Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Câu 1:
Thể thơ: Thơ bảy chữ
Câu 2:
Vần: Vần "ay" (bay - tay).
Kiểu vần: Vần chân, vần liền.
Câu 3:
Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".
• Tác dụng:
• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.
• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.
• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.
Câu 4:
-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.
-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.
Câu 5:
-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....
- Tác dụng:
+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.
+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
Câu 1. (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ:
Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bài văn khoảng 600 chữ:
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.
Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.
Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.
Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.
Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.
Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ):
Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:
“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”
Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (600 chữ):
Trong một phát biểu nổi tiếng, Leonardo DiCaprio từng nhấn mạnh: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Đây là một quan điểm đúng đắn và đầy tính cảnh báo trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Trước hết, Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Cho đến nay, dù khoa học vũ trụ đã phát triển, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào khác có điều kiện sống phù hợp như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai, rừng cây, đại dương – tất cả đều là những yếu tố không thể thay thế cho sự tồn tại của con người và muôn loài. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất cũng chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.
Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là môi trường Trái Đất đang bị tàn phá nặng nề. Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, rừng bị chặt phá, băng tan, nước biển dâng… đang đe dọa sự cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: thiên tai, dịch bệnh, khan hiếm lương thực, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính con người: khai thác tài nguyên quá mức, lối sống tiêu dùng thiếu ý thức, chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ quên môi trường.
Ý kiến của Leonardo DiCaprio vì thế mang ý nghĩa cảnh tỉnh mạnh mẽ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể thoát khỏi hậu quả nếu hành tinh này bị hủy hoại. Cần phải thay đổi từ nhận thức đến hành động: các quốc gia phải chung tay thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và đại dương. Ở cấp độ cá nhân, mỗi người cũng có thể góp phần bằng những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác thải, sống thân thiện hơn với tự nhiên.
Tóm lại, Trái Đất là mái nhà duy nhất của nhân loại, không có nơi nào khác để thay thế. Bảo vệ hành tinh này không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người đối với tương lai chung. Ý kiến của Leonardo DiCaprio vừa là lời nhắc nhở vừa là lời kêu gọi hành động, để chúng ta cùng nhau gìn giữ ngôi nhà xanh này cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ:
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ:
Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.
Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.
Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.
Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.
Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
- Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.
Câu 5.
Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2.
Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó
Câu 4.
- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.
- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.
Câu 5.
Giá trị của cuộc sống là:
- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.
- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.
- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.
- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Đoạn trích được viết bằng thể thơ lục bát (6 – 8) đặc trưng của Truyện Kiều, gắn với truyền thống văn học dân tộc.
Câu 2. Đoạn trích trên kể về sự việc gì?
Đoạn trích kể về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa Thúy Kiều và Kim Trọng trước khi chàng lên đường đi thi, thể hiện nỗi đau, niềm tiếc nuối và tình cảm sâu nặng của đôi lứa.
Câu 3. Xác định và nêu tác dụng biện pháp tu từ
Hai câu:
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
- Biện pháp tu từ: so sánh, hình ảnh tượng trưng.
- Tác dụng: nhấn mạnh nỗi xa cách, cô đơn, thương nhớ; diễn tả không gian và thời gian cách biệt giữa hai người.
Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản
Cảm hứng chủ đạo là tình yêu thủy chung, nỗi thương nhớ và nỗi đau chia ly của đôi lứa trước những thử thách của số phận.
Câu 5. Đặt nhan đề cho đoạn trích và giải thích lí do
Gợi ý nhan đề: Cuộc chia tay lưu luyến của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Lí do: Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích, làm nổi bật tình cảm sâu nặng và bi kịch chia ly giữa hai nhân vật.
Câu 1.
-Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
-Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều để trở về gặp Hoạn Thư, trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ.
Câu 3.
-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối:
“Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.”
-Tác dụng: Biện pháp đối làm nổi bật sự chia lìa đầy đau xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời nhấn mạnh cảm giác thời gian lê thê, không gian xa vời vợi, diễn tả nỗi cô đơn, trống trải của cả người ở lại lẫn kẻ ra đi.
Câu 4.
Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là niềm cảm thương, xót xa của tác giả trước khát vọng hạnh phúc nhỏ bé nhưng mong manh, bấp bênh và đầy bất trắc của Thúy Kiều, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Truyện Kiều.
Câu 5.
-Nhan đề mà em sẽ chọn là : “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”
Giải thích:
Nhan đề phản ánh đúng nội dung chính của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh; đồng thời gợi lên nỗi buồn chia phôi, đau đớn, cô đơn của đôi lứa trước biến cố tình duyên, góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và cảm xúc của văn bản.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1
-Văn bản thuộc thể loại : bi kịch
Câu 2
- Hình thức ngôn ngữ chủ yếu : độc thoại
Câu 3
-Các chỉ dẫn sân khấu :
+ "Bóp trán nghĩ ngợi".
+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống."
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.
+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu
Câu 4
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:
Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thực được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:
Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi
I) chuyến sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình
Câu 5
Em không đồng tình vì :
Câu 1: Thể loại của văn bản là: Kịch (Bi kịch) Câu 2: Hình thức ngôn ngữ chủ yếu Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức: Độc thoại nội tâm Câu 3: Lời chỉ dẫn sân khấu và vai trò Một số lời chỉ dẫn sân khấu: (Bóp trán nghĩ ngợi) (Một lát) (Cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.) Vai trò: Đối với diễn xuất: Giúp diễn viên hình dung được cử chỉ, hành động và thái độ cần thể hiện trên sân khấu. Đối với nội dung: Khắc họa rõ nét tâm trạng bế tắc, sự quẫn bách và sự do dự, đấu tranh dữ dội giữa cái sống và cái chết trong lòng nhân vật. Nó làm tăng tính kịch và sự căng thẳng cho tác phẩm. Câu 4: Diễn biến tâm lí của thầy Thông Thu Tâm lí của thầy Thông Thu có sự biến chuyển rõ rệt qua hai hồi: Hồi thứ Hai: Tâm trạng chủ yếu là hối hận và tự trách. Khi đối diện với bảng tính toán nợ nần, Thu nhận ra sự hoang phí, "điên rồ" của mình trong quá khứ. Nhân vật cảm thấy nhục nhã vì không làm được việc "ích quốc lợi dân" mà lại làm tiêu tan gia sản của cha ông, hổ thẹn với lương tâm và bạn bè (giáo Xuân). Hồi thứ Ba: Tâm trạng chuyển sang tuyệt vọng và bế tắc cùng cực. Thu sợ hãi cảnh tù tội, nhục nhã khi "mặc áo số, ăn cơm hầm". Sự bế tắc đẩy nhân vật đến quyết định tự sát. Tuy nhiên, tâm lí này không bằng phẳng mà đầy giằng co: Thu vừa muốn chết để bảo toàn chút "danh dự" cuối cùng ("thác trong còn hơn sống đục"), vừa do dự, lo lắng cho mẹ và vợ không ai nuôi nấng. Cuối cùng, bản năng sống và trách nhiệm gia đình vẫn khiến Thu trì hoãn cái chết để viết thư cho em trai. Câu 5: Ý kiến về quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu Gợi
Em không đồng tình với quyết định này. Lí do: Cái chết trong hoàn cảnh này là sự trốn chạy trách nhiệm chứ không phải là hành động dũng cảm. Việc thầy Thu tự sát sẽ để lại gánh nặng nợ nần và nỗi đau tinh thần quá lớn cho người mẹ già và vợ con. Thay vì chọn cái chết, nhân vật nên đối diện với sự thật, chấp nhận hình phạt của pháp luật và nỗ lực lao động để chuộc lỗi, làm lại cuộc đời. Tự sát không giúp giải quyết được nợ nần hay khôi phục danh dự, mà chỉ cho thấy sự yếu đuối, bạc nhược của một trí thức trước sóng gió cuộc đời.
Câu 1: Thể loại: Bi kịch (Kịch nói).
Câu 2: Hình thức ngôn ngữ: Độc thoại.
Câu 3:
Chỉ dẫn: Bóp trán nghĩ ngợi, cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống,...
Vai trò: Giúp hình dung hành động, cử chỉ và khắc họa sự bế tắc, giằng xé nội tâm nhân vật.
Câu 4:
Hồi II: Bàng hoàng, hối hận và tự sỉ vả bản thân vì đã ăn chơi hoang phí.
Hồi III: Tuyệt vọng, quẫn bách vì sợ đi tù. Tâm lí giằng xé giữa cái chết để bảo toàn danh dự và nỗi lo cho người thân, cuối cùng tìm cách trì hoãn để viết thư.
Câu 5:
Em không đồng tình. Vì chết là trốn tránh trách nhiệm và hèn nhát. Thay vì kết thúc cuộc đời, thầy Thông Thu nên sống để lao động chuộc lỗi, trả nợ và làm điểm tựa cho gia đình. Cái chết chỉ để lại nỗi đau và gánh nặng cho người thân.
Câu 1: Thể loại: Bi kịch (Kịch nói).
Câu 2: Hình thức ngôn ngữ: Độc thoại.
Câu 3: Chỉ dẫn: (Bóp trán nghĩ ngợi), (Cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống)...
- Vai trò: Giúp hình dung hành động, cử chỉ và khắc họa sự bế tắc, giằng xé nội tâm nhân vật.
Câu 4: Hồi II: Bàng hoàng, hối hận và tự sỉ vả bản thân vì đã ăn chơi hoang phí.
- Hồi III: Tuyệt vọng, quẫn bách vì sợ đi tù. Tâm lí giằng xé giữa cái chết để bảo toàn danh dự và nỗi lo cho người thân, cuối cùng tìm cách trì hoãn để viết thư.
Câu 5: Em không đồng tình. Vì chết là trốn tránh trách nhiệm và hèn nhát. Thay vì kết thúc cuộc đời, thầy Thông Thu nên sống để lao động chuộc lỗi, trả nợ và làm điểm tựa cho gia đình. Cái chết chỉ để lại nỗi đau và gánh nặng cho người thân.
Câu 1.
Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi
kich.
Câu 2.
Hinh thức ngôn ngữ chủ yễu: Độc thoại (nhân
vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3.
Các chỉ dấn sân khấu trong văn bản:
+ "Bóp trán nghĩ ngdi".
"Nâng cốc nâng lên sặp uống lại đặt
xuống.".
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc,
lấy que khuấy.".
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới
gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp
thuốc phiện.".
+
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khẩu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động.
cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân
vật.
+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt
của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết
qua hành động nầng cốc lên rổi lại đặt xuống).
Câu 4.
- Tâm lí thẩy Thông Thu trong hổi thứ Hai:
Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận
thức được sai lâm của bản thân sau khi tiêu
tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm
được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhd
nhuốc" thanh danh gia đình.
Tâm lí thẩy Thông Thu trong hổi thứ Ba:Tâm lí tuyệt vong và bế tắc. Khi đổi mặt vớicảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khú (HổiII) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hổi ll). Tuynhiên, trong sự tuyệt vong vân nhen nhóm
chút trách nhiệm muộn màng với gia đình
(dừng lại để viết thư cho em trai).
Câu 5: Em không đồng tình, vì: Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặtđể sửa chữa.Cái chết không giải quyểt được vấn để mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy đến những người thân xung quanh.Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn lao động để trả nợ và làm lại cuộcđời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc nàychỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Aaa
Abc
đã xem
C1: Văn bản " chén thuốc độc " thuộc thể loại kịch C2: Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng ngôn ngữ độc thoại ( lời thoại giữa các nhân vật ) C3: - Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: +"Bóp trán nghĩ ngợi" + "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống" +" Lấy dao mở hộp thuốc phiện , rót vào cốc, lấy que khuấy" +" Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào túi hộp thuốc phiện" - Vai trò : + Giúp làm rõ hành động, tâm trạng nhân vật + Hỗ trợ người đọc hình dung diễn biến trên sân khấu. + Tăng tính kịch và sức biểu cảm cho văn bản C4: - Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!")
- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi Hai) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lại và đi đến hành động cực đoan (Hồi Ba). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình ( dừng lại để viết thư cho em trai)
C5: Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu . Dù thầy rơi vào hoàn cảnh bi kịch và chịu nhiều dằn vặt về danh dự, nhưng cái chết không phải là cách giải quyết tốt nhất. Con người cần đối diện với sai lầm và tìm cách sửa chữa để vượt qua khó khăn. Tuy nhiên, em cũng cảm thông với lựa chọn của thầy vì áp lực xã hội và nỗi đau tinh thần quá lớn đã đẩy thầy đến bước đường cùng.
.
*Câu 1.*
Văn bản “Chén thuốc độc” là một *truyện ngắn* (thuộc thể loại văn xuôi tự sự).
*Câu 2.*
Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng *ngôn ngữ kể chuyện* (ngôn ngữ tự sự), miêu tả hành động và tâm trạng nhân vật.
*Câu 3.*
Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản là: _“Trích Chén thuốc độc”_, _“Vũ Đình Long”_, _“Tập 24”_.
Các chỉ dẫn này giúp xác định *tên tác phẩm, tác giả và nguồn xuất bản*, hỗ trợ người đọc hiểu bối cảnh và thể loại của văn bản.
*Câu 4.*
Diễn biến tâm lý thầy Thông Thu:
- *Hồi thứ Hai*: thầy Thu cảm thấy *khốn khổ, tuyệt vọng* vì tình cảnh cạn kiệt tài sản, sức lực và sự phụ thuộc của vợ con.
- *Hồi thứ Ba*: thầy Thu *thay đổi*, quyết định uống thuốc độc để giải thoát, thể hiện sự *cam chịu* và *buông xuôi* trước hoàn cảnh.
*Câu 5.*
Em *không đồng tình* với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Vì:
Thầy Thu nên tìm cách vượt qua khó khăn, thay đổi tình thế bằng sự cố gắng và ý chí, thay vì chọn giải pháp tiêu cực. Quyết định tự tử không giải quyết vấn đề mà còn gây tổn thương cho gia đình và xã hội.
Câu 1:
Thể loại: Đây là kịch bản kịch nói (hay vở kịch thuộc loại hình kịch bản sân khấu).
Câu 2:
Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Ngôn ngữ đối thoại (hội thoại giữa các nhân vật).
câu 3
Một số lời chỉ dẫn sân khấu thường gặp (ví dụ điển hình trong vở):
"Thầy Thông Thu bước vào, vẻ mặt say rượu, lè nhè...";
"Mẹ thầy ngồi lẩm bẩm cầu khấn, tay cầm hương...";
"Thầy Thông Thu cầm chén thuốc độc, tay run run, nhìn quanh nhà...";
Chỉ dẫn về cử chỉ: "cười khanh khách", "khóc nức nở", "quăng chén xuống đất", "im lặng hồi lâu"...
Vai trò:
Giúp người đọc hình dung rõ hành động, cử chỉ, thái độ, không gian sân khấu của nhân vật.
Tăng tính trực quan, sinh động và kịch tính cho văn bản (vì kịch bản không chỉ để đọc mà chủ yếu để diễn).
Thể hiện tâm lý nhân vật một cách tinh tế (ví dụ: run rẩy khi cầm chén thuốc độc thể hiện sự do dự giữa sống và chết).
Hỗ trợ đạo diễn và diễn viên dàn dựng cảnh, tạo không khí bi kịch, phê phán lối sống sa đọa.
Câu4
Hồi thứ Hai:
Thầy Thông Thu ban đầu vẫn còn ở trạng thái say sưa, vô tư, sa đọa: mê đàn ca, rượu chè, chơi bời, vung tiền như rác.
Khi gia đình bắt đầu gặp khó khăn (nợ nần lộ rõ, gia sản suy kiệt), thầy bắt đầu tỉnh ngộ, xót xa, ân hận vì đã không nghe lời khuyên của bạn (thầy giáo Xuân).
Tâm lý chuyển biến từ vui vẻ, vô trách nhiệm → lo lắng, day dứt, tự trách mình.
Hồi thứ Ba:
Bi kịch lên đến đỉnh điểm: gia đình phá sản, nợ nần chồng chất, nguy cơ tù tội, mất danh dự.
Thầy Thông Thu rơi vào tuyệt vọng, đau đớn tột cùng. Thầy giãi bày trong đoạn độc thoại nổi tiếng: suy ngẫm về cuộc đời mình, trách móc bản thân và xã hội, giữ chút chí khí kẻ sĩ.
Tâm lý thay đổi mạnh: từ day dứt, hối hận → tuyệt vọng, quyết định tìm đến cái chết bằng chén thuốc độc (muốn tự giải thoát để giữ danh dự).
Cuối cùng (theo kịch bản gốc), thầy được bạn khuyên ngăn và có tin vui từ người em gửi tiền về, nên chuyển sang tỉnh ngộ, hy vọng làm lại cuộc đời.
→ Diễn biến tâm lý thầy Thông Thu là một quá trình từ sa đọa → tỉnh ngộ → tuyệt vọng → hướng thiện, thể hiện bi kịch của trí thức thời kỳ chuyển tiếp.
Câu 5
Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu.
Quyết định uống chén thuốc độc của thầy xuất phát từ sự tuyệt vọng trước bi kịch gia đình (phá sản, mất danh dự, tù tội), nhưng đó là lối thoát tiêu cực, hèn nhát. Là một người trí thức có chí khí, thầy nên mạnh mẽ đối mặt với hậu quả, sửa chữa lỗi lầm và đứng lên làm lại cuộc đời thay vì bỏ chạy bằng cái chết. Trong xã hội, con người cần sống có trách nhiệm với gia đình và bản thân; cái chết không giải quyết được vấn đề mà chỉ khiến gia đình thêm đau khổ. May mắn thay, kịch bản gốc đã cho thầy một cái kết tích cực (nhờ bạn khuyên ngăn và tiền cứu trợ), khẳng định thông điệp: vấp ngã thì phải đứng dậy, sống tốt đẹp hơn thay vì tìm đến cái chết. Quyết định ấy chỉ làm bi kịch thêm sâu sắc chứ không phải giải pháp.
Mxkxkz
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại : Kịch
Câu 2: Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức: độc thoại nội tâm (lời thoại của nhân vật Thông Thu).
Câu 3:
Một số lời chỉ dẫn sân khấu:
“Đứng dậy lấy chai… rót vào cốc…”
“Lấy dao mở hộp thuốc phiện…”
“Cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống…”
“(Lại khuấy)” …
Vai trò : Giúp tái hiện hành động, cử chỉ cụ thể của nhân vật.
Làm rõ diễn biến tâm lí giằng xé, do dự, đấu tranh nội tâm.
Tăng tính chân thực và kịch tính cho đoạn trích.
Câu 4:
Diễn biến và sự thay đổi tâm lí của Thông Thu:
Ban đầu (hồi II):
Chán nản, tuyệt vọng, thấy cuộc sống vô nghĩa.
Muốn tìm đến cái chết để giải thoát.
Sau đó (hồi III):
Bắt đầu suy nghĩ về trách nhiệm với mẹ, vợ, em.
Nhận ra nếu chết sẽ bỏ lại gánh nặng cho người thân.
Tâm lí giằng xé giữa sống và chết.
Cuối cùng tạm hoãn cái chết (viết thư cho em, muốn lo liệu).
→ Thể hiện sự thức tỉnh về trách nhiệm và tình cảm gia đình.
Câu 5:
Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của Thông Thu. Bởi lẽ, cái chết không giải quyết được vấn đề mà chỉ làm tăng thêm đau khổ cho những người thân yêu như mẹ, vợ, em. Trong hoàn cảnh khó khăn, con người cần dũng cảm đối mặt và tìm cách vượt qua thay vì trốn tránh. Thông Thu vẫn còn trách nhiệm với gia đình nên việc lựa chọn cái chết là ích kỉ. Tuy nhiên, em cũng cảm thông với sự bế tắc và tuyệt vọng của nhân vật trong xã hội lúc bấy giờ. Qua đó, ta càng thấy cần trân trọng cuộc sống và sống có trách nhiệm hơn.
Kh k
Câu 1: Thể loại Bi kịch (Kịch nói).
Câu 2: Ngôn ngữ kịch, bao gồm: đối thoại, độc thoại và lời chỉ dẫn sân khấu.
Câu 3: * Một số lời chỉ dẫn: (Thở dài), (Nói một mình), (Nhìn chén thuốc), (Hốt hoảng)...
Vai trò: Giúp cụ thể hóa hành động, cử chỉ và tâm trạng nhân vật; hỗ trợ việc dàn dựng sân khấu và giúp người đọc hình dung rõ hơn xung đột kịch.
Câu 4: * Hồi II: Thầy Thông Thu rơi vào trạng thái bế tắc, ân hận và nhục nhã khi nhận ra sự phá sản, sụp đổ của gia đình do lối sống ăn chơi.
Hồi III: Tâm lý chuyển sang cực đoan, hoảng loạn và tuyệt vọng. Thầy giằng xé giữa cái chết và sự sống, cuối cùng quyết định chọn cái chết (chén thuốc độc) như một cách để giải thoát khỏi nợ nần và sự sỉ nhục.
Câu 5: Em không đồng tình với quyết định này. Bởi vì cái chết chỉ là hành động trốn tránh trách nhiệm hèn nhát trước sai lầm của bản thân. Việc thầy tự sát không giải quyết được nợ nần mà còn để lại gánh nặng và nỗi đau quá lớn cho mẹ và vợ con. Trong hoàn cảnh đó, sự dũng cảm đối mặt để sửa chữa sai lầm và làm lại từ đầu mới là lựa chọn đúng đắn và có trách nhiệm hơn.
h
Bìa văn và đềảats hay
Câu 1. Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm). Câu 3. – Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: "Bóp trán nghĩ ngợi". "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.". "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.". "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.". ... – Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu: Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật. Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống). Câu 4. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!"). – Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai). Câu 5. Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý: – Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa. – Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh. – Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược. --- Câu trả lời của bạn Nhập câu trả lời
.
câu 1 : văn bản " chén thuốc độc " thuộc thể loại bi kịch
Câu 2.
Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3.
- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
+ "Bóp trán nghĩ ngợi".
+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy."
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.
+ Thể hiện xung đột nội tâm, giẳng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).
Câu 4.
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:
Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:
Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hăn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi
II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).
Câu 5.
Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:
'. Cái chết trong sự
bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3. (1,0 điểm)
– Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
"Bóp trán nghĩ ngợi".
"Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".
"Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".
"Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".
...
– Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.
Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).
Câu 4. (1,0 điểm)
– Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.
– Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
– Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:
– Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.
– Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh.
– Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1.
Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2.
Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3.
- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
+ "Bóp trán nghĩ ngợi"
+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".
+...
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thế của nhân vật.
+ Thể hiện xung đột nội tâm, giẳng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).
Câu 4.
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:
Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm
"nhớ nhuốc" thanh danh gia đình.
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:
Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát
("Thà rằng một thác cho xong!").
- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ
(Hồi I|) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan
(Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).
Câu 5.
Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:
đến những người thân xung quanh.
- Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1 em không biết
Câu 2 em không biết
Câu 3 em không biết
Câu 4 em không biết
Câu 5 em không biêts
f n d j s j s
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản “Chén thuốc độc” thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3. (1,0 điểm)
– Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
– Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
Câu 4. (1,0 điểm)
– Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:
Tâm lí hối hận và tự sĩ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm “nhơ nhuốc” thanh danh gia đình.
– Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:
Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát (“Thà rằng một thác cho xong!”).
– Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:
– Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.
– Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh.
– Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là “thác trong còn hơn sống đục”. Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. (0,5 điểm) Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm). Câu 3. (1,0 điểm) – Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: "Bóp trán nghĩ ngợi". "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.". "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.". "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.". ... – Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu: Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật. Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống). Câu 4. (1,0 điểm) – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!"). – Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai). Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý: – Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa. – Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh. – Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1:
Văn bản “Chén thuốc độc” thuộc thể loại kịch (chính kịch).
Câu 2:
Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng ngôn ngữ đối thoại (lời thoại của nhân vật).
Câu 3:
Câu 4:
→ Diễn biến: từ lo lắng → đau khổ → tuyệt vọng → hành động bi kịch.
Câu 5 (5–7 dòng):
Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Vì dù hoàn cảnh khó khăn, bế tắc đến đâu, con người vẫn nên tìm cách vượt qua thay vì chọn cách tiêu cực. Cái chết không giải quyết được vấn đề mà còn để lại đau khổ cho người thân. Tuy nhiên, em cũng cảm thông với thầy vì áp lực danh dự và xã hội đã đẩy thầy vào đường cùng. Qua đó, tác phẩm cho thấy cần biết trân trọng cuộc sống và tìm hướng giải quyết tích cực hơn.
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Hình thực ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).
Câu 3. (1,0 điểm)
- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
+ "Bóp trán nghĩ ngợi".
+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy."
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện."
+...
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.
+ Thế hiện xung đột nội tâm, giăng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).
Câu 4. (1,0 điếm)
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh đưa ra quan điếm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:
Ý kiến của Hoài Thanh cho rằng các nhà thơ của Phong trào Thơ mới đã “gửi tình yêu trong tình yêu tiếng Việt” là một nhận định sâu sắc. Trước hết, Thơ mới không chỉ là sự đổi mới về nội dung mà còn là cuộc cách tân mạnh mẽ về ngôn ngữ. Các nhà thơ đã khai thác vẻ đẹp giàu nhạc điệu, hình ảnh và khả năng biểu đạt tinh tế của tiếng Việt để diễn tả cảm xúc cá nhân. Qua từng câu chữ, họ không chỉ bộc lộ tình yêu đôi lứa, thiên nhiên hay cuộc sống mà còn thể hiện tình yêu tha thiết với chính tiếng mẹ đẻ. Chính sự trân trọng và sáng tạo ấy đã làm cho tiếng Việt trở nên mềm mại, giàu sức gợi và giàu cảm xúc hơn. Vì vậy, có thể khẳng định rằng tình yêu tiếng Việt đã được các thi sĩ Thơ mới nâng niu, gửi gắm một cách tinh tế và đầy tự hào.