Đọc văn bản sau.

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

17 tháng 4

câu 1Thể thơ: Tự do.Dấu hiệu: Số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau (có dòng 7 chữ, dòng 8 chữ, dòng 9 chữ...); cách gieo vần và ngắt nhịp linh hoạt, không tuân theo quy tắc cố định của các thể thơ truyền thống.

câu2“Thời gian đi bằng bước chân của gió”: Gợi sự chuyển động nhanh, vô hình nhưng mạnh mẽ.“Ước mơ ta lớn lên / Cha mẹ thêm gần với đất”: Sự đối lập giữa sự trưởng thành của con cái và sự già đi của cha mẹ.Lá vàng đã héo thành than”: Sự biến đổi triệt để của sự vật theo thời gian.

câu3Phép so sánh: "Mặt trời đang dừng trước cửa / Như tấm bê tông nặng nề"

Về nội dung: Cụ thể hóa sự hiện diện của thời gian. Thời gian không còn trừu tượng mà trở nên hữu hình, có khối lượng, gây cảm giác đè nén, áp lực. Nó cho thấy sự ngưng đọng đầy trăn trở của tác giả trước ngưỡng cửa của sự thay đổi. Về nghệ thuật: Tăng sức gợi hình, gợi cảm; tạo ấn tượng mạnh về sự bế tắc hoặc sức nặng của suy ngẫm trong một khoảnh khắc nhất định.

câu4Tác giả nhận ra thời gian trôi qua rất nhanh qua những biến đổi của đời người (con lớn lên, cha mẹ già đi) và thiên nhiên (lá xanh thành lá vàng, héo thành than).

Đồng thời, đó còn là cảm hứng về sự thức tỉnh: con người cần nhìn nhận lại giá trị của cuộc sống hiện tại trước khi mọi thứ trôi tuột mất ("ngoảnh lại bây giờ mới thấy").

câu5Qua bài thơ, em rút ra thông điệp ý nghĩa về giá trị của thời gian và sự trân trọng cuộc sống. Thời gian vốn vô hình nhưng lại có sức mạnh biến chuyển vạn vật, đưa con người từ tuổi trẻ đến sự già nua một cách lặng lẽ. Vì vậy, chúng ta không nên sống hoài phí hay chìm đắm trong những hoài nghi vô ích. Thay vào đó, mỗi người cần biết yêu thương cha mẹ, nỗ lực thực hiện ước mơ và trân quý từng khoảnh khắc hiện tại. Đừng để đến khi "ngoảnh lại", mọi thứ đã tan biến như tro bụi mới cảm thấy hối tiếc.

Câu 1 (0,5 điểm). – Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. – Dấu hiệu để xác định: Số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau, không theo số lượng nhất định; không bị ràng buộc bởi niêm luật; vần điệu linh hoạt.

Câu 2 (0,5 điểm). – Học sinh chỉ ra được 02 hình ảnh thể hiện sự trôi chảy của thời gian. – Gợi ý trả lời: "Thời gian đi bằng bước chân của gió", "Cha mẹ thêm gần với đất", "Lá vàng đã héo thành than!",...

Câu 3 (1,0 điểm). – Biện pháp so sánh: "Ta bé bỏng như là đứa trẻ", "Mặt trời đang dừng trước cửa/ Như tấm bê tông nặng nề". – Tác dụng:

  • Về mặt hình thức: Làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động, từ đó giúp người đọc dễ hình dung, liên tưởng.
  • Về mặt nội dung: Làm nổi bật cảm giác nhỏ bé, bất lực của con người trước thời gian; đồng thời gợi sự nặng nề, chậm chạp, đầy suy tư khi đối diện với dòng chảy thời gian.

Câu 4 (1,0 điểm). Cảm hứng chủ đạo: Đoạn trích thể hiện sự chiêm nghiệm sâu sắc về thời gian, dòng chảy vừa âm thầm vừa khắc nghiệt, khiến con người trưởng thành nhưng cũng đánh mất những gì trong trẻo; qua đó bộc lộ tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối và suy tư về sự đổi thay của đời người.

Câu 5 (1,0 điểm). – Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp. – Gợi ý trả lời: Thông điệp:

  • Thời gian trôi đi không thể quay trở lại, vì vậy mỗi người cần biết trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc sống. Hãy sống có ý nghĩa, biết yêu thương gia đình và giữ gìn những giá trị tốt đẹp của tuổi trẻ.
  • Mỗi người cần ý thức về sự trưởng thành để không lãng phí thời gian vào những điều vô nghĩa, đồng thời biết nhìn lại quá khứ để sống tốt hơn ở hiện tại và tương lai.

câu 1

Số chữ mỗi dòng không đều Không theo niêm luật, vần luật chặt chẽ là thơ tự do.

câu 2:

“Thời gian đi bằng bước chân của gió”

“Nhịp chuông đồng hồ như lửa / Đốt cháy lưới ngày thơ ngây”

câu 3

Làm cho thời gian trở nên cụ thể, hữu hình (như “tấm bê tông nặng nề”, “như lửa”)

nhấn mạnh sự khắc nghiệt, áp lực và sức tàn phá của thời gian, Gợi cảm xúc nặng nề, ám ảnh về sự trôi đi không thể níu giữ

câu 4

Suy ngẫm về sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian

Nhận ra sự thay đổi của con người và cuộc đời (từ thơ ngây đến trưởng thành đến nuối tiếc)

Xen lẫn cảm xúc bâng khuâng, tiếc nuối, chiêm nghiệm

câu 5:

Thời gian trôi đi nhanh chóng và không thể quay lại. Khi còn trẻ, con người thường vô tư nên dễ lãng phí những khoảnh khắc quý giá. Đến khi nhìn lại, ta mới nhận ra nhiều điều đã qua đi và để lại tiếc nuối. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng hiện tại, sống ý nghĩa và không lãng phí thời gian.



29 tháng 4

Câu 1: Số chữ trong các dòng không bằng nhau (dòng 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ...)


Câu 2: Bước chân của gió; Nhịp chuông đồng hồ.


Câu 3: Nhấn mạnh sự nhỏ bé, bất lực của con người trước sự tàn nhẫn và sức nặng của thời gian. Thời gian không còn mơ mộng mà trở nên hữu hình, đè nặng lên kiếp người; Tăng tính hình tượng, gợi cảm hình về nỗi lo âu, trăn trở của nhân vật trữ tình.


Câu 4: Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là sự nuối tiếc và suy ngẫm sâu sắc về sự trôi chảy nhanh chóng, khắc nghiệt của thời gian. Qua đó, tác giả thể hiện nỗi trăn trở về giá trị của đời người và sự hữu hạn của kiếp nhân sinh.


Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất mà văn bản gửi gắm chính là sự trân trọng giá trị của thời gian và từng khoảnh khắc trong cuộc sống. Thời gian trôi đi rất nhanh và không bao giờ trở lại, nó có thể thiêu rụi tuổi trẻ nhưng cũng làm chín muồi những trải nghiệm. Vì vậy, chúng ta không nên sống hoài, sống phí mà cần phải hành động, yêu thương và thực hiện ước mơ ngay từ hôm nay. Đừng để đến khi "lá vàng đã héo thành than" mới ngoảnh lại nuối tiếc thì đã quá muộn màng. Mỗi phút giây trôi qua đều là một món quà quý giá mà chúng ta cần nâng niu.

25 tháng 4

Câu 1:

vì bài thơ không theo nguyên tắc nào

Câu 2:

lớn lên và cha mẹ gần đất

Câu 3: Trong bài thơ "Thời gian" của Đoàn Mạnh Phương, biện pháp tu từ so sánh đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng như thời gian, giúp người đọc cảm nhận được sự vận động và tác động của nó đối với đời sống con người.


Câu 4:

Cảm hứng đầu tiên bắt nguồn từ nhận thức về sự trôi chảy không ngừng của thời gian. Thời gian được ví như một thực thể có quyền năng làm phai nhạt và xóa nhòa mọi thứ

Câu 5:

Giữa một thế giới mà mọi thứ vật chất đều có thể phai tàn, thông điệp lớn nhất là hãy biết nâng niu cái Đẹp  Tình yêu. Đó là những thứ duy nhất có sức mạnh vượt qua sự băng hoại của thời gian. Đừng chỉ mải mê đuổi theo những giá trị nhất thời mà quên đi việc bồi đắp tâm hồn.

Câu 1:Hình ảnh "Thời gian qua kẽ tay": Một cách cụ thể hóa thời gian đầy sáng tạo. Thời gian vốn trừu tượng nhưng ở đây lại hiện hữu như một dòng chảy, len lỏi qua bàn tay con người. Nó nhắc nhở về sự bất lực của con người: chúng ta không thể nắm giữ hay ngăn chặn dòng chảy ấy."Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn": Một hình ảnh so sánh cực kỳ độc đáo. Những kỷ niệm, những sự kiện rơi vào quá khứ không hề vang vọng mà chỉ để lại sự khô khốc, tĩnh mịch và rơi vào quên lãng.

Câu2:

Trong dòng chảy vô tận của vũ trụ, có một thứ tài sản mà mỗi người đều được ban tặng công bằng như nhau nhưng lại là thứ dễ bị lãng phí nhất: đó chính là thời gian. Có ý kiến cho rằng: "Thời gian là vàng bạc", nhưng thực tế, thời gian còn quý giá hơn cả vàng bạc, bởi vàng bạc có thể mua được, còn thời gian một khi đã trôi qua thì vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

Trước hết, thời gian chính là thước đo giá trị của cuộc sống. Mỗi giây phút trôi qua đều gắn liền với những sự kiện, những trải nghiệm và những nỗ lực của con người. Đối với một học sinh, thời gian là cơ hội để tích lũy tri thức, rèn luyện kỹ năng cho tương lai. Đối với một nhà khoa học, thời gian là hành trình tìm tòi để cống hiến cho nhân loại. Nếu không có thời gian, mọi dự định, ước mơ của chúng ta sẽ mãi chỉ nằm trên trang giấy. Thời gian cho phép chúng ta hiện thực hóa lý tưởng và khẳng định giá trị bản thân.

Bên cạnh đó, thời gian còn là "liều thuốc" nhiệm màu. Nó giúp chữa lành những vết thương tâm hồn, giúp chúng ta nhìn nhận lại những sai lầm trong quá khứ để trưởng thành hơn. Theo quy luật tự nhiên, thời gian tạo nên sự thay đổi: hạt mầm cần thời gian để thành cây đại thụ, con người cần thời gian để tôi luyện bản lĩnh. Chính trong sự vận động không ngừng ấy, thời gian giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của sự kiên trì và lòng nhẫn nại.

Tuy nhiên, đặc tính đáng sợ nhất của thời gian là sự hữu hạn và tính một chiều. Không giống như một thước phim có thể tua lại, cuộc đời con người chỉ là một khoảng hẹp trong dòng thời gian vĩnh cửu. Nếu chúng ta chần chừ, lười biếng hoặc đắm chìm vào những thú vui vô bổ, chúng ta đang tự đánh mất đi cơ hội của chính mình. Sự lãng phí thời gian là sự lãng phí đáng tiếc nhất, bởi nó kéo theo sự trì trệ của cả một thế hệ và xã hội.

Hiện nay, trong thời đại công nghệ số, con người dễ dàng bị cuốn vào những vòng xoáy của mạng xã hội, trò chơi điện tử mà quên mất việc quản lý quỹ thời gian của mình. Để sử dụng thời gian hiệu quả, chúng ta cần học cách lập kế hoạch, xác định mục tiêu ưu tiên và sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc hiện tại (mindfulness). Đừng đợi đến ngày mai mới bắt đầu, vì như tục ngữ có câu:"Việc hôm nay chớ để ngày mai".

Tóm lại, thời gian là một món quà vô giá nhưng có hạn kỳ. Hiểu được tầm quan trọng của thời gian không phải để chúng ta sống trong lo âu, vội vã, mà để chúng ta biết trân trọng và sống có ích hơn. Hãy để mỗi phút giây trôi qua đều trở thành một mảnh ghép ý nghĩa trong bức tranh cuộc đời của chính bạn.


24 tháng 4

1. Thuộc thể thơ tự do

2. Hình ảnh "Thơi gian đi bằng bước chân gió" và hình ảnh "cha mẹ thêm gần với đất"

3. Biện pháp so sánh "ta bé bỏng như là đứa trẻ"

-tác dụng: là cho bài thơ trở nên sống động, làm cho người đọc hình dung rõ ràng, làm nổi bật cảm xúc nhỏ bé và làm nổi bất sự bất lực của con người trước thời gian, thời gian cứ trôi đi trôi mãi mà con người thì vẫn không theo kịp

4. Đoạn trích thể hiện sự chiếm hữu sâu sắc về thời gian dòng chảy âm thầm, thầm lặng

5. Thông điệp bài thơ:

Thời gian là một khái niệm không thể nắm bắt, nó đi bằng những bước chân gió khiến con người nhỏ bé không thể nào theo mãi được và lặng lẽ làm thay đổi tất cả. Bài thơ nhắc nhở con người đừng mãi mê với những điều xa vời hay những hoài nghi. Chúng ta phải nhận ra những giá trị quý giá đã dần thay đổi

24 tháng 4

Câu 1 – Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. – Dấu hiệu để xác định: Số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau, không theo số lượng nhất định; không bị ràng buộc bởi niêm luật; vần điệu linh hoạt.

Câu 2 – "Thời gian đi bằng bước chân của gió", "Cha mẹ thêm gần với đất", "Lá vàng đã héo thành than!",... Câu 3 – Biện pháp so sánh: "Ta bé bỏng như là đứa trẻ", "Mặt trời đang đứng trước cửa/ Như tấm bê tông nặng nề". – Tác dụng: + Về mặt hình thức: Làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động, từ đó giúp người đọc dễ hình dung, liên tưởng. + Về mặt nội dung: Làm nổi bật cảm giác nhỏ bé, bất lực của con người trước thời gian; đồng thời gợi sự nặng nề, chậm chạp, đầy suy tư khi đối diện với dòng chảy thời gian.

Câu 4 Cảm hứng chủ đạo: Đoạn trích thể hiện sự chiêm nghiệm sâu sắc về thời gian, dòng chảy vừa âm thầm vừa khắc nghiệt, khiến con người trưởng thành nhưng cũng đánh mất những gì trong trẻo; qua đó bộc lộ tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối và suy tư về sự đổi thay của đời người Câu 5 -Thời gian trôi đi không thể quay trở lại, vì vậy mỗi người cần biết trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc sống. Hãy sống có ý nghĩa, biết yêu thương gia đình và giữ gìn những giá trị tốt đẹp của tuổi trẻ. -Mỗi người cần ý thức về sự trưởng thành để không lãng phí thời gian vào những điều vô nghĩa, đồng thời biết nhìn lại quá khứ để sống tốt hơn ở hiện tại và tương lai. ---


Câu 1:

-Thể thơ: Tự do

- Dấu hiệu xác định: Số chữ mỗi dòng không cố định,cách ngắt nhịp và gieo vần không theo quy tắc nào

Câu 2:

1.”Ước mơ ta lớn lên

Cha mẹ gần thêm với đất”

-Chúng ta có thể hiểu rằng khi mình lớn lên thì cha mẹ sẽ ngày già đi theo thời gian

2.”Lá vàng đã héo thành than”

- Cho thấy được sự tàn phai,thay đổi của mọi thứ theo dòng chảy của thời gian

Câu 3:

Biện pháp tu từ so sánh trong câu:

“Nhịp chuông đồng hồ như lửa”

- Làm hình ảnh thêm sinh động,gợi cảm

-Tăng sức biểu đạt và giá trị của thời gian

Câu 4:

Cảm hứng chủ đạo: Sự tiếc nuối của tuổi thơ và sự trôi đi của dòng chảy thời gian

Câu 5:

Thông điệp:

Qua đoạn trích của Đoàn Mạnh Phương,thông điệp mà đoạn đem lại đến cho em là sự trân trọng giá trị của thời gian,vì mỗi giây mỗi phút trôi qua đều quý giá và nó là một dòng chảy không ngừng nghỉ,nó có thể làm thay đổi mọi thứ.Vì thế,nên chúng ta cần phải sống sao để không lãng phí đi khoảng thời gian chúng ta đang sống.

Câu 1: là thơ tự do vì không theo quy luật nào

Câu 2: lá vàng héo, con lớn lên

Câu 3: Trong bài thơ "Thời gian" của Đoàn Mạnh Phương, biện pháp tu từ so sánh đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng như thời gian, giúp người đọc cảm nhận được sự vận động và tác động của nó đối với đời sống con người

Câu 4: Trong thơ của Đoàn Mạnh Phương, đặc biệt là bài "Thời gian", cảm hứng chủ đạo thường xoay quanh nỗi suy tư về sự hữu hạn của đời người trước dòng chảy vô thủy vô chung của tạo hóa.

Câu 5:Thông điệp đầu tiên là lời nhắc nhở về quy luật nghiệt ngã của tự nhiên: Thời gian là một dòng chảy một chiều, không bao giờ quay lại. Mỗi phút giây trôi qua đều mang theo một phần của cuộc đời, tuổi trẻ và cơ hội. Nhận thức được sự "ngắn ngủi" này không phải để bi quan, mà để chúng ta biết trân trọng giá trị của thời gian hơn



Câu 1

Số chữ mỗi dòng không đều Không theo niêm luật chặt chẽ

Câu 2

“Thời gian đi bằng bước chân của gió” “Năm tháng rộp phồng trên tay”

Câu 3

Làm nổi bật cảm nhận về thời gian nặng nề, chậm chạp (“mặt trời… như tấm bê tông nặng nề”) Tăng tính gợi hình, gợi cảm, giúp người đọc cảm nhận rõ áp lực của thời gian

Câu 4

Cảm hứng chủ đạo: Đoạn thơ thể hiện sự suy ngẫm về sự trôi đi của thời gian và những đổi thay của đời người. Qua đó bộc lộ tâm trạng tiếc nuối, chiêm nghiệm khi nhìn lại những điều đã qua.

Câu 5

Thông điệp: Thời gian trôi đi không bao giờ quay lại, vì vậy mỗi người cần biết trân trọng từng khoảnh khắc trong cuộc sống. Đừng để những ngày tháng trôi qua vô nghĩa rồi mới tiếc nuối. Hãy sống có mục tiêu, biết yêu thương gia đình và quan tâm đến những điều giản dị xung quanh. Đồng thời, cần biết nhìn lại bản thân để không lãng phí tuổi trẻ. Sống tích cực hôm nay chính là cách để không hối hận về sau.


26 tháng 4

Câu 1

Bài thơ trêndduowjc viết theo thể thơ tự do

Dâú hiệu nhận biết là số khổ dòng không xác định , số câu trong câu không cố định , số tiếng trong mỗi câu không đều , có dòng dà dòng ngắn và vần nhịp không tuân thủ theo quy luật nghiêm ngặt

Câu 2

Hai hình ảnh thể hiện sự trôi chảy của bài thơ trên là “Thời gian đi bằng bước chân của gió” là hình ảnh so sánh gợi thời gian trôi nhanh, nhẹ mà khó nắm bắt. “Nhịp chuông đồng hồ như lửa / Đốt cháy lưới ngày thơ ngây” là hình ảnh ẩn dụ cho thời gian không ngừng trôi, làm tuổi thơ và năm tháng dần qua đi.

Câu 3

Biện pháp so sánh ở khổ 2 bài thơ trên là Mặt trời đang đứng trước cửa / Như tấm bê tông nặng nề , Nhịp chuông đồng hồ như lửa Tác dụng:Làm hình ảnh thơ sinh động, giàu sức gợi.Nhấn mạnh sự nặng nề, áp lực của thời gian và bước đi gấp gáp của năm tháng.Gợi cảm giác thời gian trôi nhanh, có sức thiêu đốt tuổi trẻ, qua đó thể hiện sự suy ngẫm của tác giả về giá trị thời gian.

Câu 4

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng suy tư về thời gian và cuộc đời. Qua dòng chảy của thời gian, tác giả bộc lộ những trăn trở về sự đổi thay, sự trôi qua của tuổi trẻ, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ con người phải biết trân trọng thời gian, sống có ý nghĩa.

Câu 5

Qua bài thơ em rút ra được Thông điệp Thời gian trôi qua rất nhanh và không thể quay trở lại, vì vậy con người cần biết trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc sống, sống ý nghĩa, không lãng phí tuổi trẻ và biết quý trọng hiện tại.

26 tháng 4

C1: số chữ của các câu k bằng nhau ( có câu 7 chữ, có câu 8 chữ, có câu 9chữ). => thể thơ tự do.

C2: - thời gian đi bằng bước chân của gió - cha mẹ thêm gần với đất

C3: - làm cho câu thơ trở lên sinh động, giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình gợi cảm. - cụ thể hóa sự trôi chảy của thgian thành nhx hình ảnh hữu hình. - nhấn mạnh sự tàn phá của thgian và tâm trạng trăn trở tiếc nuối của tác giả.

C4:-sự suy ngẫm sâu sắc và nỗi trăn trở đầy tính triết lý về sự trôi chảy nhanh chóng, nghiệt ngã của thời gian.

C5:

Câu 1:

Dấu hiệu là số chữ trong các dòng không bằng nhau (dòng 7, dòng 8), vần nhịp biến hóa linh hoạt theo mạch cảm xúc trăn trở của nhân vật trữ tình.

Câu 2:

- "Bước chân của gió": Gợi sự vô hình, nhanh chóng, không thể cầm nắm hay ngăn chặn.

- "Lá vàng đã héo thành than": Sự tàn phai tuyệt đối, nghiệt ngã của thời gian khi nhìn lại.

Câu 3:

Biện pháp so sánh:

- Làm nổi bật tâm thế nhỏ bé, chông chênh của con người trước dòng chảy mênh mông của vũ trụ.

- Hình ảnh "tấm bê tông nặng nề" cụ thể hóa áp lực tâm lí, sự ngột ngạt khi con người ý thức được sức nặng của tuổi tác và sự hữu hạn.

Câu 4:

Cảm hứng suy tư về triết học nhân sinh. Đó là nỗi đau đớn trước sự tàn phá của thời gian đối với kiếp người, đồng thời là lời tự thức tỉnh đầy ám ảnh về sự trôi chảy của đời người.

Câu 5:

Mỗi cá nhân cần có thái độ sống tỉnh thức. Đừng để thời gian trôi qua trong vô thức để rồi nhận về sự nuối tiếc muộn màng; hãy sống sâu sắc, tận hiến từng khoảnh khắc để "xanh tươi vòm lá" trước khi quy luật nghiệt ngã ập đến.

27 tháng 4

Câu1:

-thể thơ:Tự do

Câu2:

-‘thời gian đi bằng bước chân của gió ‘ ‘cha mẹ thêm gần với đất’

Câu3:

- giúp hình ảnh thơ thêm sinh động ,hấp dẫn hơn

- Làm nổi bật aamr giác nhỏ bé ,bất lực của con người trước thời gian; Đồng thời gợi sự nặng nề ,chậm chạp , đầy suy tư trước dòng thời gian

Câu4:

-thể hiện sự chiêm nghiếm sâu sắc về thời gian dòng chảy vừa âm thaàm vừa khắc nhiệt,khiến con người trưởng thành nhưng cũng mất đi những sự trong trẻo;qua đó bộc lộ tâm trạng bâng khuâng , suy tư và tiếc nối về sự thay đổi của con người qua thời gian

Câu 5:

-thơif gian trôi qua rất nhanh , chỉ đi mà không quay lại . Vì vậy ta nên trân trọng những khoảng thời gian đó . Hãy biết trân trọng gia đình. Biết cách nắm bắt cơ hội .


29 tháng 4

Câu 1: Đoạn trích "Thời gian" của Đoàn Mạnh Phương là những suy tư đầy trăn trở về sự trôi chảy khắc nghiệt của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Giá trị nội dung trước hết nằm ở cách tác giả cụ thể hóa thời gian vốn vô hình thành những hình ảnh hữu hình đầy sức nặng như "bước chân của gió", "tấm bê tông nặng nề". Thời gian không chỉ là dòng chảy tự nhiên mà còn là tác nhân làm thay đổi số phận: khi ước mơ của con người lớn lên cũng là lúc cha mẹ già đi ("gần với đất"). Những hình ảnh đối lập như "vui còn trong mầm hạt" với "buồn đã chín ngọn cây" hay "lá xanh" hóa "thành than" đã nhấn mạnh sự tàn phá nhanh chóng của năm tháng đối với tuổi trẻ và sự ngây thơ. Qua đó, đoạn thơ không chỉ khơi gợi nỗi nuối tiếc, lo âu mà còn thức tỉnh người đọc về giá trị của hiện tại. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta phải đối diện với thời gian bằng thái độ trân trọng, bởi mỗi giây phút trôi qua đều mang theo một phần sự sống không bao giờ trở lại.

Câu 2:

Thời gian là tài sản công bằng nhất nhưng cũng là thứ dễ mất đi nhất của mỗi người. Việc trân trọng thời gian chính là chìa khóa mở ra cánh cửa của thành công và một cuộc đời ý nghĩa.

Trân trọng thời gian trước hết là ý thức được giá trị của từng khoảnh khắc hiện tại. Khác với tiền bạc hay của cải, thời gian là một đại lượng tuyến tính, một khi đã trôi qua sẽ vĩnh viễn không thể lấy lại. Khi biết nâng niu thời gian, chúng ta sẽ sống một cách có kế hoạch, nỗ lực làm việc và học tập để không rơi vào trạng thái trì trệ. Mỗi phút giây được sử dụng hữu ích là một bước tiến gần hơn đến ước mơ, giúp ta tích lũy kiến thức và rèn luyện bản thân.

Ý nghĩa của việc trân trọng thời gian còn nằm ở việc bồi đắp tình cảm. Thời gian giúp chúng ta nhận ra sự già đi của cha mẹ, sự trưởng thành của bạn bè để kịp thời trao đi yêu thương. Người biết quý trọng thời gian sẽ không để những lời xin lỗi hay cảm ơn trở nên muộn màng. Hơn nữa, sống trọn vẹn từng phút giây giúp con người thoát khỏi nỗi ám ảnh của sự hối tiếc. Khi nhìn lại quá khứ, ta có thể tự hào vì đã sống hết mình, đã "cháy" hết công suất cho những đam mê thay vì để thời gian "héo thành than" một cách vô nghĩa.Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhiều người đang lãng phí thời gian vào những thú vui vô bổ trên không gian mạng hoặc đắm chìm trong sự trì hoãn. Đó là lối sống đáng phê phán, bởi lãng phí thời gian chính là lãng phí sự sống.

Tóm lại, thời gian không chờ đợi bất cứ ai. Là những học sinh đang đứng trước ngưỡng cửa của tương lai, chúng ta cần học cách quản lý thời gian khoa học, biến mỗi giây phút thành những giá trị thực tế. Hãy sống sao cho mỗi ngày trôi qua đều là một dấu ấn đáng nhớ, bởi "thời gian là vàng", nhưng giá trị của một cuộc đời nỗ lực còn quý hơn cả vàng mười.

Câu 1:-đoạn trích được viết theo thể thơ tự do -dấu hiệu xác định là số chữ trong thơ không bằng nhau,không theo số lượng nhất định và không bị rằng buộc bởi niêm luật Câu 2:Có 2 hình ảnh thể hiện sự trôi chảy của thời gian -thời gian đi bằng bước chân của gió -ba mẹ thêm gần với đất Câu 3:Biện pháp so sánh:"ta bé bỏng như là đứa trẻ","mặt trời đang dừng trước cửa/như tấm bê tông nặng nề" -Tác dụng: +Về mặt hình thức:Thêm phần sinh động cho bài thơ,tạo cảm giác gần gũi giúp người đọc dễ hình dung rõ ràng về khung cảnh mà tác giả đang kể hơn +Về mặt nội dung:Làm nổi bật cảm giác con người nhỏ bé chỉ nhìn thời gian trôi từng chút mà không thể làm được gì,đồng thời gợi sự chậm chạp mệt mỏi khi đối diện với thời gian Câu 4:Cảm hứng chủ đạo:Bài thơ thể hiện lòng chiêm nghiệm sâu sắc về thời gian,âm thầm lặng lẽ nhưng vô cùng khắc nghiệt,nghiệt ngã khiến con người lớn lên bỏ đi 1 khoảng thời gian trong trẻo,nên thơ qua đó bộc lộ tâm trạng nuối tiếc suy tư về khoảng thời gian lúc trước mà mình đã đi qua Câu 5:Thông điệp:Thời gian không chờ 1 ai vì vậy nên hãy trân trọng mọi khoảnh khắc mà mình có thể biết giữ gìn những hạnh phúc tuổi trẻ mà mình đang bước đi,yêu thương bên cạnh gia đình khi họ vẫn còn ở đây.Tránh làm những việc vô tri làm lãng phí thời gian từng phút trôi qua ở đâu đó lại có người đang đối chọi với căn bệnh quái ác.

16 tháng 5

câu 1

  • Số tiếng trong mỗi dòng thơ không đều nhau.
  • Cách ngắt nhịp linh hoạt, không gò bó.
  • Không bị ràng buộc bởi niêm luật, vần điệu chặt chẽ.

- Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2

  1. “Năm tháng rộp phồng trên tay”
  2. “Nhịp chuông đồng hồ như lửa”

Câu 3

  • Ta bé bỏng như là đứa trẻ
  • Nhịp chuông đồng hồ như lửa

Tác dụng:

  • Làm cho cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh và cảm xúc.
  • Làm cho cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh và cảm xúc.
17 tháng 5

Bài 1.

Câu 1

Dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích là:

  • Số tiếng trong mỗi dòng thơ không cố định.
  • Số dòng trong mỗi khổ thơ linh hoạt.
  • Nhịp điệu phóng khoáng, không bị gò bó bởi niêm luật, vần điệu chặt chẽ.

→ Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.

Hai hình ảnh thể hiện sự trôi chảy của thời gian trong đoạn trích:

  • “Cha mẹ thêm gần với đất”.
  • “Lá vàng đã héo thành than”.

Câu 3.

Biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ thứ hai:

“Ta bé bỏng như là đứa trẻ”.

“Mặt trời đang dừng trước cửa/ Như tấm bê tông nặng nề”.

Tác dụng:

-Làm nổi bật sự nhỏ bé, non nớt của con người trước thời gian vô tận.

-Gợi cảm giác thời gian vừa gần gũi vừa nặng nề, tạo nên những suy tư sâu sắc về đời người.

-Tăng tính biểu cảm và chiều sâu triết lí cho đoạn thơ.

câu 4

Đoạn trích mang cảm hứng chủ đạo là sự suy ngẫm, chiêm nghiệm về thời gian và đời người. Nhà thơ cảm nhận thời gian luôn vận động không ngừng, khiến con người lớn lên, cha mẹ già đi, tuổi trẻ dần mất. Trước dòng chảy ấy, con người nhận ra sự hữu hạn của đời sống, từ đó bộc lộ niềm bâng khuâng, tiếc nuối và khát vọng trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc đời.

câu 5.

Văn bản gửi đến em thông điệp rằng thời gian trôi đi không bao giờ trở lại nên mỗi người cần biết quý trọng từng phút giây của cuộc sống. Thời gian làm con người trưởng thành nhưng cũng khiến tuổi trẻ, niềm vui và những điều đẹp đẽ dần qua đi. Vì vậy, chúng ta cần sống có ý nghĩa, biết yêu thương cha mẹ, trân trọng hiện tại và nỗ lực thực hiện ước mơ của mình. Đừng để khi ngoảnh lại mới tiếc nuối vì đã lãng phí thời gian. Sống tích cực hôm nay chính là cách làm cho cuộc đời trở nên có giá trị hơn.

1.

- Thể thơ : Tự do

- Dấu hiệu :

+ Số chữ / dòng : Không hạn định ( có câu 6 chữ, câu 8 chữ, câu 5 chữ )

+ Số dòng / khổ : Không hạn định

+ Nhịp điệu : Linh hoạt ( 2/2/2/2 ; 3/4 ; 3/2/3 ; 4/2 ; 2/4 ;...)

+ Vần : Linh hoạt ( tay - ngây; sang - than; hạt - cây;...)

2. Hai hình ảnh thể hiện sự trôi chảy của thời gian trong đoạn trích

+ Thời gian đi bằng bước chân của gió

+ Cha mẹ thêm gần với đất

3.

- Biện pháp tu từ : So sánh : " Ta bé bỏng như là đứa trẻ "

- Tác dụng :

+ Giúp câu văn câu thơ thêm sinh động, gợi hình ảnh, cảm xúc, chân thực, sống động, sâu sắc hơn

+ Làm nổi bật sự nhỏ bé của kiếp nhân sinh khi đứng trước dòng chảy vô hạn của thời gian và sự hữu hạn của đời người

+ Thể hiện trạng thái ngỡ ngàng, hoang mang, bất an của tác giả nói riêng và mọi người nói chung

4. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ trên là niềm suy tư, trăn trở sâu sắc pha chút lo âu, xót xa trước dòng chảy khắc nghiệt của thời gian và quy luật hà khắc của một đời người. Trước hết, cảm hứng ấy được khơi nguồn từ sự thức tỉnh về tốc độ trôi chảy mau lẹ và vô hình của thời gian, thời gian không vì ai mà chậm trễ, nó "đi bằng bước chân của gió", cũng tương đương với việc "ước mơ ta lớn lên" thì "cha mẹ thêm gần với đất". Tiếp theo, trạng thái bất an ấy chính là cái tôi cá nhân khi đối diện với vũ trụ bao la, trước cái "thăm thẳm" của thời gian, con người trở nên "bé bỏng như là đứa trẻ", chúng hiện hình là "tấm bê tông nặng nề" hay như "ngọn lửa thiêu đốt". Cuối cùng, cảm hứng ấy kết lại ở niềm nuối tiếc khôn nguôi và sự bừng tỉnh muộn màng khi "ngước lên" thấy "xanh tươi vòm lá" , "ngoảnh lại" thấy "lá vàng đã héo thành than".

5. Qua bài thơ "Thời gian" , tác giả Đoàn Mạnh Phương đã gửi gắm đến người đọc rất nhiều thông điệp như sự trân trọng hiện tại và tình cảm gia đình. Từ đó em nhận thức được giá trị của thời gian, tình cảm gia đình bởi lẽ thời gian là dòng chảy tuyến tính, vô hạn và không vì ai hay điều gì mà lắng đọng, đời người lại vô cùng hữu hạn, chúng ta lớn lên cũng chính là sự già đi của người bên cạnh. Vậy nên thay vì để năm tháng trôi qua hoài phí, sống trong nỗi buồn hoài nghi, mỗi người cần biết yêu thương cha mẹ nhiều hơn; sống chủ động, cống hiến, có trách nhiệm với gia đình, người thân; nuôi dưỡng tình yêu từ trong tâm hồn hay khi còn nhỏ và trân quý từng khoảnh khắc, kỉ niệm, niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Thiết nghĩ, đây không chỉ là thông điệp ý nghĩa với riêng em mà có ý nghĩa với tất cả mọi người.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau. BẦM ƠI! Ai về thăm mẹ quê taChiều nay có đứa con xa nhớ thầm... Bầm ơi có rét không bầm?Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm runChân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Mạ non bầm cấy mấy đonRuột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thânMưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

BẦM ƠI!

Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...

Bầm ơi có rét không bầm?
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

(Trích Bầm ơi – Tố Hữu, Việt Bắc, NXB Văn học, 1962)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 3. Hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào qua những dòng thơ: "Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non", "Mưa phùn ướt áo tứ thân"?

Câu 4. Qua hai dòng thơ cuối: "Con đi đánh giặc mười năm / Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi", em hiểu gì về tình cảm và sự thấu hiểu mà người con dành cho mẹ của mình?

Câu 5. Từ văn bản, em có suy nghĩ gì về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 9 2025

Câu 1.
Trả lời: Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2
Trả lời: Văn bản viết về tình yêu thương và công lao vĩ đại của mẹ, thể hiện qua hình ảnh bàn tay mẹ chăm sóc, bảo vệ và ru con.

Câu 3 là gì b

29 tháng 4

chị viết chi tiết thêm tí nữa là em hiểu liền [ko có ý định gì đâu chỉ là chưa hiểu thôi ]

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: MẸCon bị thương, nằm lại một mùa mưaNhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽNhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhàTrái chín rụng suốt mùa thu lộp độpNhững dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đàoCon nhạt miệng, có...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

MẸ

Con bị thương, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.

Nhớ vườn cây che bóng kín sau nhà
Trái chín rụng suốt mùa thu lộp độp
Những dãy bưởi sai, những hàng khế ngọt,
Nhãn đầu mùa, chim đến bói lao xao...

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Ba con đầu đi chiến đấu nơi xa
Tình máu mủ mẹ dồn con hết cả,
Con nói mớ những núi rừng xa lạ
Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê!

“Ông mất lâu rồi...” – Mẹ kể con nghe
Những chuyện làm ăn, những phen luân lạc,
Mắt nhoà đục và mái đầu tóc bạc
Cả cuộc đời chèo chống bấy nhiêu năm...

Những lúc hiếm hoi, mưa tạnh, trời trăng,
Mẹ hể hả ngắm con hồng sắc mặt
Con ra ngõ, núi chập chùng xanh ngắt
Lại tần ngần nói với mẹ ngày đi.

Mẹ cười xoà, nước mắt ứa trên mi:
– “Đi đánh Mỹ, khi nào tau có giữ!
Súng đạn đó, ba lô còn treo đó,
Bộ mi chừ đeo đã vững hay chăng?”

... Ôi mẹ già trên bản vắng xa xăm
Con đã đi rồi, mấy khi trở lại?
Dằng dặc Trường Sơn những mùa gió trái
Những mùa mưa bạc trắng cả cây rừng!

Con qua đâu thấy mái lá, cây vườn,
Cũng đất nước, phơ phơ đầu tóc mẹ...
Từng giọt máu trong người con đập khẽ,
Máu bây giờ đâu có của riêng con?

                                      1972

     (Bằng Việt, in trong Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội nhà văn, 2010)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ.

Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?

Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ dưới đây.

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?

4
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Không có niêm luật, vần rõ ràng cố định, độ dài các câu và khổ thơ linh hoạt, giúp tác giả tự do bộc lộ cảm xúc trữ tình.


Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
Nhân vật trữ tình là người con đang trưởng thành, từng trải qua chiến tranh, nhớ về mẹ và gia đình ở quê hương.


Câu 3. Người mẹ trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất nào?
Người mẹ được khắc họa với những phẩm chất:

  • Hiền hậu, ân cần và lặng lẽ: luôn chăm sóc con một cách tận tụy nhưng âm thầm, không phô trương.
  • Hy sinh, tận tụy: dồn hết tình máu mủ cho con, chèo chống gia đình sau khi chồng mất.
  • Kiên cường, chịu đựng gian khó: chèo chống cuộc sống, chăm sóc con giữa chiến tranh và khó khăn.
  • Tình thương vô bờ bến: mẹ luôn lo lắng cho sức khỏe, sự an toàn và tương lai của con.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:

Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.

  • Biện pháp tu từ: miêu tả giàu hình ảnh, đối lập và ẩn dụ.
    • Đối lập: “Con xót lòng – mẹ hái trái bưởi đào”, “con nhạt miệng – mẹ nấu canh” thể hiện sự quan tâm âm thầm nhưng sâu sắc của mẹ.
    • Miêu tả chi tiết sinh động: các món ăn, khói bếp gợi lên hình ảnh ấm áp, bình dị nhưng chan chứa tình mẹ.
  • Tác dụng: Khắc họa tình mẫu tử chân thực, gợi cảm giác ấm áp, thương yêu và ân cần mà mẹ dành cho con, làm nổi bật hình ảnh mẹ hiền hậu, yêu thương con vô bờ.

Câu 5. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện những tình cảm nào dành cho người mẹ?
Nhân vật trữ tình bộc lộ:

  • Nỗi nhớ da diết, xót xa khi nghĩ về mẹ và tuổi thơ bên gia đình.
  • Tình thương, sự biết ơn sâu sắc đối với công lao, hy sinh và tình yêu vô bờ của mẹ.
  • Nỗi lo lắng, ray rứt khi phải rời quê hương, đi chiến đấu xa nhà, sợ mẹ vất vả, tuổi già cô đơn.
  • Sự trân trọng và xúc động trước hình ảnh mẹ già, chịu đựng gian khổ nhưng vẫn quan tâm chăm sóc con.

Nếu bạn muốn, tôi có thể viết lại toàn bộ đáp án theo dạng gọn gàng, đầy đủ, trình bày sẵn sàng nộp bài thi cho lớp 9, giúp dễ học và ghi nhớ. Bạn có muốn tôi làm không?


29 tháng 4

em cũng ko biết vì tại sao bài lại dài thế

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

(Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn giữ trọn đạo làm vợ và làm dâu, chăm lo cho chồng ăn học. Học được nửa năm, Tống Trân thi đậu Trạng nguyên, được vua ban áo mão và gả công chúa cho chàng. Tống Trân lấy cớ nhà nghèo mà từ chối. Tống Trân phải trải qua nhiều thử thách hiểm nguy trong thời gian đi sứ nước Tần. Ở quê nhà, Cúc Hoa rơi vào mưu kế của trưởng giả, gả nàng đi cho một người khác. Cùng lúc ấy, Tống Trân trên đường về, biết rõ nguồn cơn và xuất hiện trong ngày rước dâu. Chàng xét xử phân minh rồi đoàn tụ với mẹ và vợ.)

TỐNG TRÂN – CÚC HOA

Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền

Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.

Khó nghèo có mẹ có con,

Ít nhiều gạn sẻ(1) vẹn tròn cho nhau

Lòng con nhường nhịn bấy lâu

Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng

Cúc Hoa nước mắt hai hàng:

"Lạy mẹ cùng chàng chớ quản(2) tôi

Gọi là cơm tấm canh lê(3)

Mẹ ăn đỡ dạ kẻo khi võ vàng(4)

Chàng ăn cho sống mình chàng,

Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là.

Kể chi phận thiếp đàn bà,

Khó nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương".

Thương con mẹ giấu cho vàng,

Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.

Cúc Hoa trong dạ đinh ninh:

"Lạy mẹ còn có chút tình thương con".

Tức thì trở lại phòng môn,

Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng:

"Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,

Nay vàng mẹ thiếp cho dùng một chương".

Kể đoạn Cúc Hoa bán vàng,

Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người.

Hai bên giá cả hẳn hoi,

Bắc cân định giá được ngoài tám mươi.

Cúc Hoa trở lại thư trai(5)

"Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho hay.

Thiếp xin rước một ông thầy,

Để chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi".

Một ngày ba bữa chẳng rời,

Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.

Nàng thời nhiều ít cũng xong

Đói no chẳng quản miễn chồng làm nên.

Khấn trời lạy Phật đòi phen:

"Chứng minh phù hộ ước nguyền chồng tôi.

Khuyên chàng khuya sớm hôm mai,

Cố chăm việc học đua tài cho hay.

Một mai, có gặp rồng mây(6)

Bảng vàng(7) may dược tỏ bày họ tên

Trước là sạch nợ bút nghiên

Sau là thiếp cũng được yên lòng này".

(Theo bản in của NXB Phổ thông Hà Nội năm 1961,
Bùi Thức Phước sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012)

Chú thích:

(1) Gạn sẻ: Gạn – chắt lọc và sẻ – chia sớt, chia nhỏ.

(2) Quản: E ngại, ngần ngại. Chớ quản: Không cần ngần ngại, quan tâm.

(3) Canh lê: Canh nấu bằng rau lê, những gia đình nghèo khó thường ăn loại rau này.

(4) Võ vàng: Gầy gò, da dẻ xanh xao, không được hồng hào vì thiếu máu.

(5) Thư trai: Phòng đọc sách, phòng học.

(6) Rồng mây: Hội rồng mây, cơ hội để mọi người thi đậu làm nên danh phận cao sang như rồng gặp mây.

(7) Bảng vàng: Danh sách ghi tên những người thi đỗ.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Có những nhân vật nào xuất hiện trong văn bản?

Câu 3. Trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống của Tống Trân và Cúc Hoa hiện lên như thế nào? Hoàn cảnh sống ấy có vai trò gì trong việc thể hiện số phận nhân vật?

Câu 4. Thông qua mối quan hệ với mẹ chồng, Cúc Hoa có phẩm chất nào đáng quý? Những chi tiết nào giúp em nhận thấy điều đó?

Câu 5. Ước mơ "bảng vàng rồng mây" trong lời khấn nguyện của Cúc Hoa thể hiện mong muốn, khát vọng gì của nhân dân? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Nhân vật xuất hiện: Cúc Hoa, Tống Trân, mẹ chồng Cúc Hoa.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2),
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

(Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net)

* Chú thích:

(1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.

(2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân.

(3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.

(4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.

(5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.

(6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi.

(7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ.

Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã làm gì? Em có nhận xét gì về những hành động ấy?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng gì? Qua tâm trạng đó, em có suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống hoà bình hiện nay?

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi tin chồng

“Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.”

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2),
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

(Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net)

* Chú thích:

(1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.

(2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân.

(3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.

(4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.

(5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.

(6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi.

(7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ.

Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã làm gì? Em có nhận xét gì về những hành động ấy?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong văn bản.

Câu 5. Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng gì? Qua tâm trạng đó, em có suy nghĩ gì về giá trị của cuộc sống hoà bình hiện nay?

1

Xhhxjhgdijd

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: BÀ MÁ HẬU GIANG (Tố Hữu) Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười... Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt? Má già run, trán toát mồ hôi Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi! Gót giày đâu đã đạp rơi liếp...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

BÀ MÁ HẬU GIANG
(Tố Hữu)

Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
Một mình má, một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...
Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
Má già run, trán toát mồ hôi
Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!

Hắn rướn cổ, giương mi, trơn mắt
Như hổ mang chợt bắt được mồi
Trừng trừng trông ngược trông xuôi
Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
Hắn rống hét: "Con bò cái chết!
Một mình mày ăn hết này sao?
Đừng hòng che được mắt tao
Khai mau, du kích ra vào nơi đâu?
Khai mau, tao chém mất đầu!"
Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
Má già nhắm mắt, rưng rưng
"Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Má có chết, một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây!"
Thằng kia bỗng giậm gót giày
Đạp lên đầu má: "Mẹ mày, nói không?"
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
"Các con ơi! Má quyết không khai nào!"
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
Má hét lớn: "Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay, có các con tao trăm vùng!
Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
Thân tao chết, dạ chẳng sờn!".

(Trích tập thơ Từ ấy, NXB Văn Học)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Sự việc gì đã xảy ra trong văn bản "Bà má Hậu Giang"?

Câu 3. Chỉ ra những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc. Em có nhận xét gì về nhân vật này?

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!

Câu 5. Từ hình tượng bà má trong văn bản, em có suy ngẫm gì về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2

Câu 1

Văn bản "Bà má hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát

Câu 2

Sự việc xảy ra trong văn bản :một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích

Câu 3

-Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc

+Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạ

+Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích

+Đe dọa chém đầu khi bà má không khai

+Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp

-Nhận xét về nhân vật tên giặc

+Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo hung hãn mất nhân tính

+Hẳn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược gieo rắc đau thương và mất mát cho nhân dân ta

Câu 4

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm

-Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh

+Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến

+Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của ba má về những người lính ,người con của cách mạng

+Hình ảnh so sánh gần gũi ,bình dị, tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài thơ

Câu 5

Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc

-Nhân dân dù gian khổ ,hiểm nguy với một lòng trung thành với cách mạng sẵn sàng hi sinh để bảo vệ tổ quốc

-Tinh thần kiên cường ,bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi nguy hiểm ,áp bức sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ Lý tưởng

-Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi Bản năng để đứng vững chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần

Câu 1. Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ song thất lục bát.

Câu 2. Trong văn bản đã xảy ra sự việc: bà má Hậu Giang bị tên giặc bắt, tra tấn dã man vì che giấu, nuôi cán bộ cách mạng, nhưng bà vẫn một lòng trung kiên, không khai báo.

Câu 3. Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc: Đánh đập, tra tấn bà má tàn nhẫn Đe dọa, ép bà khai ra cán bộ cách mạng → Nhận xét: Tên giặc là kẻ hung bạo, vô nhân tính, tàn ác, đại diện cho thế lực xâm lược tàn bạo.

Câu 4. Biện pháp tu từ: So sánh “Con tao, gan dạ anh hùng / Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm” → Tác dụng: Làm nổi bật lòng dũng cảm, khí phách anh hùng của con người miền Nam; đồng thời gợi vẻ đẹp mạnh mẽ, bền bỉ và cao quý của con người gắn với thiên nhiên quê hương.

Câu 5. (5–7 dòng) Qua hình tượng bà má Hậu Giang, em cảm nhận được tinh thần yêu nước sâu sắc của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến. Dù chỉ là người dân bình thường, bà vẫn sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ cách mạng. Bà đại diện cho những người mẹ Việt Nam anh hùng, giàu lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Chính tinh thần ấy đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta chiến thắng kẻ thù. Em cảm thấy rất xúc động và tự hào về truyền thống ấy.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: BÀ MÁ HẬU GIANG (Tố Hữu) Má già trong túp lều tranh Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô Một mình má, một nồi to Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười... Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt? Má già run, trán toát mồ hôi ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

BÀ MÁ HẬU GIANG
(Tố Hữu)

Má già trong túp lều tranh
Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
Một mình má, một nồi to
Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...
Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt?
Má già run, trán toát mồ hôi
Chạy đâu? Thôi chết, chết rồi!
Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!

Hắn rướn cổ, giương mi, trơn mắt
Như hổ mang chợt bắt được mồi
Trừng trừng trông ngược trông xuôi
Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
Hắn rống hét: "Con bò cái chết!
Một mình mày ăn hết này sao?
Đừng hòng che được mắt tao
Khai mau, du kích ra vào nơi đâu?
Khai mau, tao chém mất đầu!"
Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
Má già nhắm mắt, rưng rưng
"Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Má có chết, một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây!"
Thằng kia bỗng giậm gót giày
Đạp lên đầu má: "Mẹ mày, nói không?"
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
"Các con ơi! Má quyết không khai nào!"
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
Má hét lớn: "Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay, có các con tao trăm vùng!
Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
Thân tao chết, dạ chẳng sờn!".

(Trích tập thơ Từ ấy, NXB Văn Học)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

Câu 2. Sự việc gì đã xảy ra trong văn bản "Bà má Hậu Giang"?

Câu 3. Chỉ ra những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc. Em có nhận xét gì về nhân vật này?

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ dưới đây.

Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!

Câu 5. Từ hình tượng bà má trong văn bản, em có suy ngẫm gì về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

3
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Trong văn bản, sự việc xảy ra là: tên giặc xông vào túp lều, tra hỏi, đe dọa bà má Hậu Giang để dò la chỗ ở của du kích. Dù bị uy hiếp, bà má kiên quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân.

Câu 3.
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:

  • Đạp rơi liếp mành, nghênh ngang vào nhà.
  • Hét lớn, hăm dọa “khai mau, tao chém mất đầu”.
  • Đạp lên đầu bà má, kề gươm lạnh toát vào hông.
    → Những hành động đó cho thấy bản chất tàn bạo, dã man, vô nhân tính của kẻ thù xâm lược.

Câu 4.
Hai dòng thơ:
“Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!”

→ Biện pháp tu từ: so sánh (so sánh con của má với rừng đước, rừng chàm).
→ Tác dụng: Làm nổi bật sức mạnh, tinh thần gan dạ, anh hùng của những người con kháng chiến; đồng thời ca ngợi sức sống bền bỉ, kiên cường, giàu sức mạnh của nhân dân miền Nam.

Câu 5.
Hình tượng bà má Hậu Giang đã gợi cho em suy ngẫm sâu sắc về tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Dù là người mẹ già yếu đuối, bà má vẫn kiên cường, bất khuất trước quân thù, quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân. Qua đó, ta thấy được sức mạnh phi thường của những con người bình dị khi đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần yêu nước ấy chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua gian khổ, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

câu 1 văn bản trên được viết theo thể thơ tự do

câu 2 sự việc xảy ra trong văn bản lề 1 tên giặc tây xông vào túp lều của bé Hậu Giang xe hội mẹ về nơi ở của du kích và đe dọa hành hạ mà để buộc má phải khai bí mật

câu 3 những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc

+ cầm gươm xông vào nhà nghênh ngang ,hống hách

+ rộng hét, đe dọa chém đầu má già

+ đạp lên đầu má, dùng vũ lực tra khảo

câu 4 :biện pháp tu từ so sánh(" gan dạ anh hùng như rừng nước mặn như rừng tràm thơm")

- tác dụng: làm nổi bật tinh thần dũng cảm mạnh mẽ của các con và nhân dân vùng U Minh, thể hiện niềm tin ,niềm tự hào của má vào thế hệ kháng chiến ;đồng thời tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ

câu 5: hình tượng bà má Hậu Giang cho thấy tinh thần yêu nước vô cùng cao đẹp của nhân dân ta. Dù tuổi già, sức yếu, mẹ vẫn kiên cường phải không sợ hy sinh, quyết không khai bí mật cho giặc.Tình yêu nước ấy xuất phát từ lòng căm thù giặc sâu sắc về niềm tin vào thế hệ con cháu . Trong mọi hoàn cảnh , nhân dân ta luôn một lòng bảo vệ tổ quốc . Chính tinh thần bất khuất đó đã làm sức mạnh chiến thắng của dân tộc

Câu 1.a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong...
Đọc tiếp

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản "Bếp lửa" Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

– Xác định được các ‎ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ‎ý‎:

c1. Chỉ ra các yếu tố luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong bài viết:

– Luận đề: Vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh người bà và bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

– Các luận điểm:

+ Luận điểm 1: Sự sóng đôi của hình tượng bếp lửa và bà.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kí ức của cháu về bà.

++ Lí lẽ 2: Mùi khói gắn liền với sự hi sinh, vất vả của bà trong những năm tháng đói nghèo. (Bằng chứng: Câu văn trong tác phẩm Vợ nhặt)

++ Lí lẽ 3: Hình ảnh bếp lửa và bà gắn với tiếng chim tu hú khắc khoải. (Bằng chứng: Tu hú kêu trên những cánh đồng xa, Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?)

++ Lí lẽ 4: Hình ảnh bếp lửa và bà trong những năm giặc giã. (Bằng chứng: Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,/ Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ".)

+ Luận điểm 2: Ngọn lửa tượng trưng cho vẻ đẹp lặng thầm của người phụ nữ Việt.

++ Lí lẽ 1: Hình ảnh bếp lửa trong sự tả thực đã chuyển hoá thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và của sức sống con người. (Bằng chứng: kì lạ và thiêng liêng, Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

++ Lí lẽ 2: Người đàn bà dưới mái ấm gia đình trong mọi trường hợp thường gắn liền với những gì thường nhật, thân thiết nhất. (Bằng chứng: Người mẹ dân tộc A-va trong Cha và mẹ, lửa và nước)

c2. Nhận xét về mối quan hệ giữa các yếu tố kể trên: Các yếu tố kể trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hướng đến việc làm rõ cho luận điểm và tập trung làm sáng tỏ cho luận đề của bài viết. Sự kết hợp giữa các yếu tố kể trên góp phần làm tăng sức thuyết phục cho văn bản.

Câu 2.

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 ± 100 chữ).

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách con người.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:

HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:

c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

c2. Thân bài:

* Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:

– Giải thích các khái niệm:

+ Tình cảm gia đình: Là tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, trách nhiệm, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình với nhau.

+ Nhân cách: Là những phẩm chất, đặc điểm tâm lí, tính cách, đạo đức của một con người, được hình thành và thể hiện qua thái độ, hành vi trong cuộc sống.

– Ý nghĩa của tình cảm gia đình đối với việc hình thành nhân cách:

+ Là cái nôi nuôi dưỡng phẩm chất con người: Gia đình là trường học đầu tiên, nơi con người học được những bài học đạo đức cơ bản nhất (lòng yêu thương, sự sẻ chia, lòng biết ơn, sự bao dung, trách nhiệm,...). Tình cảm gia đình sẽ nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người có một trái tim nhân ái.

+ Là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trên đường đời: Tình cảm gia đình mang đến sự an toàn, che chở, giúp con người có đủ nghị lực để đối mặt và vượt qua khó khăn, thất bại trong cuộc sống.

+ Là kim chỉ nam có tác dụng định hướng cho con người: Gia đình truyền tải những giá trị văn hoá, truyền thống, giúp con người định hình lẽ sống, mục tiêu, lý tưởng, từ đó có định hướng rõ ràng trong cuộc đời. 

– Thực trạng về tình cảm gia đình hiện nay:

+ Mặt tích cực: Nhiều gia đình vẫn giữ gìn được sự ấm áp, truyền thống tốt đẹp, là điểm tựa cho các thành viên.

+ Mặt tiêu cực: Trong xã hội hiện đại, nhịp sống hối hả, áp lực công việc, sự phát triển của công nghệ và lối sống cá nhân hoá đang khiến khoảng cách giữa các thế hệ gia tăng, tình cảm gia đình đôi khi bị xao nhãng (ví dụ: thiếu giao tiếp, ít thời gian bên nhau).

– Hậu quả khi thiếu vắng tình cảm gia đình: Khi thiếu vắng tình yêu thương, sự quan tâm từ gia đình, con người dễ trở nên ích kỉ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, hoặc sa ngã vào những tệ nạn xã hội,...

– Giải pháp để vun đắp tình cảm gia đình trong bối cảnh hiện nay:

+ Mỗi thành viên cần chủ động dành thời gian chất lượng cho nhau (cùng ăn cơm, trò chuyện, tham gia các hoạt động chung).

+ Thế hệ trẻ cần học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với ông bà, cha mẹ; đồng thời, người lớn cũng cần cởi mở, tôn trọng sự khác biệt của giới trẻ.

+ ...

c3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề được nghị luận.

0
(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: QUÊ HƯƠNG (Trích) Quê hương là một tiếng veLời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơiQuê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơTôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diềuLà cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quêChợ trưa mong mẹ mang về...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

QUÊ HƯƠNG
(Trích)

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

(Nguyễn Đình Huân

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "".

Câu 3. Em có nhận xét gì về ước mơ của những người lính được thể hiện trong những dòng thơ dưới đây?

"chừng nào thật hoà bình
ra lộ bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích"

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.

Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết”tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.

Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.

Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.

Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.

20 tháng 11 2025

Câu 1. Thể thơ của văn bản

Thể thơ lục bát.


Câu 2. Đề tài của văn bản

Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.


Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính

→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽtâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.


Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”

→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.

  • Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
  • Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
    Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.

Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích

→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:Chuyện Lý tướng quân "Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

Chuyện Lý tướng quân

"Vua Giản Định nhà Hậu Trần lên ngôi ở Mô Độ(1), hào kiệt bốn phương, gần xa hưởng ứng, đều chiêu tập đồ đảng làm quân Cần Vương. Người huyện Đông Thành(2) là Lý Hữu Chi cũng do chân một người làm ruộng nổi lên, tính vốn dữ tợn nhưng có sức khỏe, giỏi đánh trận, Quốc công Đặng Tất(3) tiến cử cho Lý được làm chức tướng quân, sai cầm một cánh hương binh đi đánh giặc. Quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép, dựa lũ trộm cướp như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem về. Người trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ đổi, ai nấy đều vai sưng tay rách, rất là khổ sở, nhưng hắn vẫn điềm nhiên không chút động tâm.

Bấy giờ có một ông thầy tướng số đến cửa xin ăn và có thể nói được những việc họa phúc. Lý bảo xem tướng mình, ông thầy nói:

– Lợi cho việc làm không gì bằng nói thẳng, khỏi được tật bệnh không gì bằng thuốc đắng. Nếu ngài dung nạp thì tôi sẽ nói hết lời. Đừng vì đắng miệng mà ghét quở khiến tôi phải e dè kiêng tránh mới được.

Lý nói:

– Được, không hề gì.

Ông thầy nói:

– Điều thiện ác tích lâu sẽ rõ, sự báo ứng không sai chút nào. Cho nên luận số trước phải luận lý, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay Tướng quân có dữ mà không lành, khinh người mà trọng của, mượn oai quyền để làm bạo ngược, buông tham dục để thỏa ngông cuồng, đã trái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào mà trốn khỏi tai họa!

Lý cười:

– Ta đã có binh lính, có đồn lũy, tay không lúc nào rời qua mâu, sức có thể đuổi kịp gió chớp, trời dù có giỏi cũng sẽ phải tránh ta không kịp, còn giáng hoạ cho ta sao được.

Thầy tướng nói:

– Tướng quân cậy mình mạnh giỏi chưa thể lấy lời nói để cho hiểu được, vậy tôi có chùm hạt châu nhỏ, xin đưa tướng quân xem sẽ biết rõ dữ lành, tướng quân có bằng lòng xem không?

Nhân lấy chùm hạt châu ở trong tay áo ra. Lý trông xem, thấy trong đó có lò lửa, vạc sôi, bên cạnh có những người đầu quỷ ghê gớm, hoặc cầm thừng chão, hoặc cầm dao cưa, mình thì đương bị gông xiềng, bò khúm núm ở bên vạc dầu, lấm lét sợ toát mồ hôi. Hỏi có cách gì cứu gỡ không, thì thầy tướng nói:

– Gốc ác đã sâu, mầm vạ sắp nẩy. Cái kế cần kíp ngày nay chỉ còn có đuổi hết hầu thϊếp, phá hết vườn ao, trút bỏ binh quyền, quy đầu phúc địa, tuy tội chưa thể khỏi được, nhưng cũng còn có thể giảm trong muôn một.

Lý ngẫm nghĩ lúc lâu rồi nói:

– Thôi thầy ạ, tôi không thể làm thế được. Có ai lại vì lo cái vạ sau này chưa chắc đã có, mà vứt bỏ những cái công cuộc sắp thành làm hì hục trong mấy năm bao giờ.

Sau đó hắn càng làm những sự dâm cuồng, chém giết, không kiêng dè gì cả. Người mẹ tức giận nói:

– Ưa sống ghét chết, ai ai cũng lòng, đạo trời sáng tỏ, cớ sao mày hay làm những sự giết chóc như vậy. Không ngờ ta đến lúc tuổi già, lại phải trông thấy đứa con mắc hình lục có ngày. […] Năm 40 tuổi thì Lý chết ở nhà.

Trước đây có người bản châu là Nguyễn Quỳ, khảng khái chuộng điều khí tiết, vốn cùng chơi thân với Thúc Khoản(4), nhưng chết đã ba năm nay rồi. Một hôm Thúc Khoản đi chơi sớm, chợt gặp ở đường; Nguyễn Quỳ bảo Thúc Khoản rằng:

– Phụ thân sắp bị đem ra tra hỏi. Tôi vì quen thân với anh, nên đến bảo cho anh biết trước. Anh có muốn xem, tối mai tôi cho người đến đón, anh sẽ được xem. Nhưng xem rồi cần phải giữ kín. Nếu nói hở ra một lời thì tai vạ sẽ lây sang đến tôi ngay.

[Lược một đoạn: Nửa đêm hôm đó, Thúc Khoản được đón xuống dưới Minh Ti, chứng kiến cảnh xét tội của các linh hồn. Thúc Khoản được tận mắt chứng kiến các phán quan tâu bày tội trạng, công lao của những người ấy. Người làm việc ác bị định tội, người hành thiện tích đức thì được làm tiên hoặc được cho chuyển kiếp vào nhà có phúc, hưởng lộc ba đời,… Đến lượt Hữu Chi, vì những tội ác chồng chất mà hắn đã từng gây ra, hắn đã bị trừng trị bằng những hình phạt vô cùng đau khổ: Lấy nước sôi rửa ruột để trị cái tội ghẹo vợ người, lấy truỳ thủ moi ruột để lòng tham không nổi lên nữa, bị đày vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, bị chim cắt mổ vào ngực, bị rắn độc cắn vào bụng, trầm luân kiếp kiếp. Thúc Khoản chứng kiến hết thảy, giật mình tỉnh dậy ở cõi thực. Chàng quyết định đem tán cấp của cải cho mọi người và đốt hết văn tự nợ, vào rừng hái thuốc để tu luyện.]

Lời bình:

Than ôi! Đạo trời chí công mà vô tư, lưới trời tuy thưa mà chẳng lọt, cho nên hoặc có người lúc sống khỏi vạ mà lúc chết bị hình. Song, chịu hoạ ở lúc sống, người đã không hiểu, phải tội ở lúc chết, người lại không hay; vì thế mà đời thường có lắm loạn thần tặc tử. Ví thử họ hiểu, họ hay thì dù bảo làm ác cũng không dám làm. Song Lý Mỗ đã trông thấy và biết rõ rồi lại còn làm tệ hơn. Đó là người hư tồi bậc nhất không chuyển đổi được, không còn thể nói bàn gì nữa."

(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, theo truyenhdt.com)

Chú thích:

(1) Mộ Đô: Yên Mô, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

(2) Đông Thành: Huyện Đông Thành, nay thuộc Nghệ An.

(3) Đặng Tất: (Không rõ năm sinh, mất năm 1409) Một võ tướng giỏi và chủ chốt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Trần Giản Định khởi xướng. Năm 1408, Đặng Tất chỉ huy đánh trận Bô Cô, giết được hai tướng Minh; Mộc Thạnh cũng suýt bị nguy, may chạy thoát. Cũng vì chiến công đó, Giản Định nghe lời gièm pha, không theo kế hoạch của Đặng Tất lại giết oan ông. Con trai Đặng Tất là Đặng Dung đã tức giận bỏ về Nghệ An đi theo Trần Quý Khoáng.

(4) Thúc Khoản: Con trai của Lý Hữu Chi.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.   

Câu 3. Theo em, nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Nhân vật ấy được mô tả với những nét tính cách nào?  

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện và nêu tác dụng của chi tiết ấy.

Câu 5. Phát biểu ý nghĩa của văn bản trên và rút ra bài học cho bản thân. (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
18 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì (truyện tự sự trung đại), trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Câu 2.

Ngôi kể thứ ba.

Câu 3.

Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

Tính cách: tàn ác, dâm cuồng, tham lam, coi thường đạo lí và lời khuyên, biết luật nhân quả nhưng vẫn cố tình làm ác.

Câu 4.

Chi tiết hoang đường, kì ảo: Thúc Khoản được xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xét tội các linh hồn và hình phạt ở cõi âm.

Tác dụng: tăng sức hấp dẫn cho truyện, khắc sâu tư tưởng nhân quả – thiện ác báo ứng, răn đe con người.

Câu 5.

Văn bản khẳng định đạo trời công bằng, gieo nhân nào gặt quả nấy; kẻ làm ác dù thoát tội lúc sống cũng không tránh khỏi trừng phạt. Truyện phê phán những kẻ cố chấp, bất nhân và đề cao lối sống hướng thiện. Bài học rút ra: mỗi người cần sống có đạo đức, biết kiềm chế dục vọng, làm việc thiện, tránh làm điều ác để không tự chuốc lấy hậu quả đau khổ cho bản thân và người khác.

18 tháng 12 2025

1.văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì

2. Ngôi thứ ba

3. NV chính : lý hữu chí

+ Đặc điểm: dữ tợn ,tham lam,độc ác, ích kỉ,bạo ngược, coi thường đạo lý

4.chi tiết : thúc khoán xuống minh ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn

Tác dụng: tăng tính hấp dẫn

5 truyện phê phán về cách sống độc ác ích kỉ gieo nhân nào gặp quả đấy, là lời răn dậy về việc sống lương thiện, sẻ chia và vì cộng đồng