Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Hệ sinh vật Việt Nam thay đổi theo độ cao rõ rệt:
- Đai nhiệt đới gó mùa (duới 600‑700 m ở miền Bắc, duới 900‑1000 m ở miền Nam) có rặng xanh ram rap với nhiều loài cây gỗ nhiệt đới (họ Dầu, họ Vang, họ Dầu), phong phú dây leo, song mây. Động vật gồm khỉ, vooc, gấu, hổ, nai, và các loài chim như gà lôi, trĩ.
- Đai cận nhiệt gó mùa trên núi (600‑ 2 000 m) khí hậu mát hơn; thực vật chuyển sang rặng hỗn hợp cây lá kim và cây lá rộng cận nhiệt (thông, sa mu, đặng, rau sưa). Động vật có huou nai, beo lợn, khi men, các loài chim phượng hoàng đất, gà gô.
- Đai ôn đới gó mùa trên núi cao (trên 2 600 m, trần trỏn nhất ở Hoàng Liên Sơn) có khí hậu lạnh. Thực vật nghèo nàn, chiề còn búi cây thấp, rêu và đất chết. Động vật không phong phú, chủ yếu có một số loài thích nghi với khí hậu lạnh như gấu ngựa, chó soi, cóng lông và các loài chim di cư. Sự phân hoá sinh vật theo độ cao giúp giải thích vì sao hệ sinh thái nước ta phong phú và nhấn mạnh việc bảo tồn sinh vật ở mỗi đai.
HƯỚNG DẪN
Độ cao địa hình núi đã dẫn đến nhiệt độ giảm theo độ cao cùng với sự thay đổi về độ ẩm và lượng mưa ở miền núi, từ đó ở nước ta có 3 đai cao ở những độ cao khác nhau có đặc điểm sinh vật khác nhau.
- Đai nhiệt đới gió mùa
+ Ớ miền Bắc, đai có độ cao trung bình dưới 600 - 700m, ở miền Nam lên đến độ cao 900 - 1000m.
+ Sinh vật gồm các hệ sinh thái nhiệt đới:
• Hệ sinh thái nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh hình thành ở những vùng đồi núi thấp mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, mùa khô không rõ. Rừng có cấu trúc nhiều tầng với 3 tầng cây gỗ, có cây cao tới 30 - 40m, phần lớn là các loài cây nhiệt đới xanh quanh năm. Giới động vật nhiệt đới trong rừng đa dạng và phong phú.
• Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa: rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng thưa nhiệt đới khô. Trên các loại thổ nhưỡng đặc biệt có các hệ sinh thái rừng thường xanh trên đá vôi; rừng ngập mặn trên đất mặn ven biển; rừng tràm trên đất phèn; xavan, cây bụi gai nhiệt đới khô trên đất cát, đất xám vùng khô hạn.
- Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi
+ Ở miền Bắc, đai có độ cao từ 600 - 700m đến 2600m; ở miền Nam từ 900 - 1000m đến 2600m.
• Ở độ cao từ 600 - 700m đến 1600 - 1700m, có hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới lá rộng và lá kim.
• Ở độ cao trên 1600 - 1700m, rừng sinh trưởng kém, thực vật thấp nhỏ, đơn giản về thành phần loài; rêu, địa y phủ kín thân, cành cây. Trong rừng có các loài chim di cư thuộc khu hệ Himalaya.
- Đai ôn đới gió mùa trên núi
+ Độ cao từ 2600m trở lên (chỉ có ở Hoàng Liên Sơn).
+ Có các loài thực vật ôn đới như đỗ quyên, lãnh sam, thiết sam.
HƯỚNG DẪN
a) Biểu hiện
- Đai nhiệt đới gió mùa (độ cao trung bình 600 - 700m ở miền Bắc và 900 – 1000m ở miền Nam):
+ Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh hình thành ở những vùng núi thấp mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, mùa khô không rõ.
+ Thực vật phần lớn là các loài cây nhiệt đới xanh quanh năm.
+ Động vật nhiệt đới trong rừng đa dạng và phong phú.
- Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi (từ 600 – 700m lên đến 2600m ở miền Bắc, từ 900 – 1000m lên đến 2600m ở miền Nam):
+ Từ độ cao 600 - 700m đến 1600 - 1700m có hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới lá rộng và lá kim. Trong rừng xuất hiện các loài chim, thú cận nhiệt đới phương Bắc. Các loài thú có lông dày như gấu, sóc, cầy, cáo…
+ Ở độ cao trên 1600 - 1700m rừng phát triển kém, đơn giản về thành phần loài; rêu, địa y phủ kín thân, cành cây. Trong rừng, đã xuất hiện các loài cây ôn đới và các loài chim di cư thuộc khu hệ Himalaya.
- Đai ôn đới gió mùa trên núi (có độ cao từ 2600m trở lên, chỉ có ở Hoàng Liên Sơn); có các loài thực vật ôn đới như đỗ quyên, lãnh sam, thiết sam.
b) Giải thích
- Sự phân hóa sinh vật thành ba đai cao khác nhau do tác động trực tiếp của khí hậu; ngoài ra do tác động của độ cao địa hình thông qua khí hậu.
+ Khí hậu: sự thay đổi tương quan nhiệt ẩm theo độ cao đã tạo ra ba đai với khí hậu khác nhau. Đai nhiệt đới chân núi biểu hiện rõ rệt khí hậu nhiệt đới, mùa hạ nóng (nhiệt độ trung bình tháng trên 25°C); độ ẩm thay đổi tùy nơi từ khô đến ẩm ướt. Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi khí hậu mát mẻ, không có tháng nào nhiệt độ trên 25°C, mưa nhiều hơn, độ ẩm tăng. Khí hậu ở đai ôn đới gió mùa trên núi có tính chất ôn đới, quanh năm nhiệt độ dưới 15°C, mùa đông xuống dưới 5°C.
+ Địa hình đồi núi phân hóa thành ba đai cao với khí hậu khác nhau, từ đó có sự khác nhau về sinh vật.
a) Nguyên nhân chủ yếu gây ra thời tiết lạnh về mùa đông ở vùng Tây bắc
- Do gió mùa đông bắc và độ cao địa hình
- Vùng Tây bắc bị khuất sau dãy Hoàng Liên Sơn nên ít bị ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc; khí hậu lạnh chủ yếu do độ cao địa hình bởi vì phần lớn lãnh thổ của vùng có nhiều khối núi cao trên 2.000m, nhiều đỉnh vượt trên 3.000m tạo nên sự phân hóa khí hậu theo độ cao.
b) Duyên hải Nam Trung Bộ có mưa vào thu đông (khoảng tháng 8 đên tháng 1) : do đón nhận trực tiếp của các luồng gió thổi hướng đông bắc từ biển vào (gió mùa đông bắc, Tín phong nửa cầu Bắc), bão, áp thấp nhiệt đớ từ biển Đông dải hội tụ nội chí tuyến.
c) MIền Nam Trung Bộ và Nam Bộ lại không có đai ôn đới : vì đai ôn đới chỉ xuất hiện ở độ cao trên 2.600mm, trong khi đó đỉnh núi cao nhất của miền mới đạt 2.598m (đỉnh Ngọc Lĩnh)
b, duyên hải miền trung có mưa về thu đông là vì :
mùa đông có gió mùa đông đi qua biển bị biến tính vào đất liền thổi vuông góc với dãy trường sơn bắc gây ra mưa lớn vào thu đông
Sự phân hoá sinh vật theo độ cao địa hình gồm 3 đai rõ rệt: - Đai nhiệt đới gió mùa (dưới 600 m miền Bắc, dưới 900 m miền Nam): khí hậu nóng âm, rừng xanh quanh năm, nhiều loài đầu vàng, phương ví, lim. - Đai cận nhiệt đới (600‑1600 m): nế mát hơn, rừng án mộc, lá kim xen lẫn các loài la dá. - Đai ôn đối núi cao (>1600 m): khí hậu mát lạnh, thường có rừng lá kim (thông,
sa mê) và cây ôn đối. Nhờ sự phân hoá đó, hệ sinh vật Việt Nam rất đa dạng và là nguồn tài nguyên quý cho nông lâm nghiệp.
HƯỚNG DẪN
a) Chứng minh: Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có nhiều loại đất khác nhau.
- Đất feralit
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá badan: tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên (khoảng trên 1,3 triệu ha) và Đông Nam Bộ. Đất này được hình thành trên cơ sở phong hoá đá badan, có tầng dày, khá phì nhiêu.
+ Đất feralit trên các loại đá khác: chiếm diện tích lớn và phân bố rộng rãi ở vùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ.
+ Ngoài ra, ở các vùng núi, độ cao trên 500 - 600m đến 1600 - 1700m có đất mùn vàng đỏ trên núi, độ cao trên 1600 - 1700m có đất mùn alit núi cao, diện tích không lớn.
- Đất xám
+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ven biển ở các đồng bằng Duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ (trên 900.000 ha). Ngoài ra, còn có ở Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Đất phù sa
+ Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung nhiều ở ven sông Tiền và sông Hậu. Đây là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, từ đất thịt đến sét, phần lớn diện tích được bồi tụ phù sa vào mùa lũ.
+ Đất phù sa của đồng bằng Duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi sự bồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng.
- Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở Duyên hải Nam Trung Bộ. Đất phèn có đặc tính chua; đất mặn có loại mặn ít, mặn nhiều...
- Đất cát ven biển: phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở Duyên hải Nam Trung Bộ; đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng.
b) Giải thích
- Sự hình thành đất là do tác động tổng hợp của các nhân tố: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật, thời gian và con người.
- Các nhân tố này tác động khác nhau ở mỗi nơi khác nhau tạo thành mỗi loại đất khác nhau.
- Ngoài ra, mối quan hệ của các nhân tố đó trong việc thành tạo đất ở mỗi nơi cũng khác nhau, là nguyên nhân tạo ra nhiều loại đất khác nhau.
ựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, có thể thấy miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có nhiều loại đất khác nhau, như: 🔹 Đất feralit (đỏ vàng) Phân bố ở vùng núi và cao nguyên Gặp ở: Tây Nguyên, Nam Trung Bộ → Phù hợp trồng cà phê, cao su, hồ tiêu 🔹 Đất đỏ badan Tập trung ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ → Rất màu mỡ, trồng cây công nghiệp lâu năm 🔹 Đất phù sa Ở các đồng bằng, nhất là Đồng bằng sông Cửu Long → Thích hợp trồng lúa, cây ăn quả 🔹 Đất xám trên phù sa cổ Ở Đông Nam Bộ → Trồng cao su, điều 🔹 Đất mặn, đất phèn Ven biển Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long → Gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp 🔹 Đất cát ven biển Ven biển Nam Trung Bộ → Trồng cây chịu hạn (phi lao, dừa…) 👉 ⇒ Có nhiều loại đất khác nhau → đất đai rất đa dạng. ✅ Tại sao đất ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ lại đa dạng? Có sự đa dạng vì các nguyên nhân sau: 🔹 Địa hình phong phú Có núi, cao nguyên, đồng bằng, ven biển → Mỗi dạng địa hình tạo ra loại đất khác nhau 🔹 Khí hậu phân hoá Có mùa mưa – mùa khô rõ rệt Nhiệt độ, lượng mưa khác nhau theo vùng → Ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất 🔹 Đá mẹ đa dạng Có đá badan, đá granit, đá trầm tích… → Mỗi loại đá tạo ra loại đất riêng 🔹 Tác động của sông ngòi và biển Sông bồi đắp phù sa Biển gây mặn, phèn → Tạo đất phù sa, đất mặn, đất phèn 🔹 Hoạt động của con người Khai hoang, cải tạo đất Trồng rừng, làm thủy lợi → Làm thay đổi tính chất đất
Câu1:
Do ảnh hưởng của vị trí địa lí
Ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa
1. Tại sao thiên nhiên Việt Nam có sự phân hoá đa dạng.
Thiên nhiên Việt Nam đa dạng do sự phân hóa theo vị trí địa lý (Bắc-Nam), địa hình (đai cao, hướng núi, sườn núi) và ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa. Vị trí địa lý khiến miền Bắc có mùa đông lạnh, miền Nam ấm hơn, còn địa hình đa dạng tạo ra các đai khí hậu khác nhau theo độ cao và sự khác biệt giữa sườn Đông và sườn Tây của dãy núi Trường Sơn.
HƯỚNG DẪN
a) Biểu hiện
- Phần lãnh thổ phía bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra)
+ Thảm thực vật tiêu biểu: đới rừng nhiệt đới gió mùa.
+ Thực vật trong rừng: thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài ra còn có các loài cây cận nhiệt như dẻ, re, các loài cây ôn đới như samu, pơmu.
+ Động vật trong rừng: các loài thú có lông dày như gấu, chồn...
+ Ở vùng đồng bằng, vào mùa đông trồng được cả rau ôn đới.
- Phần lãnh thổ phía nam (từ dãy Bạch Mã trở vào)
+ Thảm thực vật tiêu biểu: đới rừng cận Xích đạo gió mùa.
+ Thực vật: có nhiều loại cây chịu hạn, rụng lá vào mùa khô như các loài cây họ dầu; có nơi hình thành loại rừng thưa nhiệt đới khô, nhiều nhất ở Tây Nguyên.
+ Động vật tiêu biểu: các loài thú lớn vùng nhiệt đới và Xích đạo như voi, hổ, báo, bò rừng... Vùng đầm lầy có trăn, rắn, cá sấu...
b) Giải thích
- Nhân tố tác động trực tiếp đến sự phân hóa sinh vật theo Bắc - Nam là khí hậu; ngoài ra, còn có vị trí địa lí tác động gián tiếp thông qua khí hậu và các luồng di lưu và di cư của thực vật, động vật.
- Phần lãnh thổ phía bắc có nền khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm trên 20°C. Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên khí hậu trong năm có mùa đông lạnh với 2-3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 18°C, thể hiện rõ nhất ở trung du miền núi Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Biên độ nhiệt độ trung bình năm lớn.
- Phần lãnh thổ phía nam có nền nhiệt độ thiên về khí hậu Xích đạo, quanh năm nóng, nhiệt độ trung bình năm trên 25°C và không có tháng nào dưới 20°C. Biên độ nhiệt độ trung bình năm nhỏ. Khí hậu gió mùa thể hiện ở sự phân chia thành hai mùa mưa và khô, đặc biệt rõ từ vĩ độ 14°B trở vào.
- Vị trí địa lí của phần lãnh thổ phía bắc nằm gần chí tuyến Bắc, thuận lợi cho các loài thực vật, động vật cận nhiệt và ôn đới ở phía bắc xuống. Phần lãnh thổ phía nam nằm gần Xích đạo, thuận lợi cho các loài thực vật, động vật Xích đạo và cận Xích đạo từ phương Nam (nguồn gốc Mã Lai - Inđônêxia) đi lên hoặc thực vật, động vật của khu vực có nhiệt đới khô từ phía tây (Ấn Độ - Mianma) sang.
*Tham khảo:
1.
- Do địa hình có núi cao (như Trường Sơn Nam), sinh vật thay đổi theo độ cao:
+ Dưới 600m: rừng nhiệt đới gió mùa.
+ 600–1600m: rừng á nhiệt đới lá rộng và lá kim.
+Trên 1600m: rừng ôn đới (ít, hiếm gặp).
2.
- Phần lớn diện tích rừng tăng là rừng trồng, nghèo sinh học.
- Rừng tự nhiên bị suy giảm, bị khai thác hoặc chia cắt.
-Môi trường sống bị thu hẹp, nhiều loài bị mất nơi sinh sống hoặc tuyệt chủng.
1. Ở Nam Trung Bộ, địa hình có núi cao => sinh vật phân hoá theo đai: đai nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới núi cao.
Ở Nam Bộ, chủ yếu đồng bằng thấp => sinh vật hầu như không phân hoá theo đai cao.
2. Rừng che phủ tăng nhưng đa dạng sinh học giảm vì phần lớn là rừng trồng đơn loài, trong khi rừng tự nhiên bị thu hẹp.
--Chúc bạn học tốt nha!!!--
-Che phủ rừng tăng → do trồng nhiều rừng . -Đa dạng sinh học giảm → do mất rừng tự nhiên, rừng nghèo loài, săn bắt . -Nhiều cây hơn cũng chưa chắc nhiều loài hơn .