K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

17 tháng 2 2020

Những khó khăn trong quá trình đầu of nghĩa quân Lam Sơn

21 tháng 4 2020

khoi di

23 tháng 11 2025

Hai câu thơ:
"Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề"


1. Biện pháp tu từ được sử dụng

  1. Điệp từ / câu điệp
  • “khi… khi…” → lặp lại cấu trúc “khi” đầu mỗi vế → nhấn mạnh khoảng thời gian, gợi cảm giác liên tục, dạt dào cảm xúc.
  1. Ẩn dụ
  • “ngày quạt ước” → ẩn dụ cho những lời hẹn hò, niềm vui lứa đôi vào ban ngày.
  • “đêm chén thề” → ẩn dụ cho lời thề hẹn, sự gắn kết tình cảm vào ban đêm.
  1. Tượng trưng / hình ảnh cụ thể
  • “quạt ước”, “chén thề” → dùng hình ảnh cụ thể để tượng trưng cho tình yêu, lời hứa và sự gắn bó.

2. Hiệu quả nghệ thuật

  • Gợi cảm xúc lãng mạn, nồng nàn: Điệp từ “khi… khi…” tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, như nhịp tim của tình yêu.
  • Tạo hình ảnh sinh động, giàu biểu cảm: Ẩn dụ “ngày quạt ước – đêm chén thề” khiến người đọc tưởng tượng ra những khoảnh khắc hẹn hò, lời thề gắn bó.
  • Nhấn mạnh chiều dài và sự bền bỉ của tình cảm: Cảm xúc không chỉ thoáng qua mà diễn ra suốt ngày và đêm, thể hiện tình yêu sâu sắc, say đắm.
27 tháng 5 2020

1. Đề tài: người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945.

27 tháng 5 2020

3. 

Chí khí được thể hiện qua:

1. Thể hiện ở thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp

- Nửa năm hương lửa đương nồng:

+ Cuộc sống hôn nhân mới hình thành, giai đoạn tình yêu, tình vợ chồng nồng nàn, thắm thiết nhất.

->Giai đoạn hạnh phúc nhất.

+ Nếu là người bình thường, trong sự hạnh phúc của cặp đôi “trai anh hùng, gái thuyền quyên” như thế này thì sẽ cảm thấy thỏa nguyện, bằng lòng.

+ Nhưng Từ Hải là người phi thường: “Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”, hơn hẳn những người khác cả về trí tuệ và sức lực -> không bằng lòng với cuộc sống gia đình bình dị, hạnh phúc giản đơn.

->  Quyết tâm ra đi.

=> Từ Hải không phải là người một nhà, người một xóm, người một họ mà là người của trời đất bốn phương (Hoài Thanh)

2. Thể hiện ở hành động ra đi dứt khoát và mạnh mẽ

-  Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương:

+ Lòng bốn phương: chí lớn lập công danh sự nghiệp của kẻ làm trai trong xã hội phong kiến. 

+ động lòng: chí lớn vốn ấp ủ từ rất lâu, nó chỉ tạm thời trì hoãn khi chung hưởng hạnh phúc bên Thúy Kiều, và bây giờ, hôm nay là lúc chí lớn được đánh thức.

->Từ Hải gạt bỏ tình riêng để thực hiện chí lớn.

+ Thoắt: chí lớn thức dậy nhanh chóng, nhanh chóng quyết tâm thực hiện chí lớn. Từ trước khi gặp Thúy Kiều đã thực hiện chí lớn và giờ là lúc tiếp tục thực hiện sự nghiệp dang dở.

_ Diễn tả sự nhanh chóng trong việc thay đổi vị thế của Từ Hải từ là một con người của gia đình -> một anh hùng mang tráng chí bốn phương.

+ Trượng phu: sự trân trọng của tác giả Nguyễn Du đối với nhân vật Từ Hải.

=>Anh hùng hội tụ những phẩm chất phi thường, có thể thay đổi sơn hà, có thể mang lại xã hội mà nhân dân mong muốn.

- Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong

- Quyết lời dứt áo ra đi

->Sử dụng một loạt các từ ngữ:

+ Thẳng rong: đi liền một mạch

+ Quyết lời, dứt áo

->Hành động dứt khoát, mạnh mẽ, không chút lưu luyến, bịn rịn.

Ra đi trong tâm thế ung dung.

ð  Khí phách của bậc đại trượng phu.

Ghé vai gánh đỡ sơn hà

Sao cho tỏ mặt mới là trượng phu

->Trượng phu là người đàn ông tài giỏi, có chí lớn.

->Đó là tâm trạng bình thường của người bình thường

=> Nhưng Từ Hải là người anh hùng, bậc đại trượng phu, không muốn Thúy Kiều phải bịn rịn. Sự ra đi như thế để lại dư âm trong những câu thơ cách mạng sau này:

 Ví dụ: Người ra đi đầu không ngoảnh lại

            Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

3. Thể hiện qua lời đối thoại với Thúy Kiều

- Lời thoại của Thúy Kiều:

Theo thói thường, người bình thường sẽ ngăn cản nhưng là tâm phúc tương tri, là tri kỉ (hiểu chí hướng của Từ Hải) của Từ Hải, nàng không ngăn cản mà mong muốn làm trọn đạo tòng:

Nàng rằng phận gái chữ tòng

Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.

->Trước quyết tâm ra đi của Từ Hải, nàng bày tỏ ước nguyện được đi theo để thực hiện trọn đạo tam tòng “Xuất giá tòng phu”.

-> Mong muốn được nâng khăn sửa túi cho chồng

-> Được chung vai gánh vác, được chia sẻ cùng chồng.

=> Những ước nguyện hoàn toàn chính đáng.

- Trách Thúy Kiều

Từ rằng: Tâm phúc tương tri

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình

->Từ Hải đánh giá cao Thúy Kiều, là người có tài có sắc -> Trách Thúy Kiều chưa thoát khỏi thói thường của nữ nhi

-> Trách nhưng cũng là động viên Thúy Kiều hãy vượt lên những tình cảm ấy để xứng đáng là tâm phúc tương tri của Từ hải, xứng đáng là phu nhân của một bậc anh hùng, một bậc đại trượng phu

=> Đằng sau đó là sự tự tin của Từ Hải đặt mình lên trên thiên hạ nên cũng yêu cầu Thúy Kiều phải hơn đời, hơn người.

- Lời ước hẹn của Từ Hải:

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

Làm ra rõ mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia

->Số từ số nhiều: mười vạn; động từ: dậy đất, rợp đường

-> Vẽ ra viễn cảnh rất huy hoàng: sau nhiều nhất là một năm (một năm xa cách là dài nhưng một năm để làm nên sự nghiệp hiển hách của người đàn ông lại là quá ngắn): trống rong cờ mở trở về “rước nàng nghi gia”, để sum họp vợ chồng trong vinh hiển.

=> Động viên Thúy Kiều.

=> Tự tin của Từ Hải, tự ý thức về tài năng xuất chúng của bản thân mình.

- An ủi Thúy Kiều:

Bằng nay bốn biển không nhà

Theo càng thêm bận biết là đi đâu

->Trong sự an ủi có sự lo lắng, giải thích để Thúy Kiều an lòng ở lại.

-> Trong câu thơ cũng thoáng chút cô đơn của Từ Hải. Tuy rằng tự tin nhưng cũng rất tự tin nhưng cũng rất lo lắng, bốn biển không nhà, trong tâm thế của một người anh hùng múa kích một mình trên sa mạc, hiểu việc mình cần phải làm, lập sự nghiệp lớn lao hiển hách để giúp đỡ nhân dân nhưng cũng thức tỉnh sớm, biết phải đối mặt với nhiều khó khăn.

4. Thể hiện ở hình ảnh không gian cao rộng

- Các hình ảnh:

+ bốn phương

+ Trời bể mênh mang

+ Bốn bể

+ Gió mây, dặm khơi

+ Cánh chim bằng

=>Không gian khoáng đạt, kì vĩ, lớn rộng đã nâng tầm vóc người anh hùng mang hùng tâm tráng chí Từ Hải luôn sánh ngang với tầm vóc vũ trụ.

+ Thể hiện chí lớn của người anh hùng: khao khát được vẫy vùng, tung hoành giữa trời đất cao rộng giống như lời giới thiệu của Nguyễn Du “Đội trời đạp đất ở đời”.

- Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi: tái hiện hình ảnh người anh hùng Từ Hải: chim bằng tượng trưng cho khát vọng của người anh hùng tạo nên sự nghiệp lớn.

->Chim bằng bay lên cùng gió mây chính là hình ảnh người anh hùng Từ Hải trong giây phút lên đường.

25 tháng 3 2022

a. BPTT: nhân hóa: tre không ngại, cần cù

=> Hiệu quả nghệ thuật: làm cây tre có hồn, thể hiện phẩm chất của cây tre, mạnh mẽ, kiên cường dù trong hoàn cảnh khó khăn.

b. So sánh: những ngôi sao - chẳng bằng - mẹ

=> Nhấn mạnh công ơn to lớn của mẹ, thể hiện sự biết ơn đối với mẹ.

c. Điệp ngữ: gần ... thì ....

=> Khẳng định ý nghĩa  của môi trường sống, khi tiếp xúc với những điều xấu xa thì ta dễ bị nhiễm thói xấu, ngược lại khi tiếp xúc điều tốt đẹp thì ta học đc nhiều điều hay, bổ ích.

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi : (1) " Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. " (2) " Ta đây : Núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi :

(1) " Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. "

(2) " Ta đây :

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giác nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phấn đắn đo càng kĩ

Những trằn trọc trong cơn mộng mị

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ khởi nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh "

1/ Nêu nội dung chính của văn bản (1) và (2) ?

2/ Hãy so sánh nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn ở Hịch tướng sĩ và tâm trạng của Lê Lợi ở Đại cáo Bình Ngô ?

3/ Từ 2 văn bản, viết 1 đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về tinh thần trách nhiệm của thanh niên trong cuộc sống hiện nay.

1
20 tháng 4 2020

chữ xấu vãi cả nồi

10 tháng 4 2020

Đề cương ôn tập văn 10 học kì IIĐề cương ôn tập văn 10 học kì II

GN
GV Ngữ Văn
Giáo viên
14 tháng 2 2019

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng: Tự sự

Câu 2. Khi Dế Mèn há hốc mồm ra thì Dế ta đã rơi từ trên trời xuống (vì chú vốn bám vào cọng cỏ để được chim én đưa lên trời cao và nhìn ngắm cảnh vật, nhưng dế ảo tưởng rằng những con chim sẻ đang dựa vào mình)

Câu 3. Câu chuyện thực chất phê phán những người "ảo tưởng sức mạnh", nghĩ rằng mình có sức mạnh toàn năng nhưng thực chất là chẳng có. Bài học rút ra được là phải biết sống khiêm tốn, khiêm nhường, không nên kiêu căng, ngạo mạn.

Câu 4. Bài văn bày tỏ cảm xúc của em cần nêu ra được: suy nghĩ của em, bài học liên hệ bản thân.

23 tháng 11 2025

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính

  • Tự sự: kể lại sự việc Dế Mèn và hai chim én chơi cùng nhau.
  • Kết hợp miêu tả: diễn tả hành động, tâm lý của Dế Mèn để người đọc hình dung rõ ràng câu chuyện.

Câu 2: Khi Dế Mèn há mồm ra

  • Dế Mèn quyết định thả hai con én đi để chơi một mình.
  • Hành động này sẽ dẫn đến việc mất đi bạn bè, mất niềm vui chung, đồng thời là kết quả của tính ích kỷ, chưa nghĩ đến cảm giác của người khác.

Câu 3: Bài học rút ra

  1. Không nên ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình mà làm tổn thương người khác.
  2. Học cách chia sẻ niềm vui và gắn kết với bạn bè.
  3. Sống đoàn kết, hợp tác sẽ vui vẻ hơn là cô lập mình, hưởng thụ riêng lẻ.

Câu 4: Gợi ý bài văn bày tỏ suy nghĩ

Bài văn tham khảo (~120–150 chữ):

Câu chuyện về Dế Mèn và hai con én là một bài học sâu sắc về tình bạn và cách ứng xử trong cuộc sống. Dế Mèn ban đầu được chơi cùng bạn bè, vui vẻ, nhưng vì tính ích kỷ, muốn chơi một mình mà thả các bạn đi, dẫn đến mất niềm vui chung. Qua đó, chúng ta nhận thấy rằng sống chỉ nghĩ đến bản thân sẽ khiến ta cô lập và đánh mất hạnh phúc. Niềm vui sẽ nhân lên khi biết chia sẻ, hợp tác và quan tâm đến người khác. Câu chuyện nhắc nhở chúng ta rằng tình bạn, sự đoàn kết và lòng biết nghĩ cho người khác là những giá trị quý báu, giúp cuộc sống thêm trọn vẹn và hạnh phúc.