Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”
Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”
Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.
Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.
Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.
Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.
câu 1
Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.
câu 2
Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.
Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.
Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.
Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.
Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.
Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.
Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.
Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.
Câu 1:
Thể thơ: Thơ bảy chữ
Câu 2:
Vần: Vần "ay" (bay - tay).
Kiểu vần: Vần chân, vần liền.
Câu 3:
Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".
• Tác dụng:
• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.
• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.
• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.
Câu 4:
-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.
-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.
Câu 5:
-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....
- Tác dụng:
+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.
+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
- Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.
Câu 5.
Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2.
Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó
Câu 4.
- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.
- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.
Câu 5.
Giá trị của cuộc sống là:
- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.
- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.
- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.
- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.
Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:
“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”
Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, người vô lí được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…
Câu 4.
- Đồng tình vì:
+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.
+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…
c1; nghị luận
c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân
c3?
c4?
[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]
k cho e ạ , mong chị thông cảm
Câu 1.
Văn bản “Kim tiền” thuộc thể loại kịch (kịch nói).
Câu 2.
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự định của mình vì không coi trọng tiền bạc, không chịu kiếm tiền. Chính sự túng thiếu đã khiến những kế hoạch của ông không thể thực hiện, tài năng bị mai một và nhiều việc dang dở.
Câu 3.
Hình ảnh so sánh “phân, bẩn, rác” với “tiền” mang ý nghĩa sâu sắc. “Phân, bẩn, rác” vốn là những thứ bị coi là dơ bẩn, thấp kém, nhưng lại có giá trị khi được sử dụng đúng cách, có thể nuôi dưỡng cây cối, tạo ra sự sống. Tương tự, tiền tuy có thể gắn với những điều không đẹp, nhưng nếu biết sử dụng đúng, nó trở thành công cụ hữu ích để làm nhiều việc tốt đẹp, cao cả.
Qua hình ảnh này, Cự Lợi muốn thuyết phục Trần Thiết Chung rằng không nên cực đoan phủ nhận tiền bạc, mà cần nhìn nhận nó như một phương tiện cần thiết trong cuộc sống và biết cách sử dụng nó hợp lí.
Câu 4.
Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự bất đồng quan điểm, không ai thuyết phục được ai. Trần Thiết Chung vẫn giữ lối sống thanh bạch, tránh xa danh lợi; còn Cự Lợi tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của tiền bạc.
Kết thúc này cho thấy mâu thuẫn tư tưởng giữa hai quan niệm sống: một bên đề cao vật chất, một bên đề cao tinh thần. Qua đó, tác giả làm nổi bật chủ đề tác phẩm: đặt ra vấn đề về thái độ của con người đối với tiền bạc và cảnh báo sự cực đoan trong cả hai cách nhìn.
Câu 5.
Em đồng ý với quan điểm của Trần Thiết Chung. Bởi lẽ, khi con người càng tham muốn nhiều thì càng dễ rơi vào vòng xoáy của danh lợi, từ đó phát sinh áp lực, lo toan và những hệ lụy về đạo đức. Biết sống vừa đủ giúp con người thanh thản, giữ được nhân cách và các giá trị tinh thần. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải mọi mong muốn đều xấu; điều quan trọng là biết kiểm soát ham muốn ở mức hợp lí để vừa phát triển bản thân, vừa không đánh mất mình.
Câu 1:
Văn bản “Kim tiền” thuộc thể loại truyện ngắn (tự sự).
⸻
Câu 2:
Theo ông Cụ Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì quá tham tiền, coi tiền là mục đích sống, chạy theo lợi ích vật chất mà không biết điểm dừng, dẫn đến mất phương hướng và cuối cùng thất bại.
⸻
Câu 3:
→ Đừng tôn thờ tiền bạc, hãy nhìn nhận đúng giá trị của nó, nếu không sẽ bị tiền làm tha hóa.
⸻
Câu 4:
→ Khẳng định giá trị cảnh tỉnh của câu chuyện: con người cần tỉnh táo trước đồng tiền, không để nó chi phối cuộc sống.
⸻
Câu 5 (5–7 dòng):
Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung. Tham muốn quá nhiều, đặc biệt là về tiền bạc, sẽ khiến con người luôn cảm thấy thiếu thốn và áp lực. Khi chạy theo vật chất, con người dễ đánh mất những giá trị quan trọng như đạo đức, tình cảm và sự bình yên. Thực tế cho thấy nhiều người vì tham lam mà rơi vào sai lầm, thậm chí thất bại. Biết đủ và sống cân bằng sẽ giúp cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Vì vậy, cần kiểm soát ham muốn để tránh hậu quả nặng nề.
Câu 1: nghị luận
...:*...*.*..*..**.*.*
- Thể loại: kịch. Câu 2.
- Theo ông Cự Lợi, Trần Thiết Chung thất bại vì ông vẫn còn bị ràng buộc bởi lương tâm, sự do dự và không đủ sự tàn nhẫn, quyết đoán để chế ngự và điều khiển sức mạnh của đồng tiền. Câu 3.
- Ý nghĩa: Việc so sánh "tiền" với "phân, bẩn, rác" nhằm hạ thấp giá trị của vật chất, cho thấy bản chất tầm thường, phù du và thậm chí là sự dơ bẩn của tiền bạc nếu con người quá sùng bái nó.
- Mục đích: Cự Lợi muốn thuyết phục Chung rằng tiền bạc không cao quý như ông tưởng; để có được nó, con người đôi khi phải chấp nhận rũ bỏ sự thanh cao và đối mặt với những mặt trái đen tối.
Câu 4.- Diễn biến: Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự bế tắc và tuyệt vọng của Trần Thiết Chung khi nhận ra sự tàn khốc của tham vọng.
- Ý nghĩa: Khẳng định chủ đề của văn bản: Sức mạnh tha hóa của đồng tiền và bi kịch tất yếu của những người đánh mất bản ngã để chạy theo ảo ảnh vật chất.
Câu 5.-Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Bởi lẽ, tham vọng không điểm dừng thường khiến con người đánh mất lý trí và những giá trị đạo đức cốt lõi. Khi càng lún sâu vào những ham muốn ích kỷ, chúng ta dễ dàng gây ra những sai lầm khó cứu vãn. Những sai lầm đó tích tụ thành "gánh nặng hệ lụy", khiến cuộc sống không còn bình yên mà luôn tràn đầy lo âu và hối hận. Biết đủ và sống có đạo đức mới là chìa khóa của hạnh phúc thực sự.
Câu 1:
Văn bản “Kim Tiền”thuộc thể loại kịch
Câu 2:
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì quá tham vọng, quá coi trọng đồng tiền, luôn muốn có nhiều tiền hơn mà không biết điểm dừng. Chính lòng tham ấy khiến ông đánh mất sự tỉnh táo, tạo ra những gánh nặng và hậu quả trong cuộc sống, dẫn đến thất bại trong sự nghiệp và các dự định của mình.
Câu 3:
Hình ảnh so sánh “ phân ,bẩn, rác ”với “tiền” mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện quan niệm rằng tiền bạc nếu quá dư thừa hoặc sử dụng sai mục đích thì cũng trở nên vô nghĩa, thậm chí gây hại rác rưởi . Qua cách so sánh này, Cự Lợi muốn khuyên Trần Thiết Chung rằng không nên quá tham lam, bởi nếu coi tiền là mục đích sống thì con người sẽ bị nó chi phối và phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Tiền chỉ thực sự có giá trị khi được sử dụng đúng đắn và vừa đủ.
Câu 4:
Cuối cuộc trò chuyện, ông Trần Thiết Chung dần nhận ra những sai lầm trong suy nghĩ và lối sống , hiểu rằng lòng tham tiền bạc đã khiến ông mệt mỏi và thất bại. Những lời nói của ông Cự Lợi giúp ông tỉnh ngộ về giá trị thật của đồng tiền và ý nghĩa của cuộc sống. Kết thúc này góp phần làm nổi bật chủ đề phê phán lòng tham và sự lệ thuộc vào tiền bạc , đồng thời gửi gắm thông điệp rằng con người cần biết sống vừa đủ, biết kiểm soát lòng tham để tránh tự làm khổ bản thana.
Câu 5:
Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung vì lòng tham quá mức thường khiến con người đánh mất sự thanh thản và dễ dẫn đến sai lầm. Khi càng muốn nhiều hơn khả năng của mình, con người sẽ phải chịu nhiều áp lực, lo toan và hậu quả nặng nề. Trong cuộc sống, biết đủ không có nghĩa là không cố gắng, mà là biết giới hạn để sống cân bằng hơn. Nếu chỉ chạy theo vật chất mà quên giá trị tinh thần, con người dễ rơi vào mệt mỏi và thất bại. Vì vậy, sống biết điểm dừng sẽ giúp con người hạnh phúc hơn
Câu 1. Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền. Câu 3. – Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền": - Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, những bông hoa thơm ngát. - "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời. – Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung: - Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân. - Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp. Câu 4. – Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình. – Ý nghĩa của kết thúc này: - Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền). - Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế. Câu 5. – Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn. – Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích. – Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1.
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2.
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3.
– Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":
• Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, những bông hoa thơm ngát.
• "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
– Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:
• Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
• Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4.
– Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
– Ý nghĩa của kết thúc này:
• Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).
• Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
• Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.
Câu 5.
Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý:
– Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn.
– Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.
– Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1: Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2: Theo nhân vật ông Cự Lợi, lý do khiến ông Trần Thiết Chung thất bại là bởi thái độ quá coi thường đồng tiền. Ông Chung luôn giữ sự cố chấp, không chịu nỗ lực kiếm tiền nên mới rơi vào hoàn cảnh như vậy.
Câu 3: - Việc so sánh "tiền" với "phân, bẩn, rác" mang ý nghĩa khá sâu sắc: Dù đó là những thứ bị coi là bẩn thỉu, ô uế nhưng thực chất lại là nguồn dinh dưỡng quý giá giúp lúa tốt tươi, hoa nở đẹp. Tương tự, tiền bạc dù có vẻ thực dụng, trần tục nhưng nếu biết sử dụng đúng mục đích, nó sẽ trở thành công cụ đắc lực để tạo ra những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống.
• Qua đó, ông Cự Lợi muốn làm thay đổi suy nghĩ cực đoan của ông Trần Thiết Chung. Ông muốn nhấn mạnh rằng tiền không xấu, xấu hay tốt là do cách con người kiểm soát và dùng nó vào việc gì. Tiền chính là phương tiện cần thiết để duy trì cuộc sống và thực hiện những ước mơ cao cả.
Câu 5: Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung về việc con người cần biết tiết chế lòng tham. Bởi lẽ:
• Khi quá mải mê đuổi theo danh vọng và tiền tài không có điểm dừng, chúng ta thường phải trả giá bằng chính sức khỏe, thời gian và sự bình yên trong tâm hồn.
• Sự tham vọng quá mức dễ khiến con người ta bị cuốn vào những toan tính chi ly, thậm chí là đánh mất chính mình hoặc làm điều sai trái để đạt được mục đích.
• Ngược lại, nếu biết sống "vừa đủ" và hài lòng với những gì mình có, chúng ta sẽ cảm thấy cuộc sống nhẹ nhàng hơn, giữ vững được đạo đức và sự thanh thản trong lòng.
Câu 1 thể loại bi kịch
Câu 2 thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền,cố chấp, không chịu kiếm tiền
Câu 3
Hình ảnh "phân,bẩn, rác" đc so sánh với tiền:
+bản chất của phân bẩn rác là sự ô uế bẩn thỉu nhưng là nguồn vật liệu rất quý là nguồn dưỡng thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng những bông hoa thơm ngát
+Tiền có thể bị coi là thấp kém,đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng thì nó tạo ra điều tốt đẹp nhất
Câu 4
-kết thúc câu chuyện trong sự bế tắc và không có sự thấu hiểu với nhau và bất đồng quan điểm
-Ý nghĩa phản ánh:
+Phản ánh sự xung đột gay gắt không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời
+Làm nổi bật chủ đề văn bản
+Gợi suy ngẫm,chiêm nghiệm về những khó khăn
Câu 5
Là học sinh :
Lòng tham của con người là vô đáy, không thể nào lấp đầy,khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất
Biết sống vừa phải và biết đủ
Câu 1.
Văn bản “Kim tiền” thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2.
Theo ông Cụ Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3.
– Hình ảnh “phân, bẩn, rác” được so sánh với “tiền”:
– Qua đó, ông Cụ Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:
Câu 4.
– Cuộc trò chuyện giữa ông Cụ Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: “Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi”. Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cụ Lợi đành để mặc bạn mình.
– Ý nghĩa của kết thúc này:
Câu 5.
– Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất (“tham muốn nhiều”), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khỏe và sự bình yên trong tâm hồn.
– Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.
– Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1. Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3.
- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý".
", là nguồn dưỡng chất thiết yếu
để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần
Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4:
- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên
không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
- Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).
+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.
Câu 5:
Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung. Con người nếu càng tham muốn nhiều thì áp lực và hệ lụy cũng sẽ tăng lên. Khi chạy theo tiền bạc và danh lợi, người ta dễ đánh mất sự bình yên và những giá trị tinh thần. Tuy nhiên, không thể phủ nhận tiền là cần thiết cho cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần biết cân bằng giữa vật chất và tinh thần để sống hạnh phúc hơn.
Câu1
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2.
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3.
- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với
"tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý" nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông
Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4.
- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
- Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hòa giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiên).
+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiên và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
Câu5
Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung. Trong cuộc sống, tham vọng nếu không đi kèm với đạo đức và khả năng thực tế sẽ trở thành gánh nặng tâm lý nặng nề. Khi con người quá khao khát vật chất hay địa vị, họ dễ rơi vào vòng xoáy của sự lo âu, thậm chí đánh mất bản thân và phạm phải sai lầm. "Hệ lụy" ở đây chính là sự kiệt quệ về tinh thần và sự dằn vặt lương tâm. Biết đủ và sống điều độ chính là chìa khóa để tìm thấy sự bình yên và hạnh phúc thực sự.
Câu 1:
Văn bản “Kim tiền” thuộc thể loại kịch (trích đoạn kịch).
Câu 2:
Theo ông Cụ Lợi, Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự định của mình là do quá tham lam, chạy theo tiền bạc, coi tiền là mục đích sống. Chính lòng tham khiến ông không biết đủ, luôn muốn nhiều hơn, bị đồng tiền chi phối và dẫn đến thất bại.
Câu 3:
Hình ảnh so sánh “phân, bẩn, rác” với “tiền” mang ý nghĩa phê phán sâu sắc việc con người tôn thờ tiền bạc một cách mù quáng. Qua đó cho thấy tiền không xấu, nhưng khi bị đề cao quá mức thì trở nên tầm thường, thậm chí đáng khinh và làm con người đánh mất nhân cách. Cụ Lợi muốn khuyên Trần Thiết Chung không nên để tiền chi phối cuộc sống mà chỉ nên coi tiền là phương tiện.
Câu 4:
Kết thúc cuộc trò chuyện, Trần Thiết Chung vẫn chưa thực sự thay đổi và chưa tỉnh ngộ. Điều này cho thấy sự cố chấp của con người khi bị lòng tham chi phối, đồng thời góp phần làm nổi bật chủ đề phê phán lối sống thực dụng, đề cao giá trị đạo đức của tác phẩm.
Câu 5:
Em đồng ý với quan điểm: “Càng tham muốn nhiều thì gánh hệ lụy càng nặng”. Trong cuộc sống, lòng tham khiến con người không bao giờ cảm thấy đủ, luôn chạy theo vật chất mà quên đi giá trị tinh thần. Khi ham muốn vượt quá giới hạn, con người dễ đánh mất đạo đức và gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Ngược lại, biết đủ sẽ giúp con người sống thanh thản và hạnh phúc hơn. Vì vậy, mỗi người cần biết kiểm soát ham muốn của bản thân để sống đúng đắn và có ý nghĩa.
Câu 1 : Thể loại : Bi kịch
Câu 2 : Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền
Câu 3 :
- Hình ảnh “phân, bẩn, rác” được so sánh với “tiền” :
+ Bản chất của "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, những bông hoa thơm ngát
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời
- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung :
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lý tưởng cao đẹp
Câu 4 :
- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không có ai thuyết phục được ai: "bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi. Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình
- Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gây gắt, không thể dung hòa giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ và một bên là lối sống thực dụng
+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống
+ Gợi suy ngẩm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lý tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế
Câu 5 :
Em đồng tình với quan điểm của ông Trầnn Thiết Chung. Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất, ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khỏe và sự bình yên trong tâm hồn
Câu 1.
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, những bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
- Làm câu văn thêm sinh động , gần gũi, taoj âm hưởng hài hoà sâu sắc
– Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4.
– Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai
– Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hòa giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ và một bên là lối sống thực dụng
+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.
Câu 5.
Em đồng tình với ý kiến của ông Trần Thiết Chung vì :
+ Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất , ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khỏe và sự bình yên trong tâm hồn.
+ Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1:
Văn bản thuộc thể loại: Bi kịch.
Câu 2:
Theo ông Cự Lợi, lý do là vì Trần Thiết Chung "khinh rẻ tiền, không chịu kiếm tiền". Ông Lợi cho rằng bao nhiêu công việc, dự định và cả sự thất vọng của Chung đều từ việc thiếu tiền mà ra; không có tiền thì không thể làm được gì, kể cả việc thiện hay danh nghĩa cao thượng
Câu 3
Diễn biến kết thúc: Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự không thỏa hiệp. Hai bên vẫn giữ nguyên quan điểm trái ngược nhau: Trần Thiết Chung quyết giữ lối sống đơn giản, coi việc tham muốn tiền bạc là gánh hệ lụy; còn Cự Lợi thì mỉa mai, cho rằng Chung đang mơ hồ và ngạo mạn. Ý nghĩa: Kết thúc này làm nổi bật xung đột kịch quyết liệt giữa hai triết lý sống: Một bên là chủ nghĩa duy tâm, trọng cốt cách; một bên là chủ nghĩa thực dụng, trọng vật chất. Nó mở ra chủ đề về sự chông chênh của người trí thức trước sức mạnh vạn năng của đồng tiền trong xã hội.
Câu 4:
Ý nghĩa: Đây là cách so sánh đầy thực dụng và sắc sảo. Cự Lợi thừa nhận tiền có thể "bẩn" như phân, rác, nhưng phân rác lại là nguồn dinh dưỡng ("vật liệu rất quý") để nuôi sống những bông lúa nặng trĩu, những vườn hoa ngào ngạt. Mục đích thuyết phục: Cự Lợi muốn Chung thay đổi cách nhìn cực đoan. Ông muốn khẳng định: Muốn có thành quả cao đẹp (hoa thơm, quả ngọt) thì phải chấp nhận và sử dụng phương tiện là tiền bạc (dù nó có vẻ tầm thường, "uế bẩn"). Đừng vì cái vẻ ngoài "sạch sẽ" mà để cuộc đời túng quẫn, vô dụng.
Câu 5:
Em đồng ý với quan điểm này. Bởi khi con người quá tham vọng về vật chất hay danh lợi, họ dễ bị cuốn vào vòng xoáy toan tính, đánh mất sự tự do và thanh thản trong tâm hồn. "Hệ lụy" ở đây chính là sự lo âu, áp lực, thậm chí là tha hóa đạo đức để đạt được mục đích. Sống biết đủ sẽ giúp con người giữ được bản ngã và hạnh phúc đích thực.
h
Câu 1. (0,5 điểm)
-Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2. (0,5 điểm)
-Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3. (1,0 điểm)
-Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
-Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản. bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4. (1,0 điểm)
-Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
– Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).
+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế. Câu 5. (1,0 điểm)
-Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý:
Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn.
-Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.
-Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 4. (1,0 điểm) Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình. Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!"). Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai). Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý: Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa. Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luỵ đến những người thân xung quanh. Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách
Câu 1. Văn bản “Kim tiền” thuộc thể loại Bi kịch
Câu 2. Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự định vì không coi trọng tiền bạc, không chịu kiếm tiền, sống quá lý tưởng và cố chấp nên tài năng bị lãng phí trong cảnh nghèo túng, mọi kế hoạch đều không thực hiện được.
Câu 3. Hình ảnh so sánh “phân, bẩn, rác” với “tiền” cho thấy những thứ tưởng như thấp kém, dơ bẩn nhưng nếu biết sử dụng đúng cách thì lại có giá trị lớn, có thể tạo ra nhiều điều tốt đẹp. Qua đó, Cự Lợi muốn khẳng định tiền không xấu, quan trọng là cách con người sử dụng nó, đồng thời thuyết phục Trần Thiết Chung thay đổi suy nghĩ, nhìn nhận tiền bạc một cách thực tế hơn.
Câu 4. Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự bất đồng, mỗi người vẫn giữ quan điểm riêng, không ai thuyết phục được ai. Kết thúc này làm nổi bật xung đột tư tưởng giữa lối sống thực dụng coi trọng tiền bạc và lối sống thanh cao coi nhẹ vật chất, qua đó thể hiện chủ đề của tác phẩm về cách nhìn nhận giá trị của tiền trong cuộc sống.
Câu 5. Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung vì khi con người càng tham muốn nhiều thì càng phải gánh chịu nhiều áp lực, lo toan và hệ lụy trong cuộc sống. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng con người nên có mục tiêu phấn đấu nhưng phải biết điểm dừng, tránh rơi vào tham lam quá mức. Biết sống giản dị, cân bằng giữa vật chất và tinh thần sẽ giúp cuộc sống thanh thản và ý nghĩa hơn.
Câu 1:
Văn bản Kim Tiền thuộc thể loại bi kịch
Câu 2:
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3:
Phép so sánh giữa "Rác, Phân" và "Tiền" Ông Cự Lợi đã sử dụng một hình ảnh so sánh độc đáo để làm thay đổi cái nhìn khắt khe về vật chất: Giá trị từ sự ô uế: Giống như "phân, bẩn, rác" dù bản chất là hôi hám nhưng lại là nguồn dinh dưỡng quý giá để nuôi dưỡng hoa thơm, quả ngọt. Giá trị của đồng tiền: Tiền bạc tuy có thể bị coi là thấp kém vì tính vụ lợi, nhưng nếu được sử dụng đúng cách, nó sẽ trở thành công cụ kiến tạo nên những điều tốt đẹp cho xã hội. Thông điệp gửi đến Trần Thiết Chung Qua sự so sánh này, ông Cự Lợi muốn nhấn mạnh hai điều cốt lõi: Tính hai mặt của đồng tiền: Bản chất đồng tiền không xấu; tích cực hay tiêu cực hoàn toàn phụ thuộc vào cách kiểm soát và mục đích của người sử dụng. Vai trò thực tiễn: Kiếm tiền có thể là một quá trình trần tục và vất vả, nhưng đó là phương tiện thiết yếu để duy trì cuộc sống và là nền tảng để thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4:
- Cuộc trò chuyện khép lại trong sự bế tắc và đối lập tuyệt đối. Với câu nói "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi", cả hai nhân vật đều chọn giữ vững lập trường riêng: ông Chung kiên định với lối sống thanh bần, còn ông Cự Lợi chấp nhận sự khác biệt của bạn mình. -Ý nghĩa sâu sắc của kết thúc Xung đột hệ tư tưởng: Phản ánh sự va chạm không thể dung hòa giữa hai lối sống trong xã hội giao thời: Ông Chung: Đại diện cho lý tưởng đạo đức Nho sĩ, coi trọng khí tiết và xem nhẹ lợi danh. -Ông Cự Lợi: Đại diện cho lối sống thực dụng, đề cao sức mạnh của đồng tiền và giá trị vật chất. Làm rõ chủ đề tác phẩm: Nhấn mạnh sự lựa chọn khó khăn giữa nhân cách và tiền bạc, giữa lý tưởng sống cao đẹp và nhu cầu thực tế nghiệt ngã của đời sống. - Thông điệp chiêm nghiệm: Gợi mở suy ngẫm về thách thức của con người khi phải giữ gìn đạo đức và ước mơ trong một xã hội đang dần bị cuốn theo vòng xoáy lợi ích kinh tế.
=>Sự "bất phân thắng bại" này không chỉ là cái kết của một cuộc trò chuyện, mà còn là lát cắt chân thực về sự chuyển mình đầy đau đớn của các giá trị đạo đức trước sức ép của thời đại mới.
Câu 5:
Em hoàn toàn đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung vì lòng tham con người vốn là vực thẳm không đáy. Khi mải mê chạy theo danh vọng và vật chất, ta buộc phải đánh đổi cả sức khỏe lẫn sự bình yên, khiến "gánh hệ lụy" tâm hồn ngày càng nặng nề. Việc quá tham cầu dễ cuốn con người vào vòng xoáy lo toan, thậm chí đánh mất nhân cách để đạt được mục đích. Ngược lại, biết sống vừa đủ sẽ giúp ta giữ được sự tự tại và bảo vệ các giá trị đạo đức trước cám dỗ. Chính sự giản đơn trong mong cầu là chìa khóa cho một cuộc sống thanh thản và hạnh phúc bền vững.
Câu 1:
Văn bản thuộc thể loại: Bi Kịch
Câu 2: Nguyên nhân thất bại của Trần Thiết Chung
Theo ông Cự Lợi, Trần Thiết Chung thất bại là vì:
Câu 3: Ý nghĩa hình ảnh so sánh "phân, bẩn, rác" và mục đích của Cự Lợi
Câu 4: Kết thúc cuộc trò chuyện và ý nghĩa
Câu 5: Ý kiến về quan điểm "Hễ mình càng tham muốn nhiều thì cái gánh hệ lụy càng nặng"
Em đồng ý với quan điểm này vì về mặt tinh thần, khi con người có quá nhiều ham muốn vượt quá năng lực hoặc đạo đức, họ sẽ luôn sống trong lo âu, toan tính và mất đi sự bình yên trong tâm hồn.Về mặt hậu quả, lòng tham dễ dẫn đến những hành động sai lầm, bất chấp thủ đoạn.Những hành động này sớm muộn sẽ dẫn đến những hệ lụy nặng nề như sự dằn vặt lương tâm, sự quay lưng của xã hội hoặc sự đổ vỡ về gia đình và sự nghiệp như chính cuộc đời của nhân vật Chung sau này.
o
Câu 1 vb bi kịch
Câu 2 thất bại trong sự nghiệp vì ông chỏ sống mơ mộng tronh cái nghèo, coi thấp giá trị đồng tiền và điều kiện sống của gia đìn, không tu chí làm ăn.
Câu3: Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền" Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là vật liệu rất quý, là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát. Tiền có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời. Tác giả ngụ ý tương đương câu châm ngôn "khổ sướng sướng sau". Đồng thời tác giả làm nổi bật lên nghĩa chính của 2 hình ảnh đối lập, tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo cảm giác giản dị, bình dị.
Câu 4 kết thúc câu chuyện trong tình cảnh 2 người vẫn chưa khớp ý tưởng với nhau, bất đồng quan điểm. Một người thì đặt cái tôi sung sướng trong cái nghèo tuy mình có tài, người còn lại trưởng thành hơn, biết rằng phải có tiền mới có vật chất cuộc sống tốt. Phản ánh gay gắt lối sống của 2 người khác nhau. Làm nổi bật chủ đề của văn bản, gợi suy nghĩ về cuộc sống thực tại.
Câu 5 Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung. Bởi vì lòng tham của con người thường không có giới hạn, khi càng chạy theo danh vọng và vật chất, ta càng phải đánh đổi bằng thời gian, sức khỏe và sự bình yên. Khi quá coi trọng tiền bạc, con người dễ rơi vào lo toan, tính toán, thậm chí có thể làm sai để đạt mục đích. Điều đó khiến cuộc sống trở nên nặng nề và mất đi ý nghĩa. Nhưng không đồng nghĩa với việc mãi sống trong cái tình cảnh nghèo khổ, không chịu vươn lên phát triển tài năng của mình. Ngược lại, nếu biết sống vừa phải, biết đủ, biết nhìn nhận mọi khía cạnh của vấn đề thực tại. Vì vậy, cần biết cân bằng giữa khát vọng và sự hài lòng trong cuộc sống.
Câu 1:
Văn bản “Kim Tiền” thuộc thể loại bi kịch
Câu 2:
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3:
- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần
Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
Câu 4:
Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên
không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
- Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hòà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).
+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.
Câu 5:
Câu 1: Thể loại của văn bản là kịch (bi kịch). Câu 2: Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự định vì: Chung khinh rẻ tiền, không chịu kiếm tiền. Cố chấp, câu nệ không chịu thay đổi lối sống. Vì tiền (thiếu tiền) mà mọi công việc trù tính đều thất bại.
Câu 3: Phân tích hình ảnh so sánh "phân, bẩn, rác" với "tiền" Nghệ thuật: Phép so sánh độc đáo, táo bạo và lập luận sắc sảo, tạo sự tương phản mạnh mẽ giữa nguồn gốc "thấp kém" và kết quả "rực rỡ". Nội dung: Khẳng định quan điểm thực dụng của Cự Lợi: tiền bạc dù "bẩn" vẫn là công cụ thiết yếu để tạo nên công danh, sự nghiệp và vẻ hào nhoáng. Cảm hứng tác giả: Thể hiện cái nhìn sắc sảo về xã hội thực dụng, đồng thời cảnh báo sự tha hóa của con người khi chấp nhận thỏa hiệp với cái xấu để kiếm tiền. Câu 4: Đoạn văn về kết thúc cuộc trò chuyện Cuộc đối thoại kết thúc trong sự bế tắc khi mỗi người kiên quyết giữ vững thế giới quan riêng: Cự Lợi chọn kim tiền, Thiết Chung chọn khí tiết. Kết thúc này khắc sâu xung đột kịch không thể dung hòa, đồng thời làm nổi bật chủ đề của văn bản: sự đối đầu gay gắt giữa lối sống thực dụng, tôn thờ vật chất và lối sống trọng đạo đức, nhân phẩm. Qua đó, tác giả đặt ra vấn đề nhức nhối về sự lựa chọn giá trị sống trước sức mạnh tha hóa của đồng tiền.
Câu 5: Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung. Khi con người quá tham lam, theo đuổi vật chất, họ sẽ bị cuốn vào vòng xoáy hệ lụy, phải đánh đổi sức khỏe, thời gian, thậm chí cả đạo đức và những mối quan hệ thân tình để đạt được mục đích. Sự tham lam quá mức khiến con người không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, dẫn đến sự u uất và mất đi sự bình yên trong tâm hồn. Ngược lại, biết sống giản dị, đủ đầy giúp con người giữ được sự thảnh thơi, tự do và tìm thấy hạnh phúc thực sự.
Kịch
Câu 1.
Văn bản “Kim tiền” thuộc thể loại kịch
Câu 2.
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự định của mình là vì thiếu tiền và không chịu kiếm tiền. Ông cho rằng chính sự “khinh rẻ tiền”, “không chịu kiếm tiền” đã khiến mọi kế hoạch, công việc của Trần Thiết Chung đều dang dở, không thể thực hiện được.
Câu 3.
Hình ảnh so sánh “phân, bẩn, rác” với “tiền” mang ý nghĩa sâu sắc. Thoạt nhìn, đó đều là những thứ bị coi là dơ bẩn, thấp kém, nhưng thực chất lại có giá trị lớn nếu biết sử dụng đúng cách như phân bón giúp cây cối sinh trưởng. Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục Trần Thiết Chung rằng: tiền không xấu, quan trọng là cách con người sử dụng nó. Nếu biết dùng đúng, tiền có thể tạo ra giá trị, giúp thực hiện những việc lớn lao, có ích.
Câu 4.
Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự bất đồng quan điểm, không ai thuyết phục được ai: mỗi người vẫn giữ vững lập trường riêng — Cự Lợi coi trọng tiền bạc, còn Trần Thiết Chung chọn lối sống thanh bạch. Kết thúc này có ý nghĩa: làm nổi bật xung đột tư tưởng về giá trị của đồng tiền trong xã hội, đồng thời cho thấy đây là vấn đề không dễ dung hòa, gợi người đọc suy ngẫm về cách sống và quan niệm sống của bản thân.
Câu 5 :
Em đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung. Bởi lẽ, khi con người càng tham muốn nhiều thì càng dễ rơi vào vòng xoáy của áp lực, toan tính và những hệ lụy nặng nề. Sự chạy theo vật chất không chỉ khiến tâm hồn trở nên mệt mỏi mà còn làm phai nhạt những giá trị tinh thần vốn quý giá. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của tiền bạc trong cuộc sống, điều quan trọng là mỗi người cần biết điểm dừng, biết cân bằng giữa khát vọng và sự đủ đầy, để giữ cho mình một đời sống vừa ý nghĩa vừa thanh thản.
hhh