuất khẩu là giai cấp công nhân cửu vạn, đó là giai cấp hình thành bằng sự tàn phá cơ cấu xã hội nông thôn. Chúng ta thử nghĩ xem, trong điều kiện khủng hoảng, người nông dân không kiếm được công việc ở các đô thị công nghiệp nữa thì họ biết về đâu? Họ không thể quay trở về các sân golf được. Phải nói thật rằng đấy là một tình cảnh đáng khóc. Nhìn sang nước Nhật, chúng ta có thể thấy thái độ đối với con người của họ rất khác. Người Nhật không có những dòng di cư ngược như vậy, người Nhật chín chắn đến mức họ tạo ra giai cấp công nhân gắn bó với xí nghiệp đến mức thoái hoá. Con người lưu luyến công ty đến mức mấy thế hệ như vậy thì tức là chất lượng nhân văn trong chính sách xây dựng các công ty phải rất lớn. Tuy sự gắn bó mấy thế hệ ấy là tiền đề của sự thoái hoá năng lực sáng tạo và họ buộc phải cải cách lại một chút, nhưng về mặt công nghệ con người là họ đúng.
Khi không tôn trọng nhân quyền và không giáo dục con người về nhân quyền thì người ta không thể sản xuất ra hàng hoá có chất lượng để phục vụ con người. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thấy sự thiếu nhân quyền ảnh hưởng đến chất lượng của nền kinh tế và nền sản xuất như thế nào. Vì thế, học người Nhật, chúng ta còn phải học thái độ tôn trọng con người, tôn trọng nhân dân của họ. Điều này thể hiện rõ trong chính sách ưu tiên chất lượng hàng nội địa của Nhật Bản. Hàng nội địa Nhật Bản bao giờ cũng tốt hơn hàng xuất khẩu. Người Nhật ở nước ngoài thường về nước để mua đồ dùng. Thái độ, chính sách tôn trọng quyền ưu tiên của người sản xuất như vậy chúng ta không có. Người làm ra sản phẩm phải được ăn cái ngon nhất, dùng cái tốt nhất. Vì con người không quen sử dụng cái tốt nhất thì không thể sản xuất ra cái tốt nhất được. Trong lúc ô tô lắp ráp trong nước không bán được, chúng ta vẫn nhập khẩu những xe tốt cùng hãng ở nước ngoài về. Bởi vì Toyota xuất Mỹ khác Toyota xuất Châu Âu, Toyota xuất Châu Âu thì khác Toyota xuất Bắc Á, cuối cùng mới là Toyota xuất khẩu khu vực Đông Nam Á.

Chỉ nguyên một chính sách sai là tạo ra một dòng nhập khẩu, tức là tạo ra lỗ hổng để nhập siêu. Cho nên khắc phục nhập siêu không phải là kìm hãm hàng nhập khẩu, mà là ưu tiên những hàng hoá chất lượng được bán với giá hợp lý trong thị trường nội địa. Chú trọng xây dựng thị trường nội địa, chú trọng xây dựng nền kinh tế bản thể để tạo ra sự ổn định của đời sống xã hội chính một trong những cách thức quan trọng nhất tạo ra tiền đề căn bản để con người được tôn trọng.

Kết luận

Giai đoạn từ năm 2009 trở đi được coi là một giai đoạn nhiều thử thách đối với Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trước những khó khăn thách thức của khủng hoảng, của hội nhập quốc tế mà chúng ta không có một bộ máy đủ chuyên nghiệp, không có một tổ hợp kiến thức đủ chuyên nghiệp, không có một sự chuyển động linh hoạt đủ chuyên nghiệp thì chúng ta không thể ứng phó được, không thể thành công được. Cần phải nhận thức được đòi hỏi ấy. Để làm được điều đó, chúng ta không có cách nào khác ngoài một sự cải cách, đổi thay quyết liệt.
Chúng ta cần học hỏi những bí quyết, những bài học mà các quốc gia phát triển đi trước đã làm. Nhật Bản là một tấm gương, chúng ta học Nhật Bản để phát triển, và hơn thế, xây dựng mối quan hệ tốt với Nhật Bản chính là một trong những yếu tố giúp chúng ta cân bằng với các quan hệ quốc tế quan trọng và khó khăn khác trong khu vực.

Người Nhật có những đặc tính, những cách thức, những ưu điểm mà một dân tộc muốn phát triển không thể không có những thứ đó. Có thể nói, lịch sử hiện đại hoá nền chính trị, nền kinh tế và nền văn hóa Nhật Bản được tiến hành gần như song song hoặc nếu có chậm thì chỉ chậm hơn một chút so với việc thống nhất nước Mỹ. Còn ở Việt Nam chúng ta, mặc dù có Tự Đức là một vị vua tương đối tích cực, ông cũng có ý thức nhất định về việc đổi mới nền chính trị của đất nước, nhưng những đổi mới của ông mới chỉ là những dấu hiệu cải tiến về hình thức chứ chưa đạt đến sự thay đổi về bản chất. Trong khi đó, vua Minh Trị của Nhật Bản đã làm những cuộc cải cách lớn và triệt để cho nền chính trị Nhật Bản. Từ những cuộc cải cách này, Nhật Bản nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc của thế giới. Đấy là một minh chứng cho thấy, chúng ta phải mạnh dạn nói rằng Việt Nam muốn ra khỏi tình trạng lạc hậu như hiện nay thì không có cách gì ngoài cải cách chính trị. Cho nên, học người Nhật trước hết là học tính quyết liệt trong cải cách đời sống chính trị, học sự dũng cảm của người Nhật trong cải cách chính trị theo hướng thừa nhận dân chủ.

Cải cách chính trị là động lực quan trọng nhất, cơ bản nhất, nền tảng nhất và quyết định nhất đối với toàn bộ tiến trình phát triển, và phải cải cách chính trị theo hướng dân chủ hoá một cách hợp lý. Tại sao tôi lại dùng chữ "hợp lý"? Bởi vì đấy là một việc đòi hỏi đầu tư rất tốn kém. Để có được nền chính trị tiên tiến, trước hết chúng ta phải đầu tư vào giáo dục, đầu tư vào việc xây dựng các thể chế, đầu tư vào việc cải cách các cơ sở hạ tầng cơ bản. Tất cả những việc ấy đều tốn kém cho nên chúng ta không thể làm ồ ạt được. Làm cho tiên tiến một khu vực nhưng trong khi đó không đầu tư thoả đáng để làm tiên tiến các khu vực khác thì các khu vực được ưu tiên ấy trở thành miếng mồi xâu xé và không chừng nó còn gây mất đoàn kết xã hội.

Nhiều người cho rằng, trong khi cải cách chính trị là cải cách ở tầng trên và bao giờ cũng chậm hơn ở dưới thì người dân phải biết lách luật để tạo ra những điều kiện cho sự thay đổi từ dưới lên, ví dụ khoán 10 là cách lách luật của người nông dân. Nhưng tôi cho rằng, đối với thân phận của một dân tộc, giải pháp phải có chiều dài lịch sử thoả đáng và phải dựa trên những nguyên lý triết học thoả đáng. Không thể tạo ra một lộ trình phát triển ổn định của một dân tộc bằng cách nhặt những yếu tố hợp lý mà nhân dân nghĩ ra. Những sự lách luật như vậy có thể đạt được một số kết quả có tính chất thực dụng, nhưng nó tàn phá nền văn hoá tôn trọng nhà nước và pháp luật, nó tạo ra một xã hội cơ hội và vô kỷ luật. Nó biến nhà nước trở thành một kẻ chờ đợi sáng kiến xã hội và cung cấp một dịch vụ để hợp pháp hoá những cái đó, và gọi đấy là thành tựu chính trị. Làm sao gọi những thành tựu được tạo ra trong trạng thái vô chính phủ của đời sống xã hội là tiến bộ xã hội được? Nếu chúng ta tự hào vì việc ấy thì chính chúng ta tự xác nhận mình là những kẻ phản tiến bộ. Tại sao chúng ta lại có một hệ thống chính sách để chúng ta phải lách nó? Tại sao sự tiến bộ của chúng ta lại phải được tạo ra bằng cách phá vỡ kỷ luật nhà nước? Nếu xét về phương diện lý thuyết thì đấy là những giải pháp hoàn toàn không có giá trị phổ quát. Bởi đem so những lợi ích thu được từ việc lách luật với sự tàn phá hiệu lực của nhà nước, cái nào quan trọng hơn? Một dân tộc trên quy mô nhà nước cũng như trên quy mô các bộ phận nhân dân mà được đào tạo trong những tình huống vô kỷ luật như vậy thì nó phá vỡ tiêu chuẩn cao nhất của lịch sử phát triển văn minh nhân loại, đó là sự tôn trọng các trật tự công cộng. Vì thế, cải cách chính trị không phải được tiến hành bằng những sự lách luật, nó phải được hoạch định trên cơ sở những nghiên cứu khoa học và những mục tiêu cụ thể.

Nhiều người e ngại thừa nhận dân chủ thì mất dần giá trị, bản sắc của nền văn hoá của mình, mất cả quyền lãnh đạo của mình, đấy là sự suy nghĩ của những kẻ lười nhác.

Chúng ta đã thấy người Nhật không hề mất gì. Người Nhật trở thành một quốc gia phát triển nhờ sự dân chủ hoá xã hội của họ. Nếu không xác định được mục tiêu của cải cách chính trị ở Việt Nam là để dẫn tới dân chủ thì mọi cuộc cải cách, mọi sự đổi mới đều không có ý nghĩa. Dân chủ chính là xác lập những quy tắc công khai để kiểm soát quyền lực của nhà nước, bởi nếu nhà nước mà có quyền lực tuyệt đối thì mọi cố gắng đều không thể mang lại sự thay đổi nào đáng kể mà chỉ để giải quyết những vấn đề lặt vặt trước mắt mà thôi.

Trong xã hội chúng ta hiện nay, có một số ý kiến mặc định rằng đặc tính của người Việt Nam là quá tự do, không chịu chấp hành quy tắc, khi bị chỉ trích, người Việt Nam thường phản ứng trước mà không chịu lắng nghe. Trong khi đó đặc tính của người Nhật là rất quy chuẩn và luôn tuân thủ nguyên tắc. Với những đặc điểm ấy, phải chăng sẽ rất khó để người Việt áp dụng được những bài học của người Nhật. Tôi không nghĩ vậy. Chúng ta đã có những người Việt viết hoa, chúng ta đã có những người Việt có giá trị. Nếu tiếp xúc với những thế hệ trí thức được đào tạo vào những năm 30 của thế kỷ trước, bất kỳ ai cũng có thể thấy đấy là những mẫu mực về nhân cách. Tôi có mặt ở Hà Nội ngay sau năm 1954, tôi biết người Việt Nam ở những năm 50 của thế kỷ trước không như vậy, và cả trước đó cũng thế. Người Việt Nam đã từng có những nề nếp, những quy chuẩn cực kỳ chặt chẽ. Trong gia đình, những hành động từ lúc ăn cơm cho đến lúc đi ngủ, lúc ngủ dậy, lúc uống trà, đều có các tiêu chuẩn văn minh của nó. Người Việt Nam chúng ta trước những năm 50 đã biết khẳng định giá trị bằng chất lượng các dịch vụ của mình. Chúng ta đã từng có một nền văn minh đòi hỏi chất lượng các dịch vụ: chất lượng dịch vụ làm con, chất lượng dịch vụ làm cha, chất lượng dịch vụ làm mẹ, chất lượng dịch vụ làm vợ, chất lượng dịch vụ làm quân, chất lượng dịch vụ làm quan. Tất nhiên nó cũng thay đổi cùng với thời gian, đặc biệt vào thời kỳ sau này, nó thay đổi với tốc độ tha hoá rất nhanh. Sau Đổi mới, từ năm 1986 đến 1995, chúng ta đi từ một xã hội nhốn nháo sang một xã hội tương đối nề nếp. Lúc ấy, chúng ta có một không gian chính trị chưa thể gọi là hoàn toàn tiến bộ, nhưng đấy là một không gian có nề nếp. Nhưng từ 1995 đến bây giờ, dường như chúng ta không giữ được như thế nữa, chúng ta bắt đầu tha hoá lại. Gần đây xã hội của chúng ta trở nên hết sức nhộn nhạo, ngay cả kỷ luật quan trọng nhất là kỷ luật của đời sống chính trị cũng có nhiều vấn đề. Chúng ta đang sống trong một không gian chính trị không nề nếp, trong đó, nhiều người không ý thức được nghĩa vụ, trách nhiệm và các giới hạn.

Tuy nhiên, hiện tượng nhốn nháo hiện nay là sản phẩm của một giai đoạn văn hoá, nó không phải là sản phẩm của riêng dân tộc Việt Nam, nó không phải là đặc tính của bất kỳ dân tộc nào, nó là kết quả của sự thiếu tự do. Chúng ta bừa bãi chứ không phải tự do. Tự do có cả mặt quyền và mặt nghĩa vụ. Tự do là một không gian đã được nhân tạo hoá để nâng đỡ cảm hứng sống và phát triển, nhưng đồng thời cũng kiểm soát sự lộng hành. Cho nên phải nói rằng về mặt hình thức, đấy là một hiện tượng suy thoái như những gì chúng ta quan sát được, còn về bản chất, sự suy thoái ấy là do chúng ta đã phá vỡ các tiêu chuẩn văn minh mà xã hội từng có bằng chính trị. Chính trị đóng vai trò rất lớn trong việc xúc tiến sự tha hoá cũng như sự tiến bộ trong đời sống văn hoá, trong đời sống dân sự, cả trong nề nếp sinh hoạt của khu vực công cũng như khu vực tư. Vì thế, cần phải cải cách thoả đáng đời sống chính trị để xây dựng lại ý thức tôn trọng trật tự công cộng, trong đó bao gồm cả trật tự sinh hoạt và trật tự văn hoá. Người ta phải biết kính trọng người cao tuổi, biết thương yêu trẻ con, biết kính trọng người tài, biết xấu hổ về việc mình dốt. Tóm lại phải biết hành động mà nền tảng của hành động là chính trị.

Tôi nghĩ rằng không có bất kỳ cách gì để giữ gìn nề nếp, để giữ gìn nhân cách, để xây dựng một xã hội nề nếp nếu không bắt đầu từ cải cách chính trị. Không có cách gì trì hoãn cải cách chính trị mà có thể phát triển đời sống tinh thần của dân tộc để chúng ta trở thành một dân tộc đáng kính trọng. Nếu chúng ta không nhận ra điều ấy thì chúng ta không biết cách để phục hồi lại những giá trị đáng quý của dân tộc mình. Tất cả những việc đấy, người Nhật đã làm như một tấm gương. Người Nhật tiến hành dân chủ hoá xã hội nhưng trong mọi cải cách, người Nhật vẫn giữ được những trật tự khẳng định tiêu chuẩn và khẳng định chất lượng của nền văn hoá Nhật Bản, vẫn giữ được chữ "Lễ". Lễ như một quy tắc giao tiếp để khẳng định những tiêu chuẩn xã hội. Tuy "Lễ" chỉ là hình thức nhưng chúng ta buộc phải làm và phải bắt đầu từ đấy.

Học người Nhật, chúng ta phải học tính cội rễ của họ trong cải cách chứ không phải học việc lắp ráp những yếu tố có vẻ hợp lý vào thời điểm hiện nay. Học người Nhật là học cách tổ chức ra nền tự do trong những điều kiện nó không xâm hại và không làm biến mất những đặc trưng văn hoá. Tự do chính là công nghệ để trả lại cho con người năng lực hình thành những nhân cách thoả đáng với tương quan giữa họ và những dân tộc khác trên thế giới. Người Nhật biết tổ chức ra tự do trong điều kiện văn hoá của họ và họ thành công. Người Nhật là một trong những dân tộc thông minh để giữ được mình mà vẫn tự do, đấy là kinh nghiệm lớn nhất. Và những kinh nghiệm của người Nhật chỉ cho chúng ta thấy rằng, tự do không tàn phá bất kỳ phẩm hạnh nào, đặc tính nào của bất kỳ dân tộc nào, tự do chỉ xúc tiến để những đặc tính ấy, phẩm hạnh ấy đạt đến ngưỡng phát triển của nó một cách tự nhiên.

Chúng ta đều biết rằng, sau chiến tranh thế giới thứ hai, là một nước thua trận, bị tàn phá nặng nề, Nhật Bản có nỗi đau khổ, nhục nhã của một nước thua trận, thậm chí đã có hàng vạn người Nhật tự sát. Nhưng Nhật Bản là một dân tộc kỳ lạ, họ thắng ngay sau khi thua. Gạt bỏ nỗi đau của kẻ thua trận và thừa nhận những sai lầm của mình, người Nhật dồn toàn tâm toàn ý xây dựng lại đất nước của mình từ sau thế chiến thứ hai. Họ sáng suốt đến mức chấp nhận trở thành một quốc gia không còn quyền lực chính trị. Họ đã từ chối một số trách nhiệm chính trị, hay nói cách khác, họ ra khỏi cái tiếng của cường quốc chính trị để làm giàu cho đất nước của mình. Họ "cho thuê" nền chính trị một thời gian để làm việc của mình, và bây giờ, họ được mời trở lại như một cường quốc chính trị, được khuyến khích, được thúc giục trở thành một cường quốc chính trị.

 

Học tập người Nhật là học tập sự kiên nhẫn của họ. Từ chối một số trách nhiệm chính trị đối với thế giới nhưng không phải người Nhật không ý thức được nghĩa vụ của họ đối với các vấn đề phát triển. Năm 1985, trong triển lãm xuất khẩu của Nhật ở Tokyo, ông Kyosera - chủ tịch hãng đồ sứ lớn nhất của Nhật có một bài diễn văn khai mạc mà tôi không bao giờ quên được. Trong đó, khi nói về khoa học công nghệ, ông ấy nói rằng người Nhật đã sử dụng những tiến bộ kỹ thuật của thế giới cho sự phát triển của nước Nhật, và đã đến lúc nước Nhật phải trả lại cho thế giới những gì mà nước Nhật đã lấy. Cho nên nước Nhật phải tiên phong, phải đầu tư vào những nghiên cứu cơ bản để đóng góp nghĩa vụ của mình trong việc phát triển nền khoa học thế giới. Nước Nhật có những con người ý thức được cả những chuyện như vậy. Chúng ta không phải không có những người tiên phong trong nhận thức, nhưng đôi khi chúng ta nhìn vào địa vị của người ta và bảo rằng anh không xứng để nói lên điều ấy mà không biết rằng, với tư cách là một nhà khoa học, người ta phải biết vượt qua các giới hạn. Nếu không có những con người bứt phá ra khỏi các giới hạn thông thường thì làm sao dân tộc chúng ta phát triển được? Người Nhật khiêm tốn nhưng họ đi hết từ giới hạn này đến giới hạn khác, họ phá vỡ mọi giới hạn để có những mặt vượt trên cả nước Mỹ, mặc dù họ ngoan ngoãn nằm dưới cái ô bảo hộ chính trị của nước Mỹ. Và người Mỹ kính trọng người Nhật vì họ biết rằng, ngoan ngoãn nấp dưới cái ô chính trị của nước Mỹ là một sự kiên nhẫn khổng lồ của một dân tộc có niềm tự hào ghê gớm. Học người Nhật chúng ta phải học cái tỷ trọng của lòng tự trọng dân tộc và cách thể hiện cơ bản là sự táo bạo trong ý nghĩ, sự kiên nhẫn và chăm chỉ trong làm việc.

Chúng ta chưa thể nói chuyện học kỹ năng, vì chúng ta chưa có đủ phẩm chất để học ngay kỹ năng được. Chúng ta phải học cách hun đúc ý chí, hun đúc nhân cách của con người. Khi không giáo dục con người một cách toàn diện thì chúng ta sẽ có một cấu trúc xã hội không lành mạnh. Trên cơ sở cấu trúc không lành mạnh ấy thì không thể thiết kế ra chương trình phát triển nào lành mạnh được. Hiện nay chúng ta chưa có đội ngũ những nhà công nghệ thật, chúng ta cũng chưa có đội ngũ những nhà tài chính thật, vì thế chúng ta chưa tạo ra được lực lượng trụ cột cho nền kinh tế Việt Nam. Nhưng người Việt Nam có năng lực phục vụ những trụ cột, người Việt Nam nếu có được một hệ thống giáo dục tốt thì sẽ cung cấp nhân công rất tốt, nhân công như một phương tiện kinh tế để tạo ra sự phát triển của Việt Nam. Chúng ta hãy kiên nhẫn chờ đợi một giai đoạn để củng cố xã hội dưới dạng đào tạo ra những người lao động có chuẩn mực về văn hoá, có chuẩn mực về xã hội, có chuẩn mực về giao tế, có chuẩn mực về nghề nghiệp, trên cơ sở đấy chúng ta mới có thể nói tới các công ty thật được. Nói cách khác, trong khi chưa cạnh tranh được với tư cách là công ty thì người Việt Nam phải cạnh tranh với tư cách là người lao động. Khi xã hội chưa tham gia cạnh tranh với tư cách của những người lao động cá thể thì mọi công ty chỉ là những kẻ phiêu lưu ở sòng bạc thế giới mà thôi. Chúng ta chưa có đủ phẩm chất để cạnh tranh với thế giới. Có cạnh tranh chẳng qua là người thợ của chúng ta khéo, đóng được những đôi giầy theo đúng tiêu chuẩn, may được những cái áo đúng chuẩn mực, nhưng đấy mới chỉ là xuất khẩu những năng lực thô sơ của người Việt, chưa có sản phẩm Việt Nam. Chúng ta chưa có năng lực để tạo ra cả công nghiệp lẫn tài chính. Vì thế, chúng ta cần học tập ý chí của người Nhật, ý chí của họ hình thành và phát triển trong sự im lặng tuyệt đối của một dân tộc tự trọng. Không có sự yên tĩnh thì không có sự phát triển đích thực. Cái sai lầm của chúng ta là cứ tưởng thổi kèn to và đánh trống lớn thì tạo ra sự phát triển, đấy là sai lầm của một giai đoạn văn hoá.

15 tháng 1 2018

Câu 1

Hỏi đáp Địa lý

15 tháng 1 2018

* ASEAN và các quốc gia Thành viên hoạt động theo các nguyên tắc dưới đây:

1. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các Quốc gia thành viên;

2.Cùng cam kết và chia sẻ trách nhiệm tập thể trong việc thúc đẩy hòa bình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực;

3. Không xâm lược, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hay các hành động khác dưới bất kỳ hình thức nào trái với luật pháp quốc tế;

4. Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình;

5. Không can thiệp vào công việc nội bộ của các Quốc gia thành viên ASEAN;

6. Tôn trọng quyền của các Quốc gia Thành viên được quyết định vận mệnh của mình mà không có sự can thiệp, lật đổ và áp đặt từ bên ngoài;

7. Tăng cường tham vấn về các vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của ASEAN;

8. Tuân thủ pháp quyền, quản trị tốt, các nguyên tắc của nền dân chủ và chính phủ hợp hiến;

9. Tôn trọng các quyền tự do cơ bản, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, và đẩy mạnh công bằng xã hội;

10. Đề cao Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế bao gồm cả luật nhân đạo quốc tế mà các Quốc gia Thành viên đã tham gia;

11. Không tham gia vào bất kỳ một chính sách hay hoạt động nào, kể cả việc sử dụng lãnh thổ của một nước, do bất kỳ một Quốc gia Thành viên ASEAN hay ngoài ASEAN hoặc đối tượng không phải là quốc gia tiến hành, đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự ổn định chính trị và kinh tế của các Quốc gia Thành viên ASEAN;

12. Tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của người dân ASEAN, đồng thời nhấn mạnh những giá trị chung trên tinh thần thống nhất trong đa dạng;

13. Giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong các quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội với bên ngoài, đồng thời vẫn duy trì tính chủ động, hướng ra bên ngoài, thu nạp và không phân biệt đối xử; và

14. Tuân thủ các nguyên tắc thương mại đa biên và các cơ chế dựa trên luật lệ của ASEAN nhằm triển khai có hiệu quả các cam kết kinh tế, và giảm dần, tiến tới loại bỏ hoàn toàn các rào cản đối với liên kết kinh tế khu vực, trong một nền kinh tế do thị trường thúc đẩy.

22 tháng 2 2018

Nguyên nhân:

– Do chế độ bóc lột và chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp trong hơn 80 năm.
– Do nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người.
– Quản lí lỏng lẻo, tự do khai thác bừa bãi (than, vàng, sắt, thiếc, đá quý…)
– Kĩ thuật khai thác lạc hậu, hàm lượng quặng còn nhiều trong chất thải.
– Thăm dò đánh giá không chính xác về trữ lượng, hàm lượng, phân bố làm cho khai thác gặp khó khăn và đầu tư lãng phí.

Thực trạng:

– Khoáng sản là tài nguyên không thể phục hồi
– Hiện nay 1 số khoáng sản có nguy cơ bị cạn kiệt, sử dụng còn lãng phí.
– Việc khai thác một số khoáng sản đã làm ô nhiễm môi trường

Biện pháp bảo vệ:
– Phải khai thác hơp lí, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả.
– Cần thực hiện nghiêm luật khoáng sản của Nhà nước ta.

22 tháng 2 2018

C4.

Tài nguyên biển của nước ta gồm các loại chính như:

+ Tài nguyên sinh vât

+Tài nguyên phi sinh vật

+ Tài nguyên du lịch

+ Tài nguyên giao thông vận tải

8 tháng 1 2019

Hỏi đáp Địa lý

Bạn lưu ý lần sau đặt câu hỏi nên thể hiện thiện ý tí, viết câu hỏi có dấu hộ

17 tháng 12 2017

Ai giup minh voi a mai thi roi

13 tháng 1 2018

b​ạn​ mở​ bài​ 7 và 8 nhavui

10 tháng 3 2019

Tham khảo:

Vị trí địa lí ảnh hưởng tới khí hậu
+ Do nước ta nằm hoàn toàn trong vùng nhiệt đới ở nửa cầu Bắc nên khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới, có nền nhiệt độ cao ;
+ Nước ta lại nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa châu Á nên khí hậu nước ta có hai mùa rõ rệt: mùa đông bớt nóng và khô còn mùa hạ nóng và mưa nhiều;
+ Đặc biệt nước ta tiếp giáp với Biển Đông nên khí hậu chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, biển là nguồn dự trữ dồi dào về nhiệt ẩm, vì thế mà khí hậu nước ta ôn hoà và mát mẽ hơn so với nhiều nước cùng vĩ độ.
Vị trí địa lí ảnh hưởng đến tài nguyên
Do nằm trong vùng nhiệt đới với nhiệt ẩm dồi dào nên tài nguyên sinh vật nước ta rất phong phú và đa dạng.
- Nước ta nằm trong vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và trên đường di lưu và di cư của nhiều loài động, thực vật nên có nhiều tài nguyên khoáng sản và tài nguyên sinh vật vô cùng quý giá.
- Vị trí địa lí và hình thể nước ta đã tạo nên sự phân hoá đa dạng của tự nhiên giữa các vùng miền (giữa miền Bắc và miền Nam, giữa vùng phía đông và vùng phía tây,…).
Vị trí địa lí mang những điều kiện không thuận lợi
- Vị trí địa lí của nước ta cũng mang lại những điều kiện tự nhiên không thuận lợi như bão, lũ lụt, hạn hán,…

29 tháng 12 2019

Nông nghiệp:

-Nền nông nghiệp châu Á đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.

-Sản lượng lúa gạo chiếm 93% thế giới.

-Lúc trước có những nước thường xuyên thiếu hụt lương thực nay đã thừa để xuất khẩu (Trung quốc,Ấn Độ)

-Có những nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhât svaf thứ hai thế giới (Thái Lan,Việt Nam).

Công nghiệp:

-Đa dạng nhưng chưa đều.

-Ngành công nghiệp khai khoáng phát triển ở nhiều nước.

-Những nước phát triển cao như Trung Quốc,Hàn Quốc,Singapo,Ấn Độ.

-Những nước phát triển thấp như Lào,Mianma,....

Dịch vụ:Trung Quốc,Hàn Quốc,Singapo là những nước có trình độ phát triển.

29 tháng 12 2019

ko có gì

3 tháng 1 2017

Giải thích:
-Do vị trí địa lí, địa hình lãnh thổ rộng lớn,các dãy núi và sơn nguyên cao ngăn cản sự xâm nhập của biển vào sâu trong nội địa

3 tháng 1 2017

* Giải thích:
-Do vị trí địa lí, địa hình lãnh thổ rộng lớn,các dãy núi và sơn nguyên cao ngăn cản sự xâm nhập của biển vào sâu trong nội địa

7 tháng 12 2017

Nam Á là một trong những khu vực đông dân trên Thế giới nhưng phân bố không đều. Chủ yếu do lượng mưa phân bố không đều và do ảnh hưởng của địa hình:
-Nam Á là khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa khá nhiều nhưng phân bố không đều.Những nơi mưa nhiều là đồng bằng sông Hằng (phía Nam dãy Hi ma lay a); phía Đông của dãy Gat Đông và phía tây của dãy Gat Tây.Những khu vực này dân cư tập trung rất dày đặc do có mưa nhiều, lại là địa hình bằng phẳng nên rất thuận lợi cho nghề trồng lúa nước, dân cư tập trung đông.
Vào sâu trong sơn nguyên Đê can lượng mưa giảm mạnh, Trên sơn nguyên có địa hình bằng phẳng, khá thích hợp cho các cây công nghiệp nên dân cư cũng tập trung khá đông
Khu vực Tây Bắc có lượng mưa thấp nhất do chịu ảnh hượng của chí tuyến Bắc nên hình thành hoang mạc Tha. Đây là khu vực có mưa ít nhất, dân cư cũng thưa thớt thớt nhất
Những khu vực thuận lợi trồng cây lương thực (Đồng bằng sông Ấn) sẽ có MDDS cao hơn so với những khu vực trồng cây công nghiệp...

8 tháng 12 2017

Sự phân bố dân cư không đều ở khu vực Nam Á là do:

– Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (khí hậu, địa hình, đất đai, nguồn nước…).

Đồng bằng Ấn – Hằng, dải đồng bằng ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng, đất tốt, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều thuận lợi cho sản xuất nên dân cư tập trung đông đúc.

Trong khi đó, trên vùng núi Hi-ma-lay-a địa hình hiểm trở, không thuận lợi cho sản xuất và đời sống nên dân cư thưa thớt…

– Điều kiện kinh tế – xã hội: dân cư lập trung đông đúc trong các đô thị, các trung tâm công nghiệp, ở những nơi có điều kiện thuận lợi về giao thông, thị trường tiêu thụ rộng lớn…

Hoặc ở các vùng trồng lúa đòi hỏi nhiều lao động nên dân cư tập trung đông (đồng bằng Ấn – Hằng).

– Lịch sử khai thác lãnh thổ: đồng bằng Ấn – Hằng có lịch sử khai thác lâu đời. Nên từ rất lâu, người dân đã khai hoang và định cư tại khu vực này.