Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Sau khi học xong truyện “Chàng Cóc”, em thấy nhân dân ta đã thể hiện ước mơ và quan niệm gì? Qua truyện Chàng Cóc, nhân dân ta thể hiện ước mơ về sự công bằng trong cuộc sống, người hiền lành, nhân hậu dù có vẻ ngoài xấu xí vẫn xứng đáng được hạnh phúc. Truyện cũng cho thấy quan niệm rằng đừng đánh giá con người qua hình dáng, giá trị thật sự nằm ở phẩm chất bên trong. Ngoài ra, nhân dân còn mong muốn các thế lực thần linh, thiên nhiên sẽ giúp đỡ người tốt, trừng trị kẻ xấu và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người. Câu 2: Sưu tầm 1 câu chuyện dân gian về quê hương Bắc Giang Truyện dân gian: Sự tích Suối Mỡ – Bắc Giang Ngày xưa ở vùng đất Lục Nam, có nàng Quế Mỵ Nương – con gái vua Hùng. Nàng hiền lành, xinh đẹp, thường xuống núi giúp dân cấy lúa, chữa bệnh và dạy dân trồng trọt. Một lần hạn hán kéo dài, nàng đã cầu trời khấn đất xin nước cứu dân. Cảm động trước tấm lòng của nàng, trời đã làm xuất hiện dòng suối mát chảy từ trên núi xuống. Dòng suối ấy được người dân gọi là Suối Mỡ, biểu tượng cho lòng nhân ái và đức hy sinh của nàng công chúa. Từ đó, nhân dân lập đền thờ nàng Quế Mỵ Nương và tổ chức hội Suối Mỡ hằng năm như một nét đẹp văn hoá của Bắc Giang.
Câu 1: Cuối tác phẩm, chàng Út và nàng Sen vì sao Sona Đin tha cho sang mô? Hành động này gợi cho em suy nghĩ gì về cách ứng xử trong cuộc sống? Sona Đin tha cho chàng Út và nàng Sen vì thấy họ là những người hiền lành, sống nhân hậu, không tham lam hay độc ác như Sona Bìn. Chàng Út dù nghèo khó nhưng luôn đối xử tử tế, còn nàng Sen chân thật, hiền hậu. Chính sự lương thiện ấy đã làm Sona Đin cảm động và quyết định buông bỏ hận thù. Hành động này nhắc em rằng trong cuộc sống, lòng nhân ái và sự bao dung luôn có sức mạnh cảm hóa con người. Khi ta sống hiền lành, biết yêu thương và đối xử tốt với người khác, ta sẽ nhận được sự trân trọng và may mắn. Đồng thời, tha thứ cũng giúp tâm hồn nhẹ nhàng và tạo ra những mối quan hệ tốt đẹp hơn.
Câu 2: Từ câu chuyện Sự tích thác Trị An, hãy giải thích vì sao có tên là thác Trị An? Theo truyện dân gian, sau khi Sona Đin ra tay diệt kẻ ác để bảo vệ người hiền, hắn đã “trị” kẻ gây ra tội lỗi và giúp dân làng “an cư”. Vì vậy, dòng thác nơi xảy ra sự việc được người dân gọi là thác Trị An, nghĩa là “trị kẻ ác để mang lại bình an cho mọi người”. Cách đặt tên này thể hiện ước muốn về cuộc sống yên ổn, công bằng và hòa thuận của người dân Đồng Nai.
Tham khảo
hông ít người thường nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn, giữ gìn văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa. Điều đó đúng, cần thiết, song có lẽ chưa đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn có thể phát huy, phát triển, hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc trong quá trình trên. Bài viết này xuất phát từ suy nghĩ đó, mặc dù đó luôn là một thách thức lớn, đồng thời lại là một thời cơ hiếm có.

1. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc trong thế giới hiện đại, không chỉ dừng lại trong lĩnh vực kinh tế, mà còn mở rộng, lan tỏa, thâm nhập các lĩnh vực khác của đời sống, từ xã hội, môi trường đến khoa học, công nghệ, văn hóa, pháp luật, giáo dục,... Chính quá trình tác động và thấm sâu của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vào toàn bộ các lĩnh vực của một dân tộc, một quốc gia mà nhân loại đang đứng trước nhiều vấn đề hệ trọng đối với sự đứng vững, tồn tại và phát triển của từng quốc gia, dân tộc và của từng khu vực trên thế giới trong quan hệ mang tính toàn cầu đang diễn ra cực kỳ phong phú và phức tạp hiện nay. Toàn cầu hóa vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là những thách thức to lớn, nhiều khi hoàn toàn mới mẻ, đối với vấn đề giữ gìn, bảo vệ, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa riêng biệt, độc đáo, có tính truyền thống của mỗi dân tộc, quốc gia trong bối cảnh và đặc điểm mới của thế giới hiện đại.
Kết quả của toàn cầu hóa là tạo ra những giá trị chung, là sự xích lại gần nhau, đan xen giữa các quá trình của sự phát triển, đặc biệt trên các lĩnh vực quan trọng như kinh tế, khoa học - công nghệ, thương mại,... Tuy vậy, toàn cầu hóa không có nghĩa là tất cả các quốc gia, các dân tộc sẽ tiến tới một sự đồng nhất về mọi mặt, mà ngược lại, toàn cầu hóa chỉ có thể diễn ra khi đồng thời tạo ra những giá trị phổ quát cho nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, mang lại cho các dân tộc những điều kiện và cơ hội tốt để phát huy và phát triển những giá trị riêng, độc đáo, đặc trưng của dân tộc mình. Và điều đó sẽ diễn ra không phải là hệ quả tự nhiên của toàn cầu hóa, mà nhất thiết phải cần một quá trình cùng điều chỉnh, cùng hợp tác và đấu tranh của các quốc gia, dân tộc tham gia toàn cầu hóa. Nêu không làm được điều này, sẽ diễn ra một quá trình mà các thế lực mạnh và đen tối sẽ lái "con tàu" toàn cầu hóa về hướng làm thui chột, làm yếu đi các giá trị văn hóa riêng của từng dân tộc, sẽ thực hiện mưu đồ áp đặt văn hóa, biến các quốc gia khác thành lệ thuộc, tự đánh mất mình trong thế giới hiện đại.
Ở đây, về mặt văn hóa, trong quá trình toàn cầu hóa, mỗi dân tộc phải đứng trước và luôn luôn phải xử lý mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa có xu hướng mạnh, tạo ra các giá trị phổ quát chung với bản sắc văn hóa riêng, độc đáo của dân tộc. Và đây cũng chính là một đặc điểm riêng trong quan hệ giữa toàn cầu hóa và văn hóa của các dân tộc.
Xin lưu ý rằng, không đơn thuần chỉ là vấn đề bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa của từng dân tộc trước tác động của toàn cầu hóa, mà còn có những vấn đề lớn hơn, sâu hơn: phát huy bản sắc dân tộc trong chính quá trình giao lưu, hợp tác văn hóa, phát triển và tự làm giàu có mình hơn, phong phú, hiện đại hơn trong quá trình chủ động giao tiếp và tiếp nhận, "cho và nhận" về mặt văn hóa. Không nhận biết sâu và biện chứng quá trình trên sẽ dẫn tới một cách nhìn phiến diện, với khuynh hướng bảo thủ cho rằng, để đối phó với toàn cầu hóa, mỗi dân tộc trong khi mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, phải đóng cửa về văn hóa, "khư khư" giữ gìn, bảo vệ các bản sắc riêng của mình, không chấp nhận cả cho và nhận, vốn là một quy luật nội tại của sự tồn tại và phát triển của mỗi nền văn hóa dân tộc.
![]() |
Một hoạt động trong khuôn khổ “Những ngày Văn hóa Việt Nam tại Nga” năm 2016 - Ảnh: Cổng TTĐT Chính phủ |
2. Xét về mặt lịch sử và đặc trưng văn hóa, văn hóa Việt Nam không hề xa lạ với sự giao lưu, tiếp nhận, tác động lẫn nhau của văn hóa các nước và văn hóa khu vực. Quá trình này diễn ra không ngừng, theo cả chiều dài lịch sử và theo cả không gian, địa - ván hóa.
Lãnh thổ Việt Nam có một đặc điểm lợi thế là nằm trên vùng đất có sự giao thoa, thâm nhập lẫn nhau của nhiều nền văn hóa. Ngay từ buổi đầu dựng nước, Việt Nam đã có sự giao thoa giữa văn hóa Đông Nam Á với văn hóa Đông Á và sau này, cũng trong một thời gian dài, là giữa văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ. Đến thời cận đại, xuất hiện và phát triển sự giao lưu, tác động lẫn nhau giữa văn hóa châu Á với văn hóa châu Âu trên lãnh thổ Việt Nam. Chính từ đặc điểm này mà ngay từ đầu và trong toàn bộ quá trình phát triển của mình, văn hóa Việt Nam đã trưởng thành, tạo nên những giá trị độc đáo của dân tộc dựa trên một năng lực rất đặc biệt, đó là vừa tự nuôi dưỡng và phát huy những giá trị của chính mình - văn hóa bản địa, vừa biết tiếp nhận, chọn lọc những giá trị tốt đẹp của nhiều nền văn hóa khác. Tính thống nhất, tính nhiều nguồn và tính đa dạng trở thành đặc trưng của văn hóa Việt Nam, không chỉ vì đất nưóc, dân tộc Việt Nam bao gồm 54 dân tộc đã cùng sống, lao động, xây dựng và sáng tạo từ bao đời nay, mà còn vì đó là một nền văn hóa biết tiếp nhận và làm phong phú cho mình bằng những giá trị của nhiều nền văn hóa trên thế giới, cả Đông và Tây, cả gần và xa,...
Có một đặc trưng hay một quy luật cần nhấn mạnh là, trong quá trình giao lưu, tiếp nhận đó, chỉ có những giá trị văn hóa bên ngoài nào phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam, được chọn lọc và được Việt hóa mới có thể trở thành những thành tố hữu cơ cấu thành văn hóa Việt Nam. Sự chọn lọc và sự sàng lọc để trở thành giá trị văn hóa Việt Nam đã diễn ra không ngừng, thầm lặng và cực kỳ tinh tế trong tiến trình lịch sử và tiến trình văn hóa. Ví dụ, những giá trị tốt đẹp của Phật giáo và Nho giáo, từ những thế kỷ đầu Công nguyên, đã qua quá trình sàng lọc đó để những ý tưởng từ bi, bác ái của Phật giáo trong sự hòa quyện với khát vọng hướng thiện, yêu thương con người của dân tộc ta trở thành một phẩm giá đặc trưng của con người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Đó là chủ nghĩa nhân văn mộc mạc nhưng sâu sắc và bền vững trong văn hóa Việt Nam. Những giá trị đạo đức xã hội mà Nho giáo truyền bá vào Việt Nam từ hàng ngàn năm đã bắt rễ và hòa đồng với những quan điểm và khát vọng đạo đức của văn hóa bản địa Việt Nam, tạo nên những chuẩn mực vững bền về đạo đức của văn hóa truyền thống, được thể hiện từ trong gia đình, làng xóm đến cộng đồng và đất nước.
Đặc điểm trên của văn hóa Việt Nam không chỉ thể hiện trong quá khứ xa xôi, mà cả trong giai đoạn cận và hiện đại, khi mà sự giao lưu và tiếp xúc văn hóa trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng, phức tạp hơn. Đó là giai đoạn gặp nhau, tác động lẫn nhau, vừa như là sự "đối chọi" lại vừa như là sự "hấp dẫn" lẫn nhau giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Trong tình hình đó, ở Việt Nam đã diễn ra một quá trình rất phong phú, tinh tế để cách tân văn hóa, từng bước hiện đại hóa nền văn hóa truyền thống thông qua tiếp nhận, chọn lọc những giá trị hoàn toàn mới của phương Tây và nỗ lực không mệt mỏi phát huy, giữ gìn những giá trị tốt đẹp, bền vững, phù hợp với sự phát triển của văn hóa dân tộc. Trong mối quan hệ đó, có lẽ, chỉ cần nêu một dẫn chứng mẫu mực là cuộc đời, sự nghiệp văn hóa và những kinh nghiệm ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chứng minh cho bước phát triển và đặc trưng của văn hóa Việt Nam thời kỳ cận và hiện đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước cũng để học hỏi, tìm kiếm những gì tốt đẹp nhất của các nền văn hóa lớn trên thế giới, từ đó Người đã chọn lọc để làm phong phú thêm cho nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta. Ở Người là sự kết hợp tuyệt vờí những tinh hoa của nhiều nền văn hóa thế giới với những giá trị cao quý và bền vững nhất trong văn hóa dân tộc.
Sự thổ lộ chân thành và đánh giá sâu sắc của Người về những giá trị mà Người chọn lọc và tiếp nhận cho mình trong các học thuyết của Khổng Tử, Giêsu, Các Mác và Tôn Dật Tiên là một minh chứng không chỉ về kinh nghiệm ứng xử văn hóa của bản thân Người, mà có lẽ, trở thành một quan niệm tiếp nhận, chọn lọc, sàng lọc của văn hóa dân tộc ta đối với văn hóa thế giói. Theo Người, Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là thích hợp với điều kiện nước ta. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy.
Đứng vững trên mảnh đất Việt Nam, xuất phát từ khát vọng chung của dân tộc để giữ gìn, phát huy, khẳng định bản sắc dân tộc đồng thời tiếp nhận qua sàng lọc những giá trị của văn hóa nhân loại, cả Đông và Tây, cả quá khứ lịch sử và hiện đại là phẩm chất, là đặc trưng của văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu và hợp tác văn hóa. |
3. Những đặc điểm, kinh nghiệm lịch sử trong tiến trình đó của văn hóa Việt Nam được thể hiện đặc biệt rõ trong hoạt động thực tiễn nhằm mở rộng và phát triển hợp tác quốc tế về văn hóa của chúng ta những năm đổi mới, những năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và những nghị quyết gần đây, đặc biệt là Nghị quyết 33- NQ/TW vừa qua.
Thành tựu nổi bật của hợp tác quốc tế về văn hóa trong những năm qua là đã triển khai toàn diện các lĩnh vực hợp tác, giao lưu văn hóa, thông tin đối ngoại, mở rộng quan hệ ở nhiều địa bàn, từng bước phát triển sang tất cả các châu lục. Ví dụ, mấy năm gần đây, bước đột phá của hợp tác quốc tế về văn hóa là chúng ta đã tạo được sự hiện diện của văn hóa Việt Nam tại k...
câu a)
- Những phong tục, tập quán của người Việt trong thời Bắc thuộc vẫn được duy trì đến ngày nay là:
+ Tục ăn trầu và sử dụng trầu cau trong các dịp lễ, tết, ngày trọng đại (hiếu, hỉ…)
+ Tục làm bánh chưng, bánh giày trong các dịp lễ tết.
+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; thờ cúng anh hùng dân tộc.
+ nhẹ nhàng, ân cần, yêu thương, quan tâm, giúp đỡ
+ họ sẽ đỡ cực hơn
14.1. Chính quyền địa phương cần làm gì? Làm như thế nào? Chính quyền địa phương cần xây dựng môi trường sống an toàn cho trẻ em bằng việc ban hành các quy định phòng chống xâm hại, giám sát chặt chẽ những điểm nguy hiểm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. UBND và HĐND huyện phải phối hợp với Phòng Giáo dục, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức tuyên truyền, tập huấn kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ em và cha mẹ. Đồng thời, cần mở đường dây nóng, tiếp nhận thông tin và can thiệp kịp thời khi xảy ra bạo lực hoặc xâm hại trẻ em.
14.2. Công an huyện và công an xã phải làm gì? Làm như thế nào? Công an phải tăng cường kiểm tra, giám sát khu dân cư, đặc biệt tại những nơi dễ xảy ra xâm hại như khu trọ, công viên, bãi đất trống. Họ cần tiếp nhận và xử lý nhanh các tin báo, bảo vệ nạn nhân, điều tra minh bạch để răn đe. Ngoài ra, công an có thể trực tiếp tổ chức các buổi nói chuyện ở trường học, hướng dẫn học sinh cách nhận biết nguy hiểm và cách cầu cứu khi bị xâm hại.
14.3. Nhà trường và thầy cô cần làm gì? Làm như thế nào? Nhà trường phải tạo môi trường học tập an toàn, nói không với bạo lực và kỳ thị giới tính. Thầy cô cần lồng ghép giáo dục giới tính, kỹ năng phòng vệ vào các tiết học hoặc hoạt động ngoại khóa. Đồng thời, thầy cô phải quan tâm đến học sinh, kịp thời phát hiện dấu hiệu bất thường để phối hợp với gia đình và chính quyền xử lý, giúp học sinh được bảo vệ tốt nhất.
14.4. Cha mẹ và người thân cần làm gì? Làm như thế nào? Cha mẹ cần gần gũi, lắng nghe con, dạy con kiến thức về giới tính và cách tránh xa nguy hiểm. Gia đình nên theo dõi việc đi lại, bạn bè và môi trường sống của con, không để con tiếp xúc với người lạ thiếu an toàn. Quan trọng nhất là cha mẹ phải tạo sự tin tưởng để trẻ dám nói khi gặp chuyện, từ đó kịp thời bảo vệ con.
14.5. Các đoàn thể quần chúng cần làm gì? Làm như thế nào? Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và các tổ chức xã hội cần tổ chức tuyên truyền về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực, tạo sân chơi lành mạnh để trẻ em tham gia. Họ cũng có thể thành lập nhóm tình nguyện hỗ trợ trẻ bị bạo lực, phối hợp với chính quyền để phát hiện và ngăn chặn sớm các hành vi xâm hại trong cộng đồng.
15. Trẻ em chúng mình có thể làm gì để tự bảo vệ bản thân và các bạn khác? Trẻ em cần học cách nhận biết hành vi xâm hại, không đi theo người lạ, không đến nơi vắng vẻ một mình và phải nói “không” khi ai đó cố ý đụng chạm vào vùng nhạy cảm. Chúng ta phải mạnh dạn báo cho thầy cô, cha mẹ hoặc công an khi thấy mình hoặc bạn bè bị xâm hại hay bạo lực. Ngoài ra, trẻ em nên đoàn kết, giúp đỡ nhau và biết bảo vệ bạn yếu thế hơn để cùng nhau xây dựng môi trường sống an toàn.
+ Điều em thích là được tiếp cận nhiều lớp thế hệ, gặp nhiều người, làm những việc liên quan đến đầu óc, cống hiến và đem lại tri thức cho thế hệ mai sau,...
+ Những khó khăn của nghề giáo viên ở đây là áp lực từ nhiều phía như phụ huynh, học sinh, dư luận xã hội, cấp trên,...Đồng thời là con cái những người này vô hình trung bị mặc định quy chụp với những quy chuẩn thật sự rất là khắc nghiệt.

Khi học về sự hi sinh của ba anh em Linh Quang, Đô Giang và Diên Nương, em cảm thấy vô cùng khâm phục và biết ơn. Các anh đã dũng cảm đứng lên chống giặc, bảo vệ quê hương Bắc Giang trong thời kỳ loạn lạc, dù biết rằng con đường ấy có thể phải đánh đổi bằng chính mạng sống của mình. Sự hi sinh ấy thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc, ý chí bất khuất và lòng trung nghĩa của người dân Bắc Giang xưa. Nhờ sự hi sinh của các anh mà quê hương mới giữ được bình yên, nhân dân được sống trong tự do. Câu chuyện về ba anh em khiến em tự nhắc mình phải sống tốt hơn, chăm chỉ học tập, biết trân trọng hòa bình và tiếp nối truyền thống yêu nước của thế hệ đi trước.