CƯỠI NGỖNG MÀ VỀ

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

CƯỠI NGỖNG MÀ VỀ

Nhà nọ giàu nhưng tính lại kiệt. Gà vịt đầy vườn mà khách đến chơi vẫn cứ cơm rau luộc với mấy quả cà. Đã thế lại còn chép miệng phàn nàn với khách:

- Chẳng mấy khi bác đến chơi mà trong nhà lại không đào đâu ra một thức gì để thết đãi  tử tế, tôi lấy làm áy náy quá.

Khách ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:

– Âu là tôi có con ngựa đấy, bác cứ bắt mà làm thịt, anh em ta cùng đánh chén cho vui.

Chủ hỏi:

– Thế nhưng đường xa bác về bằng cách gì cho tiện?

Khách vui vẻ chỉ vào đàn ngỗng mà đáp:

– Có khó gì việc ấy. Có đàn ngỗng của bác kia, cứ xem con nào lớn, bác cho tôi mượn một con, tôi sẽ cưỡi ngỗng mà về.

cho biết từ thết đãi trong câu  '' Chẳng mấy khi bác đến chơi mà trong nhà lại không đào đâu ra một thức gì để thết đãi  tử tế, tôi lấy làm áy náy quá.'' có nghĩa là gì

A: Mời  ăn uống thịnh soạn , hậu hĩ để tỏ lòng quý trọng 

B: Món ăn ngon , được chế biến cầu kỳ từ những sản vật ở trên rừng dưới biển 

C: Hà tiện tới mức quá chắt , chỉ biết bo bo giữ của

D: Có được tương đối đầy đủ những gì thường đòi hỏi , không bị coi là quá sơ sài , lôi thôi hoặc thiếu đứng đắn

 

1

Đáp án: D

27 tháng 9 2025

Trong tất cả những bài thơ tự do nổi tiếng như “Sóng” – Xuân Quỳnh; “Những cánh buồm” – Hoàng Trung Thông; “Đất nước” (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm; “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải; “Ánh trăng” – Nguyễn Duy thì bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu lắng. Qua thể thơ tự do giản dị, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh cây tre xanh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tre hiện lên không chỉ là loài cây mọc thẳng, dẻo dai, gắn bó với đồng ruộng, với mái nhà tranh mà còn là biểu tượng cho phẩm chất con người Việt Nam: cần cù, đoàn kết, kiên cường, cần cù, chịu thương chịu khó, lối sống ngay thẳng, chính trực. Đọc những câu thơ ấy, em cảm thấy như nghe tiếng nói chân thành của nhà thơ về dân tộc mình, vừa tự hào, vừa yêu thương. Đất nước ta đã phải trải qua 1000 năm Bắc thuộc và phải đi trên con đường cách mạng - đường mà dân tộc ta phải đi trong lịch sử, tre như là lũy thành, hàng rào kiên cố bảo vệ con đường cách mạng chi đất nước ta. Tre cùng dân ta trải qua bao gian khổ, cùng ra trận, giữ làng, giữ nước, như bức tường thành kiên cố - một chứng minh của lịch sử và còn là người bạn đồng hành trung thành của ông cha ta nói chung và Việt Nam nói riêng. Hình ảnh tre trong bài thơ gợi cho em tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, và nhắc nhở em phải cố gắng học tập để mai sau này xây dựng cho quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà NamVị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên ĐổĐề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm...
Đọc tiếp

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Vị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ

Đề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm với nhiều đề tài phong phú, từ tình yêu quê hương, đất nước đến những suy tư về cuộc đời và con người. 

Phong cách sáng tác: Nguyễn Khuyến đã đưa cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống thân thuộc, bình dị của làng quê vào trong thơ một cách tự nhiên tinh tế. Ngòi bút tả cảnh của ông vừa chân thực vừa tài hoa; ngôn ngữ thơ giản dị mà điêu luyện

Các tác phẩm chính: thu vịnh ,thu điếu ,thu ẩm

0
Trong truyện Lão Hạc, Nam Cao có viết:Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ...Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết. Một người như thế ấy!... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!... Một người nhịn ăn để...
Đọc tiếp

Trong truyện Lão Hạc, Nam Cao có viết:

Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ...

Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết. Một người như thế ấy!... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!... Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng... Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ một ngày một thêm đáng buồn...

Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác.k

Những cái "buồn" của nhân vật 'tôi' thể hiện như thế nào? Qua đó em hiểu ý nghĩ của n.v tôi như thế nào?

1
GN
GV Ngữ Văn
Giáo viên
21 tháng 9 2019

* Những cái "buồn" của nhân vật tôi thể hiện trong truyện:

- Ông giáo buồn khi muốn đỡ đần, giúp đỡ lão Hạc nhưng lão nhận ra sự khó chịu của thị - vợ ông giáo. Nên từ đó lão xa ông giáo dần, từ chối gần như hách dịch sự giúp đỡ của ông giáo.

- Ông giáo buồn khi biết tin lão Hạc xin Binh Tư bả chó. Ông giáo nghĩ lão Hạc đến bước đường cùng cũng trở nên tha hóa, nối gót Binh Tư, đi bắt chó nhà hàng xóm để có miếng ăn.

- Ông giáo buồn khi hóa ra cuộc đời vẫn đáng buồn khi cái sự nghèo khiến con người dễ bị tha hóa (như Binh Tư) hoặc bị dồn vào đến bước đường cùng (như lão Hạc), phải chọn cái chết để giữ lương tri và lòng tự trọng

* Những điều "buồn" cho thấy ông giáo là người giàu tình cảm, có tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Biết nghĩ và biết thương người. Chỉ có điều nhận thức được những điều ấy mà không đủ sức mạnh để thay đổi, chuyển suy xã hội nên chỉ biết đau lòng, khóc và thương cho những kiếp người bất hạnh.

14 tháng 8 2025


Con người cần ứng xử một cách có trách nhiệm và đầy nhân văn đối với tài nguyên thiên nhiên và sự sống của muôn loài. Thiên nhiên không chỉ là nơi cung cấp nguồn sống như nước, không khí, thực phẩm, năng lượng… mà còn là mái nhà chung của tất cả sinh vật trên Trái Đất. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy con người đang khai thác tài nguyên một cách thiếu kiểm soát, gây ô nhiễm môi trường, phá hủy hệ sinh thái và đẩy nhiều loài động thực vật đến bờ vực tuyệt chủng. Điều đó không chỉ làm mất đi sự đa dạng sinh học mà còn đe dọa trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sự tồn tại của chính chúng ta.Trước những hậu quả nghiêm trọng đó, mỗi người cần nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ: tiết kiệm điện, nước, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng cây xanh, phân loại rác thải, không săn bắt động vật hoang dã… Đồng thời, cần tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, lan tỏa lối sống xanh đến cộng đồng. Các tổ chức và chính phủ cũng cần có những chính sách quản lý tài nguyên hiệu quả, phát triển kinh tế theo hướng bền vững, hài hòa với thiên nhiên.Thiên nhiên là người bạn, là người mẹ nuôi dưỡng chúng ta từng ngày. Nếu chúng ta tiếp tục thờ ơ, sống ích kỷ và vô trách nhiệm, thì hậu quả sẽ không chỉ dành cho thế hệ hiện tại mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tương lai con cháu mai sau. Vì vậy, bảo vệ thiên nhiên hôm nay chính là bảo vệ cuộc sống ngày mai — một cuộc sống xanh, sạch, lành mạnh và đầy hy vọng.

14 tháng 8 2025

tick cho mk đi

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?CƠM MÙI KHÓI BẾP Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?

CƠM MÙI KHÓI BẾP

Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê nội lần đầu.

[…]

Hôm sau bà lọ mọ dậy từ lúc trời chưa hửng sáng, nhóm lửa rơm, bắc nồi cơm. Thằng cháu nội ba tuổi chạy xuống thấy khói bếp bốc ngùn ngùn, khiếp quá hét toáng lên: “Cháy nhà”.

Anh chị đang ngủ giật mình vùng dậy. Anh bảo nhà đã có bếp gas, mẹ nấu gì thứ rơm đó nữa cho cực. Bà cười: “Tụi bây ăn cơm nồi cơm điện thành phố rồi, về quê mẹ nấu cơm lửa rơm cho thơm mùi đồng mùi rạ. Mà cơm nấu rơm mới có miếng cháy ăn giòn. Mấy hồi anh nhỏ, bữa ăn không có miếng cơm cháy là giãy nãy lên bướng bỉnh chẳng chịu ăn. Nhớ không.”

Trời rạng tưng tửng sáng, thấy khói bay lên len qua mái tranh, anh chợt bùi ngùi. Nhớ ngày xưa còn nhỏ, sáng sớm anh chạy xuống bếp nằm cuộn trong lòng mẹ ngủ nướng thêm một lúc. Thức giấc giở nắp nồi ngửi mùi cơm. Rồi lấy đũa xới hết cơm lên để lột miếng chảy ở đáy rồi ăn trước. Lớn lên vào Sài Gòn lập nghiệp, cưới vợ sinh con ở đấy, xa cái bếp quê dần thành quên. Với lại ở trong đó, đâu có mấy ai ăn sáng ở nhà. Cái bụng cũng “lười” và “yếu” đi, sáng phải bún hoặc cháo mới nuốt nổi. Giờ về thấy cơm, thèm thì thèm thật nhưng ăn chi vô.

Cô con dâu bảo: “Mẹ bày ra nấu bữa sáng làm gì cho cực. Chúng con ra quán ăn miếng là rồi việc”. “Bây nói chi lạ. Ăn uống phải đàng hoàng chớ. Bữa sáng là quan trọng lắm. Không ai thương bằng cơm thương đâu con. Ăn cơm chắc bụng no lâu. Mấy cái thứ bún cháo nước õng ệu, chỉ nhoáng là đói lại liền à.” – Bà vừa san cơm ra chén vừa nói.

Ba chén cơm trắng, đĩa cá đồng kho nghệ. Anh háy mắt qua vợ, ý bảo ăn đi, ăn lấy lòng mẹ một miếng. Chị lại háy mắt qua anh lắc đầu, có mà sức Thánh Gióng mới nuốt trôi. Thằng cu con nhìn chằm chằm chén cơm. Cuối cùng chỉ có anh trệu trạo làm được ba miếng, như là ăn tượng trưng cho mỗi người một miếng. Tranh thủ lúc mẹ đi ra giếng, anh lùa cả ba chén cơm trắng vào lại nồi.

Sáng hôm sau bà lại dậy sớm. Lại nhóm bếp rơm nấu cơm. Xong bữa nồi cơm không vơi được là mấy, vẫn đầy như lòng mẹ. Anh gắng ăn được nửa chén. Chén lòng san đôi cho mẹ cho vợ. Anh dối mẹ chở vợ con đi xem chợ Tết, đi thăm thú làng quê, thực chất là để ghé quán cho vợ con ăn bún ăn cháo.

Anh tự nhủ sáng mai phải thức sớm ngồi nấu bếp với mẹ như xưa. Tự nhủ sáng mai phải ăn chén cơm đầy với mẹ, nhai một miếng cơm cháy giòn thơm. Nhưng lâu ngày giờ về quê gặp lại bạn bè người thân, chỗ này mời chén rượu, chỗ kia mời bữa cơm. Cơm rượu quê hàn huyên câu chuyện ngày dài tới tận khuya. Hôm sau thức dậy đã sáng trọt sáng trời, cổ họng khô khốc không ăn nổi cơm dẻo, huống hồ là miếng cơm cháy.

Chưa hết Tết, mới ngày mùng bốn anh lại phải đưa vợ con vào Sài Gòn. Bà mẹ dậy sớm làm gà, nấu cơm. Vẫn một mình bà cặm cụi với cái bếp. Bà xúc đầy cơm vào chiếc ca mèn. Gà luộc cho vào hộp đựng. “Bây đem lên xe mà ăn. Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu”.

Con cháu lên taxi rồi bà còn dặn theo: “Vào trong nhớ ăn uống đàng hoàng nghe bây. Đừng bỏ bữa sáng. Không ai thương bằng cơm thương”.

Vào tới Sài Gòn ca mèn cơm vẫn còn một nửa. Vợ định đem đi đổ. Anh can, bảo để đấy, phơi khô cất giữ làm kỷ niệm.

*

Qua tháng ba nghe tin mẹ bệnh, anh tức tốc về nhà. Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: “Con ăn chi chưa. Mẹ không bắc cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp”.

Nhưng mẹ không khỏe nữa, yếu dần, được thêm hai bữa thì nhắm mắt.

Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ân hận. Thế là hết cơ hội được ăn với mẹ một chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương”. Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.

Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…

(Theo Hoàng Công Danh, Chuyến tàu vé ngắn, NXB Trẻ, trang 49 – 54 2016, TPHCM)

3
28 tháng 9 2025

Câu 9:

Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tình mẫu tử thiêng liêng, ấm áp và chan chứa yêu thương. Khói bếp không chỉ là khói từ bếp lửa quê hương, mà còn là hình ảnh gợi nhớ về mẹ, về những bữa cơm bình dị, chân thành mà đầy ắp tình thương. Đó là biểu tượng của những ký ức tuổi thơ không thể nào quên, là nơi khởi đầu của yêu thương, chăm sóc và hy sinh lặng thầm. Hình ảnh khói bếp đã đánh thức nỗi ân hận, tiếc nuối của người con, đồng thời cũng nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những yêu thương giản dị khi còn có thể.

18 tháng 12 2025

-gợi nhớ những kỷ niệm tuổi thơ: khỏi bếp gắn với buổi sáng quây quần bên mẹ với mùi cơm rơm cơm cháy thơm giòn

-biểu tượng của tình mẹ : khỏi bếp là hình ảnh ẩn dụ cho tình thương ấm áp bền bỉ lặng lẽ mà mẹ dành cho con

-biểu hiện day dứt và tình cảm sâu nặng: khói bếp như còn vương mãi trong ký ức gọi sự tri ân và nỗi nhớ khôn nguôi về mẹ

1.Tên thật : Trầm Khê    Tên hiệu: Trần Nhân Tông    Năm sinh – mất: Sinh năm 1258, mất năm 1308.   Quê quán: Quê quán : Làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.2 Trần Nhân Tông có vị trí quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam – là nhà thơ, nhà tư tưởng lớn, góp phần tạo nên nét đặc sắc cho dòng văn học Phật giáo thời Trần.3 phong cách sáng...
Đọc tiếp

1.Tên thật : Trầm Khê

    Tên hiệu: Trần Nhân Tông

    Năm sinh – mất: Sinh năm 1258, mất năm 1308.

   Quê quán: Quê quán : Làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

2 Trần Nhân Tông có vị trí quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam – là nhà thơ, nhà tư tưởng lớn, góp phần tạo nên nét đặc sắc cho dòng văn học Phật giáo thời Trần.

3 phong cách sáng tác: Tư tưởng Phật giáo, thiền học; ·Tình yêu thiên nhiên

·  Tình yêu nước, trách nhiệm với dân tộc

  Đề tài: Giản dị, hàm súc, sâu sắc, mang đậm màu sắc thiền học.

               Kết hợp giữa tư tưởng thoát tục của đạo Phật với tinh thần nhập thế (gắn bó, quan tâm đến đời sống con người, xã hội).

4 nhung tác phẩm chính là:

  Cư trần lạc đạo phú

 

Truyền tâm lục

Sơn phòng mạn hứng

0
21 tháng 3

Những điểm mới của hình thức bài thơ này so với thơ Đường luật là không bị gò bó về số câu, số chữ, không bắt buộc niêm luật chặt chẽ, cách gieo vần linh hoạt hơn, nhịp điệu tự do, hình ảnh và ngôn ngữ gần gũi đời sống hơn, cảm xúc được thể hiện tự nhiên và phóng khoáng hơn