K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

30 tháng 1 2016

Mô-li-e (1622 – 1673) sinh trưởng ở Pa-ri, trong một gia đình buôn bán giàu có. Cha là một thương gia nổi tiếng, sau được phong một chức quan nhỏ hầu cận nhà vua. Người cha muốn con trai kế tục chức vị của mình nhưng Mô-li-e từ chối và hăm hở bước vào lĩnh vực nghệ thuật sân khấu. Sau này, ông trở thành nhà biên kịch lớn của châu Âu thế kỉ XVII và là người sáng lập ra nền hài kịch cổ điển Pháp.

 

Trưởng giả học làm sang là một vở hài kịch năm hồi, có xen những màn ca múa phụ họa nên gọi là vũ khúc hài kịch. Nội dung tóm tắt như sau:

 

Giuốc-đanh tuổi ngoài bốn mươi, thuộc tầng lớp thị dân phong lưu, giàu cổ. Nhờ bố mẹ ngày trước làm nghề buôn len dạ tích luỹ được khá nhiều tiền nên giờ đây, Giuốc-đanh muốn trở thành quý tộc để được bước chân vào xã hội thượng lưu. Bắt chước những người cao sang, lão thuê thầy về dạy cho mình đủ các môn như âm nhạc, kiếm thuật, triết lí và cả cách ăn mặc, nói năng… Giuốc-đanh mù quáng và nhẹ dạ đã bị lừa bịp một cách dễ dàng bởi các ông thầy rởm, bác phó may vụng về nhưng ba hoa, chú thợ phụ lẻo mép và cả gã bá tước sa sút Đô-răng-tơ. Vì muốn trở thành quý tộc nên Giuốc-đanh đã nhờ Đô-răng-tơ mai mối làm quen với bà hầu tước Đô-ri-men (chính là tình nhân của gã). Giuốc-đành từ chối gả con gái là Luy-xin cho Clê-ông chỉ vì chàng không phải dòng dõi quý tộc. Cuối cùng, nhờ mưu mẹo của nữ đầy tớ Cô-vi-en, Clê-ông cải trang làm hoàng tử Thổ Nhĩ Kì đến cầu hôn Luy-xin và đã được Giuốc-đanh vui vẻ chấp thuận.

 

Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục là lớp kịch kết thúc hồi Il của vở kịch Trưởng giả học làm sang. Có thể tóm tắt nội dung lớp kịch này như sau:

 

Giuốc-đanh dốt nát, quê kệch lại muốn học đòi làm sang nên đã bị nhiều kẻ lợi dụng moi tiền, cảnh Giuốc-đanh mặc lễ phục là một biểu hiện của thói học đòi lối ăn mặc sang trọng của quý tộc. Lão ta đã bị bọn thợ may lợi dụng. Tác giả đã khắc họa sinh động, tài tình, làm nổi bật tính cách lố lăng của một gã trọc phú thừa tiền rửng mỡ. Chân dung hài hước của Giuốc-đanh đã gây ra những trận cười sảng khoái cho khán giả. Màn kịch thể hiện thái độ châm biếm, đả kích và phê phán mạnh mẽ của Mô-li-e đối với giai cấp tư sản hãnh tiến đương thời.

 

Trong lớp kịch này, Mô-li-e sử dụng hai kiểu ngôn ngữ là ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật và ngôn ngữ kể chuyện của tác giả.

 

Ngôn ngữ trực tiếp có khi là lời đối thoại giữa các nhân vật với nhau. Ví dụ như Giuốc-đanh đối đáp với bác phó may về đôi bít tất lụa hay về đôi giày quá chật, về chiếc áo may ngược hoa… Cũng có khỉ là lời độc thoại như đoạn Giuốc-đanh tự nói với mình. Đoạn kể về cảnh bác phó may và bọn thợ phụ mặc lễ phục cho Giuốc-đanh là ngôn ngữ kể chuyện. Trong kịch nói thì đối thoại là ngôn ngữ chính, qua đó làm nổi bật tính cách nhân vật.

 

Màn kịch có hai cảnh: trước và sau khi Giuốc-đanh mặc lễ phục.

 

Cảnh một diễn ra tại phòng khách nhà Giuốc-đanh với ba nhân vật: Giuốc- đanh, bác phó may và một tay thợ phụ vừa mang bộ lễ phục đến nhà. Tính cách học đòi làm sang của Giuốc-đanh bộc lộ rất rõ qua cuộc đối thoại giữa lão ta và bác phó may về bộ lễ phục, đôi bít tất, đôi giày, bộ tóc giả và lông đính mũ. Người nghe bật cười trước những lời nói, sự việc, hành động trái ngược giữa bác phó may ranh ma và lão Giuốc-đanh khờ khạo.

 

Khi Giuốc-đanh tỏ ý sốt ruột vì bộ lễ phục may mãi chưa xong và cằn nhằn: Tôi sắp phát khùng lên vì bác đấy thì bác phó may láu cá lại viện cớ rằng vì bộ lễ phục này quá cầu kì nên vừa khó làm, vừa tốn công: Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại làm bộ lễ phục của ngài đấy.

 

Giuốc-đanh than phiền là đôi bít tất lụa bé quá, lão phải khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được và đã đứt mất hai mắt rồi thì bác phó may lại lí sự cù cưa theo kiểu thợ may, thợ giày rằng rồi nó giãn ra thì lại rộng quá ấy chứ. Lúc này, Giuốc-đanh vẫn tỉnh táo. Biết bác phó may cãi bừa nên lão mới bóng gió rằng: nếu các mắt của bít tất cứ đứt mãi thì sẽ rộng thật, nghĩa là sẽ rách toang không dùng được nữa.

 

Giuốc-đanh cự bác phó may về đôi giày chật cứng làm cho lão đau chân ghê gớm, bác thợ may khăng khăng phủ nhận: Không, đôi giày không làm ngài đau đâu mà. Giuốc-đanh quả quyết: Tôi, tôi bảo là nó làm tôi đau. Bác phó càng cãi hăng, lời lẽ thật khôi hài: Ngài cứ tưởng tượng ra thế… Giuốc-đanh cố dồn bác phó may vào chân tường: Tôi tưởng tượng ra thế vì tôi thấy thế. Bác này lí luận hay nhỉ!

 

Người xem đều thấy rõ Giuốc-đanh rất tỉnh táo và lời nói sắc bén của ông ta dường như đã làm cho bác phó may đuối lí.

 

Qua cuộc đối thoại này, chúng ta thấy cái đúng của Giuốc-đanh là ông ta lấy chính đôi chân của mình làm thước đo nên vẫn phân biệt được đúng sai (giày, tất đều quá chật làm cho chân bị đau). Tuy vậy, Giuốc-đanh lại dễ bị người khác điều khiển, chi phối vì không có lập trường vững vàng. Nghệ thuật gây cười bắt đầu từ đó. Đương nhiên là lão Giuốc-đanh làm sao thắng được miệng lưỡi dẻo quẹo của bác phó may.

 

Để gỡ thế bí, bác phó liền giới thiệu về bộ lễ phục vừa may xong với Giuốc- đanh. Đây là cách đánh trống lảng, tránh né thật tài tình: Thưa, đây là bộ lễ phục đẹp nhất triều đình và may vừa mắt nhất. Sáng chế ra được một bộ lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen thật là tuyệt tác. Tôi thách các thợ giỏi nhất mà làm nổi đấy.

 

Nhưng sự khoác lác của bác phó không lừa nổi Giuốc-đanh khi lão ta phát hiện ra chuyện động trời: Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi!

Thợ may nào mà chẳng hiểu được điều tối thiểu là vải hoa thì phải may cho hoa hướng lên trên. Nhưng phản ứng của Giuốc-đanh cũng chỉ dừng đến đấy. Bác phó may ranh mãnh chống chế: Nào ngài có bảo là ngài muốn may hoa xuôi đâu!

 

Giuốc-đanh không chấp nhận điều vô lí ấy và vặn lại:

 

– Lại cần phải bảo may hoa xuôi ư?

 

Câu chống chế của bác phó may làm cho Giuốc-đanh nửa tin nửa ngờ. Bác phó tinh ý nhận thấy sự dao động của lão nên tấn công tiếp:

 

– Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quý phái đều mặc như thế này cả.

 

Để được làm “quý tộc”, quan trọng nhất là phải có bộ lễ phục sang trọng. Thế mà bác phó lại may, lễ phục cho Giuốc-đanh bằng vải hoa, tệ hơn nữa là may hoa ngược. Giuốc-đanh bực mình lắm nhưng chỉ cần nghe bác phó khẳng định như đinh đóng cột rằng những người quý phái đều mặc như thế này cả thì vội vàng bằng lòng ngay vì đang khoái làm… quý tộc. Cho nên, lão chỉ hỏi lại bác phó may tinh khôn bằng giọng của kẻ ngờ nghệch đáng thượng:

 

– Những người quý phái mặc áo ngược hoa ư?

 

Người xem nhận ra lí sự của bác phó may rõ ràng là vụng chèo khéo chống, cố tình lừa bịp Giuốc-đanh. Bác phó may thấy mình đã thắng liền nói thêm một câu tỏ vẻ hờn dỗi là nếu Giuốc-danh không Ưng ý thì bác sẽ đổi lại chiều hoa cho đúng. Giuốc-đanh vì nôn nóng muốn làm quý tộc nên đầu óc bỗng mất sáng suốt, đúng hóa thành sai, rối tinh rối mù, vội khen rối rít:

 

– Ồ! Thế thì bộ áo này mạy được đấy.

 

– Nếu ngài muốn thì tôi xin may hoa xuôi lại thôi mà.

 

Giuốc-danh hoảng hốt, xua tay, lắc đầu lia lịa:

 

– Không, không.

 

Bác phó tiếp tục vờn Giuốc-đanh như mèo vờn chuột:

 

– Xin ngài cứ việc bảo.

 

Đến dây thì Giuốc-đanh đã sa bẫy một cách nhẹ nhàng mà không biết và lại càng tỏ vẻ cương quyết:  

 

– Tôi đã bảo không mà. Bác may thế này được rồi. Bác cho rằng tôi mặc áo này có vừa vặn không?

 

–  Còn phải nói! Tôi đố họa sĩ nào lấy bút mà vẽ hầu ngài bộ áo vừa khít hơn được. Ở nhà tôi có một chú thợ phụ may quần cộc thì tài nhất thiên hạ; và một chú khác là anh hùng của thời đại về may áo chẽn đấy.

 

– Bộ tóc giả và lông đính mũ có được chững chạc không?

 

– Chững chạc tuốt!

 

Sự đắc ý của Giuốc-đanh lên tới tột độ khi tin rằng mình đã có được bộ lễ phục đúng mốt quý tộc (!) Điều ấy làm cho lão ta sẵn sàng bỏ qua những chuyện vặt vãnh trước đó. Đến bộ tóc giả và lông đính mũ thì lão cũng chỉ hỏi qua loa lấy lệ.

 

Đoạn này có kịch tính rất cao. Bác phó may đang ở thế bị động (bị Giuốc- đanh phát hiện là may ngược hoa), đột ngột chuyển sang thế chủ động, tấn công đối phương bằng hai đề nghị liên tiếp: Nếu ngài muốn thì tôi sẽ xin may hoa xuôi lại thôi mà và Xin ngài cứ việc bảo. Thế là Giuốc-đanh sợ, cứ lùi mãi. Lão ta sợ là phải vì nếu bác phó nổi cơn tự ái may hoa lại cho đúng hướng thì còn gì là quý tộc nữa? Cho nên lão vội hỏi bác phó may rằng liệu bộ lễ phục lão mặc có vừa vặn không.

 

Điều đáng buồn cười thứ nhất là lễ phục của giai cấp quý tộc châu Âu trước kia thường được may bằng loại vải tốt, đắt tiền, màu đen. Còn bác phó lại may lễ phục cho Giuốc-đanh bằng vải hoa, thứ vải chỉ để dùng may váy áo cho phụ nữ hoặc trẻ con.

 

Điều đáng buồn cười thứ hai là vải hoa thì đương nhiên phải may bông hoa hướng lên trên, nhưng bác phó chẳng biết là do vụng hay do cố tình biến Giuốc-đanh thành trò cười cho thiên hạ nên đã may hoa chúc xuống phía dưới. Giuốc-đanh phát hiện ra điều đó nhưng chỉ cần bác phó may bịa ra chuyện những người quý phải đều mặc như thế này cả là lão chấp nhận ngay.

 

Sau đó, Giuốc-đanh tiếp tục phát hiện ra bác phó may ăn bớt vải của mình khi may bộ lễ phục trước nên lấy lại thế chủ động và trách bác ta. Bác phó may chống đỡ khéo léo: Chẳng là thứ hàng đẹp quá nên tôi đã gạn lại một áo để mặc và gỡ thế bí bằng cách hỏi Giuốc-đanh có muốn mặc thử bộ lễ phục mới không. Bác phó may tinh quái láu lỉnh đã đánh trúng tâm lí Giuốc-đanh đang nôn nóng muốn thành “quý tộc”để phớt lờ chuyện ăn bớt vải của mình:

 

– Mời ngài mặc thử bộ lễ phục chứ ạ.

 

– Ừ, đưa đây tôi .

 

– Khoan đã, không thể mặc như thế được. Thứ áo này phải mặc đúng thể thức, tôi có đem người đến để mặc hầu ngài theo nhịp điệu, ơ này! Vào đây, các chú. Các chú hãy mặc bộ lễ phục này hầu ngài theo cách thức mặc cho...

1.Họ và tên: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng) Năm sinh năm mất: Ông sinh năm 1835 và mất năm 1909. Quê quán: Ông sinh ra tại quê ngoại ở làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Sau này, ông chuyển về sống chủ yếu ở quê nội là làng Và (tên chữ là Vị Hạ), xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Vì vậy, ông còn được biết đến với biệt danh Tam Nguyên Yên...
Đọc tiếp

1.Họ và tên: Nguyễn Khuyến (tên thật là Nguyễn Thắng)

Năm sinh năm mất: Ông sinh năm 1835 và mất năm 1909.

Quê quán: Ông sinh ra tại quê ngoại ở làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Sau này, ông chuyển về sống chủ yếu ở quê nội là làng Và (tên chữ là Vị Hạ), xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Vì vậy, ông còn được biết đến với biệt danh Tam Nguyên Yên Đổ.

2.Vị trí của ông trong nền văn học

Ông là một nhà thơ,nhà vănnhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỉ XIX,được xem là đại diện tiêu biểu và cuối cùng của văn học trung đại. Ông đã có những đóng góp to lớn, định hình vị trí vững chắc của mình trong lịch sử văn học.Là gương mặt tiêu biểu của văn học yêu nước thế kỉ XX,ngôn ngữ thơ giản dị mà đầy điêu luyện.

3.Đề tài sáng tác

Đề tài thiên nhiên, làng quê đăc biệt là cảnh nông thôn Bắc Bộ

Đề tài thế sự, cuộc sống thường viết về những biến động của xã hội đương thời, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, cũng như nỗi trăn trở của một người trí thức yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc.

Đề tài trào phúng, châm biếm với ngòi bút trào phúng sắc sảo, ông phê phán thói hư tật xấu của con người,sự suy đồi của giới quan lại,sự nhố nhăng của xã hội thực dân

Đề tài về bạn bè, tình cảm cá nhân ông có nhiều bài thơ thể hiện tình bạn sâu sắc với những người bạn chí cốt

4.Phong cách sáng tác

Tính trữ tình: Thơ trữ tình của ông thường mang một nỗi u hoài, sâu lắng trước thời cuộc.

Tính trào phúng: Nguyễn Khuyến được xem là một bậc thầy của thơ trào phúng.

Sự kết hợp giữa cổ điển và dân dã: Mặc dù sáng tác theo thể thơ Đường luật nghiêm ngặt, Nguyễn Khuyến đã khéo léo đưa vào đó ngôn ngữ bình dân, giản dị và hình ảnh mộc mạc của làng quê.

5.Những tác phẩm chính

Thơ Nôm:Nổi bật nhất là chùm "Tam Thu" gồm

+Thu vịnh (Vịnh mùa thu)

+Thu điếu (Mùa thu câu cá)

+Thu ẩm (Uống rượu mùa thu)

Thơ trào phúng:

+Bạn đến chơi nhà

+Vịnh tiến sĩ giấy

+Ông phỗng đá

+Hỏi thăm bạn

Thơ song thất lục bát:Nổi bật là Khóc Dương Khuê

0
23 tháng 3

Người mẹ trong bài thơ hiện lên với hình ảnh tần tảo, hi sinh, yêu thương con vô điều kiện, luôn chăm sóc con từ khi còn nhỏ như mớm cháo, hát ru, dõi theo con lớn lên, đồng thời mẹ còn hiện lên với sự hi sinh thầm lặng khi thời gian làm mái tóc bạc đi, qua đó tác giả muốn gửi gắm tình cảm biết ơn, trân trọng và ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, nhắc nhở mỗi người hãy yêu thương, quan tâm và báo đáp công ơn của mẹ

Tác giả Trần Nhân Tông1. Tên tuổi, quê quán- Tên tuổi: Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm ( 1258-1308 ).- Quê quán: Sinh tại Long Hưng, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.2. Vị trí của ông trong nền văn học- Ông được xem là nhà văn hóa, là nhà tư tưởng lớn và một nhà thơ tiêu biểu của thời Trần.- Ông là người sáng lập và định hình nên thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền riêng của...
Đọc tiếp

Tác giả Trần Nhân Tông

1. Tên tuổi, quê quán

- Tên tuổi: Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm ( 1258-1308 ).

- Quê quán: Sinh tại Long Hưng, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

2. Vị trí của ông trong nền văn học

- Ông được xem là nhà văn hóa, là nhà tư tưởng lớn và một nhà thơ tiêu biểu của thời Trần.

- Ông là người sáng lập và định hình nên thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền riêng của Việt Nam, góp phần quan trọng vào lịch sử văn hóa và tôn giáo dân tộc.

3. Đề tài và phong cách sáng tác

- Đề tài: Thơ văn của ông xoay quanh các tư tưởng Phật giáo sâu sắc, triết lý về cuộc đời và sự tu hành, cũng như lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc.

- Phong cách sáng tác: Thể hiện tinh thần khoan dung, từ bi và tính trí tuệ sâu sắc của Phật giáo, kết hợp với tình cảm yêu nước và lòng yêu dân tha thiết.

4. Tác phẩm chính

- Trần Nhân Tông thi tập

- Đại Hương Hải Ấn thi tập

- Thạch Thất Mỵ Ngữ

- Tăng Già Toái Sự



0
Mở đầu:Kính chào các bạn! Hôm nay, tôi rất vui được giới thiệu đến các bạn một cuốn sách lịch sử vô cùng đặc sắc: "Quang Trung Đại Phá Quân Thanh". Đây là một tác phẩm viết về một trong những sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc – chiến thắng Đại phá Quân Thanh dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung. Cuốn sách không chỉ tái hiện những trận chiến đầy hào hùng mà còn khắc...
Đọc tiếp

Mở đầu:
Kính chào các bạn! Hôm nay, tôi rất vui được giới thiệu đến các bạn một cuốn sách lịch sử vô cùng đặc sắc: "Quang Trung Đại Phá Quân Thanh". Đây là một tác phẩm viết về một trong những sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc – chiến thắng Đại phá Quân Thanh dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung. Cuốn sách không chỉ tái hiện những trận chiến đầy hào hùng mà còn khắc họa phẩm chất anh hùng của vị vua tài ba, người đã góp phần thay đổi cục diện lịch sử của dân tộc.


Nội dung chính:

  1. Giới thiệu chung về cuốn truyện:
    Cuốn sách "Quang Trung Đại Phá Quân Thanh" được tác giả ......viết về trận chiến lịch sử diễn ra vào năm 1789, khi quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ (vua Quang Trung) đã đại phá quân Thanh xâm lược. Cuốn sách khắc họa tinh thần anh dũng và chiến lược tài ba của vị vua trẻ Quang Trung trong việc bảo vệ đất nước trước quân xâm lược.
  2. Giới thiệu nội dung cuốn truyện:
    Cuốn sách kể lại chi tiết diễn biến của trận Đại phá Quân Thanh, bắt đầu từ khi quân Thanh xâm lược và Quang Trung lên ngôi vua, nhanh chóng tập hợp lực lượng quân Tây Sơn. Qua từng trang sách, tác giả mô tả không chỉ những trận chiến khốc liệt mà còn là chiến lược, mưu lược của Quang Trung khi đón nhận thử thách từ quân xâm lược đông đảo. Đỉnh cao của cuốn sách là trận đánh ở Đống Đa, khi Quang Trung dẫn quân vào Thăng Long, đánh tan tác quân Thanh và giành lại độc lập cho đất nước.
  3. Nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật của cuốn truyện:
    Cuốn sách này có phong cách viết rất cuốn hút, vừa mang yếu tố lịch sử vừa chứa đựng cảm xúc sâu sắc. Tác giả đã khéo léo xây dựng các tình tiết chiến đấu đầy kịch tính và hồi hộp. Ngôn ngữ sử dụng rất dễ hiểu, nhưng vẫn giữ được sự trang trọng và hào hùng của lịch sử. Hơn nữa, những nhân vật lịch sử như Quang Trung, Nguyễn Huệ, và quân Thanh được miêu tả một cách rất sống động, giúp người đọc không chỉ hiểu về chiến thuật mà còn cảm nhận được cái tâm, cái tầm của mỗi nhân vật.
  4. Suy nghĩ cá nhân về cuốn truyện:
    Cuốn sách mang đến cho tôi một cái nhìn sâu sắc về vị vua Quang Trung – người anh hùng dân tộc, không chỉ nổi bật về tài chiến lược mà còn về phẩm hạnh. Cuốn sách khiến tôi tự hào về lịch sử đất nước và thêm kính trọng những anh hùng đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Qua cuốn sách, tôi cũng nhận thấy sức mạnh đoàn kết và lòng yêu nước của nhân dân ta, dù phải đối mặt với khó khăn, vẫn kiên cường chiến đấu để bảo vệ tổ quốc.

Kết thúc:
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đã dành thời gian lắng nghe những chia sẻ của tôi về cuốn sách "Quang Trung Đại Phá Quân Thanh". Hy vọng cuốn sách này sẽ giúp các bạn thêm yêu quý và trân trọng những giá trị lịch sử dân tộc. Nếu có những ý kiến đóng góp hay suy nghĩ khác, tôi rất mong nhận được sự phản hồi từ các bạn. Xin cảm ơn!

0
Tác giả Nguyễn Khuyến- Họ và tên, năm sinh năm mất: Nguyễn Khuyến, 1835-1909.- Quê quán: xã Yên Trung, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; quê nội ở làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.- Vị trí của ông trong nền văn học: + Nguyễn Khuyến được coi là một trong những đỉnh cao của thơ ca Nôm Việt Nam, một nhà thơ tiêu biểu cho tâm hồn và cốt cách người Việt. + Ông là biểu tượng...
Đọc tiếp

Tác giả Nguyễn Khuyến

- Họ và tên, năm sinh năm mất: Nguyễn Khuyến, 1835-1909.

- Quê quán: xã Yên Trung, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; quê nội ở làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

- Vị trí của ông trong nền văn học:

+ Nguyễn Khuyến được coi là một trong những đỉnh cao của thơ ca Nôm Việt Nam, một nhà thơ tiêu biểu cho tâm hồn và cốt cách người Việt.

+ Ông là biểu tượng của hình mẫu thi nhân nhà Nho chính thống cuối thời trung đại.

+ Trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, ông đã thể hiện tinh thần yêu nước và gắn bó sâu sắc với nhân dân.

- Đề tài sáng tác:

+ Tâm sự cá nhân.

+ Con người và cảnh vật, làng quê.

+ Châm biếm, đả kích.

- Phong cách sáng tác:

+ Trữ tình và trào phúng.

+ Ngôn ngữ giàu hình ảnh và ngôn ngữ.

+ Gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống.

- Những tác phẩm chính:

+ Chùm thơ thu: Nổi tiếng nhất là bộ ba bài thơ Vịnh mùa thu, Câu cá mùa thu và uống rượu mùa thu, đạt đỉnh cao của thơ đề vịnh làng cảnh.

+ Tự trào: Bài thơ thể hiện sự tự ý thức và phê phán bản thân, một biểu hiện khác của tư duy trào phúng sâu sắc.

+ Thơ chữ Hán và Nôm: Tác phẩm của ông bao gồm nhiều thể loại thơ chữ Hán và chữ Nôm, trong đó thơ Nôm phản ánh nhiều khía cạnh của đời sống và tư tưởng hơn.

 

 

0
1 Tên thật: Trần KhâmTriều đại: Nhà TrầnNăm sinh - năm mất: 1258 – 1308Ông là con trưởng của vua Trần Thánh Tông, sinh ra trong gia đình hoàng gia ở Thăng Long 2Trần Nhân Tông là một vị vua và là một nhân vật trung tâm của thời đại nhà Trần, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm và có đóng góp to lớn cho Phật giáo, quân sự, văn hóa và sự phát triển của quốc gia. 3Đề tài sáng tác của...
Đọc tiếp

1

Tên thật: Trần Khâm

Triều đại: Nhà Trần

Năm sinh - năm mất: 1258 – 1308

Ông là con trưởng của vua Trần Thánh Tông, sinh ra trong gia đình hoàng gia ở Thăng Long 

2

Trần Nhân Tông là một vị vua và là một nhân vật trung tâm của thời đại nhà Trần, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm và có đóng góp to lớn cho Phật giáo, quân sự, văn hóa và sự phát triển của quốc gia. 

3

Đề tài sáng tác của Trần Nhân Tông xoay quanh tư tưởng triết học Phật giáo, tư tưởng yêu nước, thương dân và tâm hồn nghệ sĩ lạc quan, tự do. Phong cách của ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa triết học và thực tế cuộc sống, mang tính lạc quan, vị tha và có sự sáng tạo trong việc sử dụng chữ Nôm với những tác phẩm tiêu biểu như bài phú "Cư trần lạc đạo". 

4

Tác phẩm chữ Hán 
  • Trần Nhân Tông thi tập: Một tập thơ của ông, Báo Mới cho biết đây là một tác phẩm chính của ông.
  • Đại hương hải ấn thi tập: Một tập thơ khác của ông.
  • Tăng già toái sự: Một tác phẩm khác của ông.
  • Thạch thất mỵ ngữ: Một tác phẩm văn xuôi của ông.
  • Trung hưng thực lục: Một tác phẩm ghi lại các sự kiện quan trọng .
Tác phẩm chữ Nôm 
  • Cư trần lạc đạo phú: Một bài phú nổi tiếng, thể hiện triết lý ở giữa cõi trần mà vui niềm đạo, được sáng tác trong thời gian ông nhường ngôi.
  • Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca: Bài phú thứ hai của ông được viết bằng chữ Nôm.
Các bài viết triết lý và giảng giải Phật giáo 
  • Tứ sơn: Bài viết giải thích ý nghĩa của bốn núi, tượng trưng cho sinh, lão, bệnh, tử trong triết lý Phật giáo.
  • Giới định tuệ luận: Bài luận bàn về giới, định, tuệ trong Phật pháp.
  • Tọa thiền luận: Bài viết hướng dẫn phương pháp ngồi thiền và tu hành theo Thiền tông.
0
1. Mở bàiGiới thiệu chung về Đền Bà Chúa Kho – một ngôi đền nổi tiếng tại Việt Nam.Đền nằm ở đâu và được nhiều người biết đến.2. Thân bàiVị trí địa lí:Đền Bà Chúa Kho tọa lạc ở xã Thanh Lương, huyện Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.Ý nghĩa lịch sử và văn hóa:Đền thờ Bà Chúa Kho – người có vai trò quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.Đền được xem là nơi gửi...
Đọc tiếp

1. Mở bài

  • Giới thiệu chung về Đền Bà Chúa Kho – một ngôi đền nổi tiếng tại Việt Nam.
  • Đền nằm ở đâu và được nhiều người biết đến.

2. Thân bài

  • Vị trí địa lí:
    • Đền Bà Chúa Kho tọa lạc ở xã Thanh Lương, huyện Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
  • Ý nghĩa lịch sử và văn hóa:
    • Đền thờ Bà Chúa Kho – người có vai trò quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
    • Đền được xem là nơi gửi gắm, cầu xin tài lộc, may mắn trong làm ăn buôn bán.
  • Hoạt động và phong tục:
    • Lễ hội đền thường diễn ra vào đầu năm mới, đặc biệt là ngày 14 tháng Giêng âm lịch.
    • Người dân, đặc biệt là những người kinh doanh, đến cầu mong một năm làm ăn phát đạt.
  • Kiến trúc và cảnh quan:
    • Đền có kiến trúc truyền thống với các khu vực thờ tự, gian chính, chạm khắc tinh xảo.
    • Không gian linh thiêng, yên bình thu hút nhiều du khách, phật tử.

3 kết bài
Đền Bà Chúa Kho không chỉ là địa điểm tâm linh mà còn là nơi giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

  • Giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng của người Việt.
0
"Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! / Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt / Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát / Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca" bốn câu thơ trên trích từ bài "Ta đi tới" của tác giả Tố Hữu đã giúp tôi cảm nhận của tôi về vẻ đẹp mãnh liệt và trù phú của đất nước trong những ngày đầu độc lập, tự do. Cảm xúc chính là sự say mê, tự hào đến vỡ òa ngay từ...
Đọc tiếp

"Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! / Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt / Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát / Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca" bốn câu thơ trên trích từ bài "Ta đi tới" của tác giả Tố Hữu đã giúp tôi cảm nhận của tôi về vẻ đẹp mãnh liệt và trù phú của đất nước trong những ngày đầu độc lập, tự do. Cảm xúc chính là sự say mê, tự hào đến vỡ òa ngay từ câu mở đầu: "Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!" Câu cảm thán này như một lời reo hân hoan, khẳng định tình yêu vô bờ bến. Bức tranh phong cảnh hiện ra thật thân thuộc và giàu sức sống qua những hình ảnh tiêu biểu của miền núi và trung du: "Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt." Màu xanh bạt ngàn, cùng hương thơm ngào ngạt đã khơi gợi cảm giác bình yên, no ấm. Khung cảnh còn rực rỡ và tràn đầy âm thanh lạc quan với ánh "Nắng chói sông Lô" hòa cùng "hò ô tiếng hát". Hình ảnh "Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca" vừa mang nét thực của cuộc sống lao động, vừa là biểu tượng cho dòng chảy của lịch sử, hứa hẹn một tương lai tươi sáng đang rộn ràng tiến tới. Suy cho cùng, đoạn thơ truyền tải một niềm tin mãnh liệt và niềm vui lớn của dân tộc trong những ngày đầu độc lập.

1
6 tháng 10 2025

Quá hay!