Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
rong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp gian lao, lẽ đương nhiên, hình ảnh những người lính, những anh bộ đội sẽ trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hi vọng của cả dân tộc. Mở đầu bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã nhìn nhận, đã đi sâu vào cả xuất thân của những người lính:
Quê hương anh đất mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Sinh ra ở một đất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa. Đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốc và nhân dân đứng dưới một tròng áp bức. Anh và tôi, hai người bạn mới quen, đều xuất thân từ những vùng quê nghèo khó. hai câu thơ vừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của những người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họ tạm biệt người thân, tạm biệt xóm làng, tạm biệt những bãi mía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu, họ ra đi chiến đấu để tìm lại, giành lại linh hồn cho Tố quốc. Những khó khăn ấy dường như không thể làm cho những người lính chùn bước:
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
- Đoạn văn tả đặc điểm của biển là:
Đoạn văn tả đặc điểm về sự thay đổi màu sắc của mặt biển theo sắc màu của mây trời.
Câu văn nói rõ điều đó: Biển luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời.
- Để tả đặc điểm đó, tác giả đã quan sát bầu trời và mặt biển vào những thời điểm khác nhau:
Khi trời xanh thẳm - biển cũng thẳm xanh.
Trời trải mây trắng nhạt - biển mơ màng dịu hơi sương.
Trời âm u mây mưa — biển xám xịt nặng nể.
Trời ầm ầm giông gió - biển đục ngầu, giận dữ.
- Khi quan sát biển, tác giả đã có những liên tưởng thú vị:
Khi quan sát, tác giả đã có liên tưởng đến sự thay đổi tâm trạng của con người: như con người, biển cũng biết vui, buồn, lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng...
Sự liên tưởng này khiến biển đáng yêu và gần gũi với con người.
- Điệp ngữ
– “Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi”, “Chín mươi triệu”, “Sóng”
Tác dụng: Nhấn mạnh hình ảnh Tổ quốc thiêng liêng, khắc sâu ý thức cộng đồng dân tộc; tạo nhịp điệu dồn dập, cảm xúc mạnh, thể hiện sự đồng lòng của cả dân tộc trước vận mệnh đất nước. - Nhân hóa
– “Tổ quốc gọi tên mình”, “Sóng quặn đỏ máu”, “Sóng chẳng bình yên dẫn lối”
Tác dụng: Làm cho Tổ quốc và thiên nhiên trở nên có hồn, gần gũi như con người; qua đó khơi dậy tình cảm sâu nặng, thiêng liêng của con người với đất nước. - Ẩn dụ
– “Ngọn đuốc Hòa bình”, “máu nhuộm mặn sóng biển Đông”
Tác dụng: “Ngọn đuốc Hòa bình” tượng trưng cho khát vọng hòa bình, chính nghĩa; “máu nhuộm mặn sóng biển Đông” gợi sự hi sinh, mất mát lớn lao của bao thế hệ để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. - Hoán dụ
– “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”
Tác dụng: Lấy bộ phận “môi người” để chỉ con người Việt Nam, nhấn mạnh sự đồng lòng, cùng chung tiếng nói, chung tình yêu và trách nhiệm với đất nước. - Phóng đại
– “Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau”
Tác dụng: Làm nổi bật nỗi đau lớn lao khi chủ quyền Tổ quốc bị xâm phạm, khẳng định mỗi phần lãnh thổ đều vô giá.
b) Nghị luận: Cảm nghĩ khi nghe hai tiếng “Việt Nam”
Hai tiếng “Việt Nam” vang lên trong đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là tên gọi của một quốc gia, mà còn là tiếng gọi thiêng liêng của lịch sử, của máu xương và khát vọng hòa bình. Khi đọc đến câu thơ “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”, tôi cảm nhận rõ ràng một sự rung động sâu xa trong lòng, như thể cả dân tộc đang cùng thở chung một nhịp.
“Việt Nam” trước hết là kết tinh của bốn nghìn năm lịch sử không ngơi nghỉ. Đó là chiều dài của những cuộc đấu tranh bền bỉ để giữ đất, giữ biển, giữ lấy bản sắc và quyền được sống trong tự do. Hai tiếng ấy gợi nhắc đến biết bao thế hệ đã ngã xuống, để hôm nay đất nước được đứng vững giữa trời xanh. Khi nghe “Việt Nam”, ta không thể không nghĩ đến sự hi sinh thầm lặng của cha ông, những con người đã lấy thân mình chở che Tổ quốc, đổi máu xương lấy hòa bình.
“Việt Nam” còn là biểu tượng của sự đoàn kết. Chín mươi triệu con người, dù ở miền núi hay đồng bằng, dù nơi hải đảo xa xôi hay thành phố nhộn nhịp, đều chung một tiếng gọi. Trong những thời khắc khó khăn, hai tiếng “Việt Nam” có sức mạnh gắn kết kỳ lạ, khiến con người xích lại gần nhau hơn, sẵn sàng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Đó chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam đứng vững trước mọi thử thách.
Không chỉ mang ý nghĩa của quá khứ, “Việt Nam” còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của hiện tại và tương lai. Nghe Tổ quốc gọi tên mình, mỗi người trẻ hiểu rằng yêu nước không chỉ là cảm xúc, mà còn là hành động cụ thể. Đó là học tập nghiêm túc, sống tử tế, tôn trọng pháp luật, biết bảo vệ chủ quyền và danh dự dân tộc bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh, bằng những đóng góp nhỏ bé nhưng bền bỉ mỗi ngày.
Trong đoạn thơ, hình ảnh “ngọn đuốc Hòa bình” cho thấy khát vọng lớn lao của dân tộc Việt Nam: kiên quyết bảo vệ Tổ quốc nhưng luôn hướng tới hòa bình. Hai tiếng “Việt Nam” vì thế không gắn với hận thù, mà gắn với chính nghĩa, với mong muốn được sống yên bình trên chính mảnh đất của mình.
Đối với tôi, khi nghe hai tiếng “Việt Nam”, đó là niềm tự hào xen lẫn trách nhiệm. Tự hào vì được sinh ra trong một dân tộc kiên cường; trách nhiệm vì phải sống sao cho xứng đáng với những hi sinh đã có. “Việt Nam” không chỉ là tên gọi, mà là lời nhắc nhở mỗi người: Tổ quốc luôn ở trong tim, và Tổ quốc cần được gìn giữ bằng cả trái tim và hành động của chúng ta hôm nay.
chuẩn form này 10 đ bạn né
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì (truyện tự sự trung đại), trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
Câu 2.
Ngôi kể thứ ba.
Câu 3.
Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.
Tính cách: tàn ác, dâm cuồng, tham lam, coi thường đạo lí và lời khuyên, biết luật nhân quả nhưng vẫn cố tình làm ác.
Câu 4.
Chi tiết hoang đường, kì ảo: Thúc Khoản được xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xét tội các linh hồn và hình phạt ở cõi âm.
Tác dụng: tăng sức hấp dẫn cho truyện, khắc sâu tư tưởng nhân quả – thiện ác báo ứng, răn đe con người.
Câu 5.
Văn bản khẳng định đạo trời công bằng, gieo nhân nào gặt quả nấy; kẻ làm ác dù thoát tội lúc sống cũng không tránh khỏi trừng phạt. Truyện phê phán những kẻ cố chấp, bất nhân và đề cao lối sống hướng thiện. Bài học rút ra: mỗi người cần sống có đạo đức, biết kiềm chế dục vọng, làm việc thiện, tránh làm điều ác để không tự chuốc lấy hậu quả đau khổ cho bản thân và người khác.
1.văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì
2. Ngôi thứ ba
3. NV chính : lý hữu chí
+ Đặc điểm: dữ tợn ,tham lam,độc ác, ích kỉ,bạo ngược, coi thường đạo lý
4.chi tiết : thúc khoán xuống minh ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn
Tác dụng: tăng tính hấp dẫn
5 truyện phê phán về cách sống độc ác ích kỉ gieo nhân nào gặp quả đấy, là lời răn dậy về việc sống lương thiện, sẻ chia và vì cộng đồng
Trả lời của bạn cho Câu 1 là chính xác và đầy đủ. Bạn đã:
- Chỉ rõ không gian cụ thể: trên khoang một chiếc máy bay.
- Mô tả bối cảnh tự nhiên: đang bay trong mưa, giữa bầu trời đầy mây.
- Nêu rõ ý nghĩa lịch sử: vượt qua vĩ tuyến 17 – nơi từng là ranh giới chia cắt đất nước.
=> Câu trả lời không chỉ đúng về mặt thông tin mà còn thể hiện chiều sâu cảm nhận về ý nghĩa không gian.
Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật sẽ phân tích
- Đoạn trích cần phân tích để làm rõ vẻ đẹp nhân vật
b. Thân bài
- Khái quát: thông tin chủ yếu về nhân vật (tên tuổi, hoàn cảnh vào chiến trường,...), vị trí của nhân vật trong tác phẩm.
- Phân tích, bình luận:
+ Hoàn cảnh chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn: "Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa." "Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần." Từ đó làm nổi bật lên vẻ đẹp về sự can đảm, không quản ngại khó khăn.
+ Nhiệm vụ gian khổ, nguy hiểm đã khiến người đọc một lần nữa thấy được vẻ đẹp gan dạ, dám đương đầu với thử thách khó khăn của Phương Định.
+ Lạc quan, yêu đời, mơ mộng: "Xong thì nằm dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ mà lúc nào cũng có pin đầy đủ.", "Đứa nào cũng leo tót lên trọng điểm, cầm xẻng xúc, nói vài câu buồn cười với một anh lái xe nào đó vui. "
- Đánh giá, nhận xét:
+ Phương Định là cô gái can đảm, vui vẻ, lạc quan,... hình tượng nhân vật điển hình cho những chiến sĩ trong các tác phẩm văn học.
+ Từ nhân vật Phương Định, người đọc sẽ nhận ra được sự cống hiến, sống hết mình, có lí tưởng.
c. Kết bài
- Nêu cảm nhận về nhân vật
- Liên hệ bản thân
Câu 3.
a. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật sẽ phân tích
- Đoạn trích cần phân tích để làm rõ vẻ đẹp nhân vật
b. Thân bài
- Khái quát: thông tin chủ yếu về nhân vật (tên tuổi, hoàn cảnh vào chiến trường,...), vị trí của nhân vật trong tác phẩm.
- Phân tích, bình luận:
+ Hoàn cảnh chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn: "Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa." "Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần." Từ đó làm nổi bật lên vẻ đẹp về sự can đảm, không quản ngại khó khăn.
+ Nhiệm vụ gian khổ, nguy hiểm đã khiến người đọc một lần nữa thấy được vẻ đẹp gan dạ, dám đương đầu với thử thách khó khăn của Phương Định.
+ Lạc quan, yêu đời, mơ mộng: "Xong thì nằm dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ mà lúc nào cũng có pin đầy đủ.", "Đứa nào cũng leo tót lên trọng điểm, cầm xẻng xúc, nói vài câu buồn cười với một anh lái xe nào đó vui. "
- Đánh giá, nhận xét:
+ Phương Định là cô gái can đảm, vui vẻ, lạc quan,... hình tượng nhân vật điển hình cho những chiến sĩ trong các tác phẩm văn học.
+ Từ nhân vật Phương Định, người đọc sẽ nhận ra được sự cống hiến, sống hết mình, có lí tưởng.
c. Kết bài
- Nêu cảm nhận về nhân vật
- Liên hệ bản thân
Chọn đáp án: A.