K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

7 tháng 7 2019

Sau chiến tranh, chính phủ Mỹ đã ban hành hàng loạt đạo luật phản động trong đó có đạo luật Tap-Hác-Lây nhằm mục đích chống phong trào công nhân và Đảng cộng sản Mỹ hoạt động. Đồng thời chống lại phong trào đình công và loại bỏ những người có tư tưởng tiến bộ ra khỏi bộ máy nhà nước.

Đáp án cần chọn là: B

22 tháng 11 2021

B

Điểm tích cực và hạn chế trong phong trào của giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản:Mặt tích cực:Giai cấp tư sản:Thể hiện tinh thần dân tộc, đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.Yêu cầu được tham gia vào bộ máy chính quyền, bảo vệ quyền lợi của người Việt.Góp phần thúc đẩy sự phát triển ý thức chính trị và tinh thần đấu tranh trong xã hội.Tầng lớp...
Đọc tiếp

Điểm tích cực và hạn chế trong phong trào của giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản:

Mặt tích cực:

Giai cấp tư sản:

Thể hiện tinh thần dân tộc, đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Yêu cầu được tham gia vào bộ máy chính quyền, bảo vệ quyền lợi của người Việt.

Góp phần thúc đẩy sự phát triển ý thức chính trị và tinh thần đấu tranh trong xã hội.

Tầng lớp tiểu tư sản:

Có mặt tích cực trong việc thức tỉnh và cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân.

Truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ rộng rãi trong quần chúng.

Là lực lượng trung gian, thúc đẩy phong trào dân tộc phát triển sâu rộng hơn.

Mặt hạn chế:

Giai cấp tư sản:

Dễ dàng thỏa hiệp, hợp tác với chính quyền thực dân để bảo vệ lợi ích cá nhân.

Phong trào có tính cải lương, không kiên quyết, chưa đi đến mục tiêu cuối cùng.

Tầng lớp tiểu tư sản:

Phong trào mang tính xốc nổi, nóng vội, thiếu kế hoạch lâu dài.

Các tổ chức chính trị còn non yếu, thiếu kinh nghiệm và sức mạnh lãnh đạo.

Không có đủ khả năng tập hợp, điều hành phong trào một cách hiệu quả.

2
24 tháng 9 2025

I. Điểm tích cực

1. Thức tỉnh tinh thần dân tộc, truyền bá tư tưởng tiến bộ

+) Họ tích cực truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản (như tam dân của Tôn Trung Sơn, dân quyền, dân chủ, độc lập...) vào Việt Nam.

+) Góp phần cổ vũ lòng yêu nước và khát vọng độc lập dân tộc của nhân dân.

2. Hình thành các tổ chức chính trị và báo chí tiến bộ

- Thành lập các tổ chức như:

+)Việt Nam Nghĩa đoàn, Hưng Nam, Việt Nam Quốc dân đảng (tư sản).

+) Các nhóm sinh viên, trí thức hoạt động văn hóa, báo chí ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ (tiểu tư sản).

* Nhiều tờ báo tiến bộ ra đời như: Chuông rè, An Nam trẻ, Tiếng dân ... phản ánh tư tưởng cách mạng và kêu gọi cải cách.

3. Góp phần làm phong phú thêm con đường đấu tranh dân tộc

+) Sự đa dạng trong phương pháp đấu tranh: từ ôn hòa, cải lương đến bạo động vũ trang (như Khởi nghĩa Yên Bái 1930).

+)Tạo tiền đề cho sự phát triển các phong trào cách mạng sau này, nhất là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930.

II. Hạn chế

1. Thiếu đường lối rõ ràng và đúng đắn

+) Các tổ chức tư sản và tiểu tư sản chưa có cương lĩnh cách mạng rõ ràng.

+) Phương pháp hoạt động mang tính tự phát, thiếu tổ chức chặt chẽ và lâu dài.

2. Phụ thuộc vào giai cấp trên và dễ thỏa hiệp


+) Giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản thường bị ảnh hưởng bởi tư tưởng cải lương, cầu viện từ nước ngoài (Nhật, Trung Quốc...).

+) Dễ bị lung lay và thỏa hiệp với kẻ thù khi bị đàn áp.

3. Không lôi kéo được quần chúng nhân dân rộng rãi

+) Phạm vi hoạt động chủ yếu trong tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, công chức...

+) Chưa thực sự gắn bó và phát động được lực lượng công – nông – lao động – lực lượng chủ yếu của cách mạng.

4. Kết cục thất bại

- Đỉnh cao là Khởi nghĩa Yên Bái (1930) do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo đã thất bại nhanh chóng, dẫn tới sự tan rã của đảng này.

=> Điều này chứng tỏ hạn chế về tổ chức, lực lượng, phương pháp và sự lãnh đạo của các phong trào do tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo.

25 tháng 9 2025

- Điểm tích cực:

+Thức tỉnh lòng yêu nước: Phong trào của tầng lớp tiểu tư sản có vai trò quan trọng trong việc khơi dậy và lan tỏa tinh thần yêu nước trong quần chúng nhân dân.

+Truyền bá tư tưởng mới: Các hoạt động của họ góp phần truyền bá các tư tưởng tự do, dân chủ và các luồng tư tưởng cách mạng mới vào xã hội, nâng cao nhận thức cho người dân.

- Hạn chế:

+Thỏa hiệp với thực dân: Giai cấp tư sản có xu hướng sẵn sàng thỏa hiệp với thực dân Pháp để đạt được một số quyền lợi kinh tế, chính trị, làm suy yếu tính cách mạng của phong trào.

+Thiếu tổ chức, lãnh đạo: Phong trào đấu tranh của cả hai giai cấp còn mang tính bồng bột, chưa được tổ chức chặt chẽ và quan trọng là chưa có một chính đảng cách mạng đủ mạnh để lãnh đạo, dẫn đến nhiều hạn chế trong hiệu quả đấu tranh.

12 tháng 6 2025

Ko biết

15 tháng 1 2021

 Sang thế kỉ XV, XVI đội ngũ “ Những người lao động làm thuê” đã xuất hiện. Đầu thế kỉ XIX, ngành khai mỏ phát triển và hàng ngàn “thợ” mỏ làm việc trong các mỏ khai thác than, thiếc. Nhưng đó chưa phải là công nhân hiện đại, sản xuất trong dây chuyền công nghiệp.Đội ngũ công nhân Việt Nam xuất hiện khi có cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I (từ năm 1897 đến năm 1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp tập trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh... Số lượng công nhân năm 1906 là 49.500 người trong đó có 1.800 thợ chuyên môn.Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người, riêng trên các tuyến đường sắt Vân Nam - Hải Phòng đã thu hút tới 6 vạn người. Ngành mỏ (năm 1914) có tới 4.000 thợ, đó là chưa kể số “thợ theo mùa”. Tổng số công nhân Việt Nam tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ I có khoảng 10 vạn người.Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến... dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh, công nhân mỏ và công nhân đồn điền nhiều nơi tập trung hàng vạn người. ở các thành phố, nhiều nhà máy đã có trên 1.000 công nhân như nhà máy Xi măng Hải Phòng, nhà máy Dệt Nam Định.Đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người

Câu 1: Điểm khác biệt của phong trào giải phóng dân tộc ở Mĩ Latinh so với châu Phi sau chiến tranh thế giới thứ hai làA. yếu đấu tranh chính trị.B. hình thức đấu tranh phong phú.C. đấu tranh hợp pháp, công khai.D. xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc.Câu 2: Đâu được xem như tổ chức tiền thân của Liên minh châu ÂuA. Cộng đồng than- thép châu ÂuB. đồng năng lượng nguyên tử châu ÂuC. Cộng...
Đọc tiếp

Câu 1: Điểm khác biệt của phong trào giải phóng dân tộc ở Mĩ Latinh so với châu Phi sau chiến tranh thế giới thứ hai là

A. yếu đấu tranh chính trị.

B. hình thức đấu tranh phong phú.

C. đấu tranh hợp pháp, công khai.

D. xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc.

Câu 2: Đâu được xem như tổ chức tiền thân của Liên minh châu Âu

A. Cộng đồng than- thép châu Âu

B. đồng năng lượng nguyên tử châu Âu

C. Cộng đồng kinh tế châu Âu

D. Cộng đồng châu Âu

Câu 3: Để khôi phục ách thống trị đối với các nước thuộc địa trước đây các nước Tây âu đã làm gì?

A. Nhận viện trợ từ kế hoạch Macsan của Mĩ

B. Tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược

C. Tham gia khối quân sự Bắc Đại Tây Dương

D. Tiến hành quốc hữu hoá các doanh nghiệp

Câu 4: Thách thức của Việt Nam khi gia nhập ASEAN là gì?

A. Tranh thủ sự giúp đỡ về vật chất của các nước trong khu vực.

B. Học hỏi tiếp thu những thành tựu khoa học – kĩ thuật tiên tiến.

C. Tiếp thu nền văn hóa đa dạng của các nước trong khu vực.

D. Nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc, hòa nhập dễ hòa tan.

Câu 5: Một trong những nhân tố giúp kinh tế Nhật Bản phát triển “thần kì” (1960-1973) có thể là bài học cho Việt Nam vận dụng vào quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là

A. coi trọng yếu tó con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

B. chú trọng cách mạng xanh để xuất khẩu lương thực.

C. chỉ chi 1% ngân sách quốc phòng an ninh.

D. đẩy mạnh cải cách dân chủ và nhận viện trợ của Mĩ và Phương tây.

0
21 tháng 9 2025

1.Giống nhau:

  • Cạnh tranh đế quốc: Các cường quốc đế quốc (Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật) tranh giành thuộc địa và ảnh hưởng trên toàn cầu.
  • Quân sự hóa: Các quốc gia đều chuẩn bị quân sự mạnh mẽ, gia tăng vũ khí và quân đội, làm tăng nguy cơ chiến tranh.
  • Chủ nghĩa dân tộc: Cả hai cuộc chiến đều liên quan đến sự đối đầu giữa các dân tộc, với các nhóm dân tộc muốn bảo vệ hoặc mở rộng lãnh thổ.

Khác nhau:

Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914–1918):

  • Nguyên nhân trực tiếp: Ám sát Archduke Franz Ferdinand (người thừa kế ngai vàng của Áo-Hung) bởi một người Serbia, kích động căng thẳng quốc tế.
  • Hệ thống liên minh: Hai liên minh lớn — Liên minh Entente (Anh, Pháp, Nga) và Liên minh Trung tâm (Đức, Áo-Hung, Ý) — đã dẫn đến một cuộc chiến toàn cầu khi các quốc gia liên quan bị kéo vào xung đột theo các nghĩa vụ liên minh.
  • Căng thẳng tại Balkans: Khu vực Balkans (đặc biệt là Serbia và Áo-Hung) là tâm điểm của xung đột, với các cuộc tranh giành lãnh thổ và quyền lực giữa các quốc gia nhỏ và các đế chế lớn.

Chiến tranh thế giới thứ hai (1939–1945):

  • Nguyên nhân trực tiếp: Đức dưới sự lãnh đạo của Adolf Hitler xâm lược Ba Lan vào năm 1939, dẫn đến Anh và Pháp tuyên chiến.
  • Hiệp ước Versailles: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Hiệp ước Versailles đã trừng phạt Đức quá nặng nề (mất lãnh thổ, đền bù chiến tranh, giới hạn quân đội), tạo ra sự bất mãn sâu sắc và là điều kiện để Hitler lợi dụng sự tức giận này.
  • Chủ nghĩa phát xít và quân phiệt: Các chính quyền phát xít ở Đức, ÝNhật Bản theo đuổi chính sách đối ngoại bành trướng, xâm lược các quốc gia khác để mở rộng lãnh thổ.
  • Khủng hoảng kinh tế: Đại suy thoái (1929) khiến nhiều quốc gia bị khủng hoảng kinh tế và xã hội. Điều này đã tạo ra cơ hội cho các chính quyền độc tài như Hitler và Mussolini lên nắm quyền, sử dụng chiến tranh để giải quyết khủng hoảng nội bộ và bành trướng quyền lực


2.Em đồng ý với nhận xét này, vì Anh và Pháp – hai cường quốc lớn thời bấy giờ – đã có những hành động và chính sách thiếu kiên quyết, góp phần tạo điều kiện cho Đức phát xít trỗi dậy và phát động chiến tranh.

Thứ nhất, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hiệp ước Versailles do Anh và Pháp đóng vai trò chính đã trừng phạt Đức quá nặng nề, khiến người dân Đức rơi vào cảnh khốn khó và oán giận. Điều này tạo cơ hội cho Hitler lợi dụng tâm lý bất mãn để tuyên truyền, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan và từng bước xây dựng chế độ phát xít.

Thứ hai, trong những năm 1930, Anh và Pháp theo đuổi chính sách nhượng bộ (appeasement) trước các hành động xâm lược và bành trướng của Đức, Ý, và Nhật. Ví dụ, khi Hitler tái vũ trang, chiếm vùng Rheinland (1936), sáp nhập Áo (1938), và chiếm Tiệp Khắc (1939), Anh – Pháp không có hành động cứng rắn, mà ngược lại còn ký Hiệp định Munich, cho phép Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc với hy vọng duy trì “hòa bình”. Chính sự nhân nhượng này đã khiến Đức ngày càng lấn tới và tin rằng có thể mở rộng lãnh thổ mà không gặp trở ngại.

Tóm lại, mặc dù Đức phát xít là thủ phạm chính gây ra chiến tranh, nhưng Anh và Pháp cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì chính sách sai lầm, mềm yếu của họ đã không ngăn chặn sớm mối đe dọa từ chủ nghĩa phát xít, để rồi dẫn đến sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai.

3. Tác động đến cục diện chiến tranh:

  • Kết thúc nhanh chóng Chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Á: Hai vụ ném bom đã khiến Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15/8/1945, chấm dứt hoàn toàn Chiến tranh thế giới thứ hai.
  • Tiết kiệm nhân lực cho Mỹ và Đồng minh: Việc dùng bom nguyên tử giúp Mỹ tránh được một cuộc tấn công đường bộ vào Nhật Bản vốn được dự báo sẽ gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên.
  • Tạo ưu thế cho Mỹ trên bàn đàm phán: Mỹ khẳng định vị thế siêu cường của mình trong việc kết thúc chiến tranh, từ đó chiếm ưu thế trong việc định hình trật tự thế giới sau chiến tranh.

2. Tác động đến thế giới sau chiến tranh:

  • Bắt đầu cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân: Sự kiện này mở đầu cho kỷ nguyên vũ khí hạt nhân, khiến các nước lớn (đặc biệt là Liên Xô) tăng tốc nghiên cứu và chế tạo bom nguyên tử.
  • Khơi mào Chiến tranh Lạnh: Việc Mỹ sử dụng bom nguyên tử không chỉ nhắm vào Nhật Bản mà còn là lời cảnh báo với Liên Xô. Điều này làm gia tăng căng thẳng giữa hai cường quốc và dẫn đến Chiến tranh Lạnh.
  • Gây tranh cãi về mặt đạo đức và nhân đạo: Việc sử dụng bom nguyên tử đã khiến hàng trăm nghìn dân thường thiệt mạng và bị ảnh hưởng phóng xạ, dẫn đến tranh luận gay gắt về tính hợp pháp và đạo đức của hành động này.


21 tháng 9 2025

1.

-Giống nhau: đều có mâu thuẫn về chính trị, thị trường và thuộc đia

-Khác nhau: Nguyên nhân của Thế Chiến 1 bùng nỏ từ mâu thuẫn đế quốc, còn nguyên nhân của Thế Chiến 2 là do chủ nghĩa phát xít lên ngôi và các cường quốc phương Tây yếu đi, đẩy cuộc chiến với mục tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và bảo vệ hoà bình thế giới

2.

Em đồng ý vì:

-Thứ nhất, hiệp ước Véc-sai do Anh và Pháp áp dụng lênh trừng phạt kinh tế quá nặng, đẩy kinh tế Đức rơi vào tình trạng kiệt quệ, tạo cơ hội cho Hít-le lợi dụng tâm lý bất mãn của người dân để tuyên truyền, kích đọng người dân theo chủ nghĩa cực đoan, rồi từng bước xây dựng chủ nghĩa phát xít

-Thứ 2, Anh và Pháp đã thi hành chính sách nhượng bộ. Sau khi Đức Quốc Xã chiếm Áo và Tiệp Khắc, Anh và Pháp đã thi hành chính sách nhượng bộ, cho phép Hít-le chiếm nốt Sudetenland của Tiệp Khắc, tuy nhiên chính sách nhượng bộ đã tạo điều kiện cho Hít-le càng làm cho chủ nghĩa phát xít mạnh hơn

-Tóm lại, Đức là người khơi mào chiến tranh, tuy nhiên Anh và Pháp cũng có lỗi sai khi vô tình tạo điều kiện cho Đức Quốc Xã mạnh hơn, dẫn đến Thế Chiến 2

3.

Tác động đến cục diện thế giới sau khi thả bom xuống 2 thành phố của Nhật Bản:

-Mở ra cuộc đua chạy vũ trang, hạt nhân: Mở ra kỷ nguyên chế taọ vũ khí hạt nhân ( tiêu biểu là Liên Xô) đẩy mạnh nghiên cứu và tạo bom nguyên tử

-Dẫn đến Chiến Tranh Lạnh: Việc Mỹ thả bom xuống 2 thành phố của Nhật Bản không chỉ là lời đe doạ đến Nhật Bản và cũng là lời đe doạ đến Liên Xô, dẫn đến mâu thuẫn và nảy ra Chiến Tranh Lạnh

-Sự tranh cãi về mặt đạo đức: Việc Mỹ thả bom xuống 2 thành phố của Nhật Bản cũng làm nảy ra những tranh luận khác nhau khi có người đồng tình với hành động của Mỹ vì nễu không làm như vậy rất có thể chiến tranh vẫn sẽ tiếp tục. Tuy nhiên lại có người cho rằng việc làm của Mỹ quá ác độc khi đã thả bom giết chết hàng chục nghìn người dân vô tội