K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

23 tháng 11 2025

Đoạn trích:

*"Ở đâu năm cửa, nàng ơi?
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
Sông nào bên đục bên trong?
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?
Đền nào thiêng nhất xứ Thanh?
Ở đâu lại có cái thành tiên xây?

Thành Hà Nội năm cửa, chàng ơi!
Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.
Nước sông Thương bên đục bên trong,
Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.
Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh,"*


1. Thể loại của văn bản

  • Thể loại: Văn bản tục ngữ – ca dao – dân ca (hoặc văn bản tản văn ca ngợi truyền thống, cảnh vật, địa danh).
  • Trong văn học Việt Nam, đây là thể loại văn miêu tả – biểu cảm dân gian, dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu câu hỏi – trả lời.

2. Đặc điểm nghệ thuật của thể loại trong văn bản

  • Câu hỏi – trả lời: Các câu hỏi mở đầu tạo nhịp điệu, lôi cuốn người đọc, rồi phần trả lời nêu danh thắng, địa danh, thần tích.
  • Hình ảnh cụ thể, giàu tượng trưng: Mỗi địa danh đi kèm chi tiết đặc trưng (thành năm cửa, sông sáu khúc, núi thắt cổ bồng) → giúp người đọc hình dung sinh động.
  • Ngôn ngữ dân gian, nhịp điệu tự nhiên: Dễ nhớ, dễ thuộc, mang tính truyền miệng.
  • Ca ngợi và tôn vinh: Văn bản ca ngợi vẻ đẹp, sự thiêng liêng, giá trị văn hóa – lịch sử của đất nước.

3. Nội dung của văn bản

  • Miêu tả và ca ngợi các danh lam, địa danh nổi tiếng: Thành Hà Nội, sông Lục Đầu, núi Tản Viên, đền Sòng.
  • Nêu bật đặc trưng thiên nhiên, kiến trúc và thần tích đi kèm, thể hiện tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc.

4. Ý nghĩa rút ra

  • Giáo dục lòng tự hào dân tộc, trân trọng văn hóa, lịch sử và các danh thắng của đất nước.
  • Nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị truyền thống, tinh thần bảo vệ và gìn giữ quê hương.
  • Gợi ý rằng việc nhận biết, hiểu và tôn vinh quê hương là cách giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
BÀI 1.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý...
Đọc tiếp

BÀI 1.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

Câu 1. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn văn trên ?
Câu 2. Mệnh đề Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được tác giả triển khai như thế nào trong văn bản?.
Câu 3. Nhà nước ta thời phong kiến đã từng trọng đãi hiền tài như thế nào? Theo tác giả, những điều đó đã là đủ chưa?.
Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn khoảng 8-10 câu,nêu suy nghĩ của anh/chị về sứ mệnh của hiền tài đối với đất nước?

BÀI 2.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

1.Hoàng Đức Lương người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh H­ưng Yên, sau chuyển đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm năm 1478. Ông để lại: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đ­ưa vào Toàn Việt thi lục.

2.Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức t­ước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình.

3.Trong công việc biên soạn cũng như sáng tác, Hoàng Đức Lương bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ tiến bộ. Đó là sự chú ý đến tính thẩm mĩ của văn chương và ông đưa ra những lí do mà khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời.Đây là tấm lòng yêu n­ước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc

1/ Nêu nội dung chính của văn bản?

2/ Xác định phương thức biểu đạt của văn bản?

3/ Xác định phép liên kết chính trong đoạn văn (2) và (3) ?

4/ Câu văn Tấm lòng yêu n­ước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc gợi nhớ đến câu văn nào của Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô khi nói về văn hiến của dân tộc ?

2
24 tháng 4 2020

K liên quan, nhưng cô ơi cho em hỏi ở đoạn này sử dụng biện pháp tu từ chủ yếu là gì và hiệu quả sử dụng ạ. E cảm ơn cô nhiều ạ.

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những nổi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.

20 tháng 4 2020

Bài 2:

1. Giới thiệu Hoàng Đức Lương và tựa Trích diễm thi tập.

2. Phương thức biểu đạt; thuyết minh

3. Phép lặp, thế.

Anh em xem chấm hộ mình bài này nhé                       Trường THPT Sông Công                  Nơi ươm mầm tài năng và ước mơ         Trường THPT Sông Công là một ngôi trường danh tiếng tọa lạc tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Theo địa giới hành chính mới, trường thuộc Phường Sông Công và vẫn giữ vững vai trò là trung tâm giáo dục quan trọng của...
Đọc tiếp

Anh em xem chấm hộ mình bài này nhé
                       Trường THPT Sông Công
                  Nơi ươm mầm tài năng và ước mơ
         Trường THPT Sông Công là một ngôi trường danh tiếng tọa lạc tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Theo địa giới hành chính mới, trường thuộc Phường Sông Công và vẫn giữ vững vai trò là trung tâm giáo dục quan trọng của địa phương. Với bề dày truyền thống nhiều năm, trường không chỉ là nơi trang bị kiến thức, kỹ năng cho các thế hệ học sinh mà còn là mái nhà thứ hai, nơi nuôi dưỡng những ước mơ, tài năng và tinh thần sáng tạo của các em. Trải qua nhiều năm hình thành và phát triển, trường đã để lại những dấu ấn quan trọng trong nền giáo dục địa phương.

         Trường THPT Sông Công được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1986 theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Thái, với tên gọi ban đầu là Trường PTTH Kỹ thuật Công nghiệp Sông Công. Bản quyết định ấy đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng, mở ra chặng đường hình thành và phát triển của ngôi trường. Năm học đầu tiên 1986-1987, trường có 7 lớp học với 404 học sinh, trong đó có 3 lớp 10 tuyển mới và 4 lớp 11 chuyển từ các trường Phổ Yên và Đồng Hỷ. Do cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, các em học sinh phải tạm học nhờ phòng học của trường Tiểu học Lý Tự Trọng. Để xây dựng những lớp học đầu tiên, nhà trường đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công như Nhà máy Phụ tùng ô tô số I, Nhà máy Y cụ II, Nhà máy Điezen, Xí nghiệp Xây lắp III, Trường Công nhân Kỹ thuật Việt Đức và Trung đoàn 209. Nhờ những nỗ lực ấy, 7 phòng học đầu tiên của trường đã được hình thành, đặt nền móng cho sự phát triển sau này.

        Những năm tháng đầu tiên đầy gian nan ấy đã để lại trong lòng thầy và trò biết bao kỷ niệm khó quên. Dù bộn bề công việc và trách nhiệm nặng nề, niềm vui đến từ những thành quả học tập của khóa học đầu tiên đã tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ tiếp theo. Những năm học sau đó, trường PTTH Kỹ thuật Công nghiệp Sông Công tiếp tục phát triển, chuẩn bị sẵn sàng để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho quê hương.

       Ngày 18 tháng 9 năm 2001, trường được UBND tỉnh Thái Nguyên đổi tên thành Trường THPT Sông Công và mở rộng quy mô trên diện tích 22.705 m². Cơ sở vật chất được đầu tư hiện đại với dãy nhà cao tầng, phòng vi tính, phòng bộ môn, phòng chức năng, thư viện và các thiết bị giảng dạy đáp ứng yêu cầu giáo dục trong thời đại mới. Cảnh quan sư phạm cũng được chăm chút với sân vận động, vườn cây, ao cá, bồn hoa và cây cảnh bốn mùa xanh ngát. Trường trở thành nơi kỷ cương, thầy trò yêu thương, bạn bè thân ái, chắp cánh cho ước mơ của biết bao thế hệ học trò. Hàng ngàn kỹ sư, cử nhân và thợ lành nghề đã trưởng thành từ mái trường này, trở thành niềm tự hào của địa phương.

      Bên cạnh việc chú trọng đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, Trường THPT Sông Công luôn quan tâm phát triển toàn diện cho học sinh. Nhà trường không chỉ tập trung nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học chính khóa mà còn tạo điều kiện để các em tham gia các hoạt động ngoại khóa phong phú. Các câu lạc bộ văn hóa, thể thao, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật được thành lập, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng mềm, tinh thần đồng đội và sự sáng tạo. Hoạt động thể thao như bóng đá, cầu lông, cờ vua, cờ tướng luôn được duy trì và phát triển, góp phần hình thành lối sống năng động, khỏe mạnh cho học sinh.

      Trường THPT Sông Công còn nổi bật với các truyền thống đặc sắc, tạo nên bản sắc riêng của ngôi trường. Lễ khai giảng và lễ bế giảng được tổ chức trang trọng, là dịp để cả thầy và trò nhìn lại một năm học, vinh danh những thành tích xuất sắc và khích lệ các em học sinh nỗ lực hơn trong học tập. Hằng năm, các hoạt động văn nghệ, hội thi khoa học kỹ thuật, phong trào “Ngày hội STEM” hay các chương trình thiện nguyện đều được các em học sinh nhiệt tình tham gia, tạo môi trường học tập năng động, thân thiện và giàu tính nhân văn.

      Mối quan hệ thầy trò tại trường luôn được duy trì trong tinh thần yêu thương, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau. Giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người đồng hành, hướng dẫn, định hướng tương lai cho học sinh. Chính nhờ sự gắn kết này, Trường THPT Sông Công đã trở thành nơi ươm mầm tài năng, nuôi dưỡng ước mơ, và tạo ra những thế hệ học sinh trưởng thành toàn diện, sẵn sàng đóng góp cho quê hương và xã hội.

      Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, ngôi trường dấu yêu bước sang tuổi trưởng thành với độ chín, vững vàng trên mọi phương diện. Trong 30 năm qua, con số học sinh giỏi của nhà trường đã lên tới hàng nghìn em, 1801 em đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, 39 em đạt giải học sinh giỏi quốc gia, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp bình quân đạt 95%. Đặc biệt, các đội tuyển học sinh giỏi tiếng Anh của nhà trường đạt nhiều huy chương bạc, huy chương đồng trong kỳ thi IOE cấp quốc gia.

      Năm học 2016-2017, năm học thứ 30, trường đạt quy mô 30 lớp với 1308 học sinh. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cũng có những đổi thay quan trọng. Tre già măng mọc, kẻ đến người đi, để giờ đây đã là 77 thành viên trong một tập thể đoàn kết, thống nhất mục tiêu và ý chí. Nối tiếp những người thầy đầu tiên, các thầy cô giáo hôm nay thực sự là những tay chèo vững chắc chở những chuyến đò đầy sang sông cập bến an toàn.

      Đến nay, trường có 22 Thạc sĩ; 2 giáo viên đang học cao học; 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhiều thầy cô trở thành tấm gương sáng trong sự nghiệp “trồng người”, là Chiến sĩ thi đua, được nhận Bằng khen của UBND tỉnh Thái Nguyên, Thành phố Sông Công, Bộ GD&ĐT, Huy chương vì Sự nghiệp giáo dục… Trường THPT Sông Công cũng đã được Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Giáo dục và Công đoàn Giáo dục Việt Nam tặng bằng khen. Vinh dự và tự hào cho thầy và trò trường là Huân chương Lao động hạng 3 của Chính phủ, Bằng công nhận danh hiệu Trường đạt Chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010, và năm 2011 trường đạt tiêu chuẩn chất lượng cấp độ 3 – mức đánh giá chất lượng cao nhất đối với cấp THPT.

     Với THPT Sông Công hôm nay, ba mươi năm là một hành trình đủ dài để truyền thống được kế thừa và tiếp nối, bởi dù người đi trước hay người đến sau đều một lòng mong mỏi đắp xây mái trường này, để Sông Công mãi là nơi gắn kết tình đồng nghiệp, nghĩa thầy trò, vun trồng những cây đời mãi mãi tươi xanh.

      Tương lai còn ở phía trước, một trang sử mới lại được mở ra. Ngày mai đang chào đón, nhiều cơ hội sẽ đến, và thử thách đang đợi chờ. Chúng ta vững niềm tin rằng: Lịch sử của ngôi trường như một dòng sông chảy xuôi. Dòng sông ấy lặng lẽ đem phù sa bồi đắp cho đời, cho những vụ mùa bội thu, cho cây xanh trái ngọt… Đi qua những ngày mưa bão, ngôi trường dấu yêu kiêu hãnh vươn mình trong nắng gió, như cây bám rễ sâu vào lòng đất bật trào chồi xanh sức sống.

9

đoạn văn này rất hay giàu cảm xúc, cần được đem lên bảo tàng

( đã đọc chữ nào đâu )

13 tháng 8 2025

Bạn viết văn hay, có bố cục rõ ràng. Từ ngữ trong bài văn của bạn gợi tả, cảm xúc và có liên kết. Bài của bạn rất hay. =)

Mở đầuVăn học dân gian Việt Nam là kho tàng tinh thần vô giá, phản ánh đời sống và tâm hồn nhân dân. Trong đó, truyện cổ tích giữ vị trí quan trọng, gửi gắm ước mơ về công lý và hạnh phúc. Tấm Cám là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu, vừa hấp dẫn vừa giàu ý nghĩa nhân văn.Nội dung nghiên cứuTóm tắt Tấm mồ côi cha mẹ, bị mẹ con Cám đối xử tàn nhẫn. Nhờ sự...
Đọc tiếp

Mở đầu
Văn học dân gian Việt Nam là kho tàng tinh thần vô giá, phản ánh đời sống và tâm hồn nhân dân. Trong đó, truyện cổ tích giữ vị trí quan trọng, gửi gắm ước mơ về công lý và hạnh phúc. Tấm Cám là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu, vừa hấp dẫn vừa giàu ý nghĩa nhân văn.

Nội dung nghiên cứu

  1. Tóm tắt
    Tấm mồ côi cha mẹ, bị mẹ con Cám đối xử tàn nhẫn. Nhờ sự giúp đỡ thần kì, Tấm nhiều lần vượt qua thử thách và cuối cùng trở thành hoàng hậu, trừng trị kẻ ác.
  2. Đặc điểm nghệ thuật
    • Yếu tố kì ảo: ông Bụt, sự hóa thân của Tấm (chim vàng anh, cây xoan đào, quả thị) làm truyện thêm hấp dẫn.
    • Cái thiện - ác rõ rệt: Tấm hiền lành, Cám và mẹ độc ác, thể hiện quan niệm công bằng của dân gian.
    • Lối kể tự nhiên, mộc mạc, gần gũi ngôn ngữ đời thường.
  3. Giá trị tư tưởng
    • Nhân đạo: cảm thông, bênh vực người hiền lương.
    • Khát vọng công lý: cái thiện cuối cùng chiến thắng cái ác.
    • Gửi gắm ước mơ về cuộc sống tốt đẹp, niềm tin vào sức mạnh chính nghĩa.

Kết luận
Truyện Tấm Cám không chỉ là câu chuyện cổ tích quen thuộc mà còn là minh chứng cho trí tưởng tượng phong phú và tấm lòng nhân ái của cha ông. Giá trị nghệ thuật và nội dung của truyện vẫn còn nguyên sức hấp dẫn, gợi cho thế hệ trẻ hôm nay niềm tin vào cái thiện và sự công bằng.



0
Anh em xem chấm hộ mình bài này nhé                       Trường THPT Sông Công                  Nơi ươm mầm tài năng và ước mơ         Trường THPT Sông Công là một ngôi trường danh tiếng tọa lạc tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Theo địa giới hành chính mới, trường thuộc Phường Sông Công và vẫn giữ vững vai trò là trung tâm giáo dục quan trọng của...
Đọc tiếp

Anh em xem chấm hộ mình bài này nhé
                       Trường THPT Sông Công
                  Nơi ươm mầm tài năng và ước mơ
         Trường THPT Sông Công là một ngôi trường danh tiếng tọa lạc tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Theo địa giới hành chính mới, trường thuộc Phường Sông Công và vẫn giữ vững vai trò là trung tâm giáo dục quan trọng của địa phương. Với bề dày truyền thống nhiều năm, trường không chỉ là nơi trang bị kiến thức, kỹ năng cho các thế hệ học sinh mà còn là mái nhà thứ hai, nơi nuôi dưỡng những ước mơ, tài năng và tinh thần sáng tạo của các em. Trải qua nhiều năm hình thành và phát triển, trường đã để lại những dấu ấn quan trọng trong nền giáo dục địa phương.

         Trường THPT Sông Công được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1986 theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Thái, với tên gọi ban đầu là Trường PTTH Kỹ thuật Công nghiệp Sông Công. Bản quyết định ấy đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng, mở ra chặng đường hình thành và phát triển của ngôi trường. Năm học đầu tiên 1986-1987, trường có 7 lớp học với 404 học sinh, trong đó có 3 lớp 10 tuyển mới và 4 lớp 11 chuyển từ các trường Phổ Yên và Đồng Hỷ. Do cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, các em học sinh phải tạm học nhờ phòng học của trường Tiểu học Lý Tự Trọng. Để xây dựng những lớp học đầu tiên, nhà trường đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công như Nhà máy Phụ tùng ô tô số I, Nhà máy Y cụ II, Nhà máy Điezen, Xí nghiệp Xây lắp III, Trường Công nhân Kỹ thuật Việt Đức và Trung đoàn 209. Nhờ những nỗ lực ấy, 7 phòng học đầu tiên của trường đã được hình thành, đặt nền móng cho sự phát triển sau này.

        Những năm tháng đầu tiên đầy gian nan ấy đã để lại trong lòng thầy và trò biết bao kỷ niệm khó quên. Dù bộn bề công việc và trách nhiệm nặng nề, niềm vui đến từ những thành quả học tập của khóa học đầu tiên đã tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ tiếp theo. Những năm học sau đó, trường PTTH Kỹ thuật Công nghiệp Sông Công tiếp tục phát triển, chuẩn bị sẵn sàng để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho quê hương.

       Ngày 18 tháng 9 năm 2001, trường được UBND tỉnh Thái Nguyên đổi tên thành Trường THPT Sông Công và mở rộng quy mô trên diện tích 22.705 m². Cơ sở vật chất được đầu tư hiện đại với dãy nhà cao tầng, phòng vi tính, phòng bộ môn, phòng chức năng, thư viện và các thiết bị giảng dạy đáp ứng yêu cầu giáo dục trong thời đại mới. Cảnh quan sư phạm cũng được chăm chút với sân vận động, vườn cây, ao cá, bồn hoa và cây cảnh bốn mùa xanh ngát. Trường trở thành nơi kỷ cương, thầy trò yêu thương, bạn bè thân ái, chắp cánh cho ước mơ của biết bao thế hệ học trò. Hàng ngàn kỹ sư, cử nhân và thợ lành nghề đã trưởng thành từ mái trường này, trở thành niềm tự hào của địa phương.

      Bên cạnh việc chú trọng đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, Trường THPT Sông Công luôn quan tâm phát triển toàn diện cho học sinh. Nhà trường không chỉ tập trung nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học chính khóa mà còn tạo điều kiện để các em tham gia các hoạt động ngoại khóa phong phú. Các câu lạc bộ văn hóa, thể thao, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật được thành lập, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng mềm, tinh thần đồng đội và sự sáng tạo. Hoạt động thể thao như bóng đá, cầu lông, cờ vua, cờ tướng luôn được duy trì và phát triển, góp phần hình thành lối sống năng động, khỏe mạnh cho học sinh.

      Trường THPT Sông Công còn nổi bật với các truyền thống đặc sắc, tạo nên bản sắc riêng của ngôi trường. Lễ khai giảng và lễ bế giảng được tổ chức trang trọng, là dịp để cả thầy và trò nhìn lại một năm học, vinh danh những thành tích xuất sắc và khích lệ các em học sinh nỗ lực hơn trong học tập. Hằng năm, các hoạt động văn nghệ, hội thi khoa học kỹ thuật, phong trào “Ngày hội STEM” hay các chương trình thiện nguyện đều được các em học sinh nhiệt tình tham gia, tạo môi trường học tập năng động, thân thiện và giàu tính nhân văn.

      Mối quan hệ thầy trò tại trường luôn được duy trì trong tinh thần yêu thương, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau. Giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người đồng hành, hướng dẫn, định hướng tương lai cho học sinh. Chính nhờ sự gắn kết này, Trường THPT Sông Công đã trở thành nơi ươm mầm tài năng, nuôi dưỡng ước mơ, và tạo ra những thế hệ học sinh trưởng thành toàn diện, sẵn sàng đóng góp cho quê hương và xã hội.

      Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, ngôi trường dấu yêu bước sang tuổi trưởng thành với độ chín, vững vàng trên mọi phương diện. Trong 30 năm qua, con số học sinh giỏi của nhà trường đã lên tới hàng nghìn em, 1801 em đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, 39 em đạt giải học sinh giỏi quốc gia, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp bình quân đạt 95%. Đặc biệt, các đội tuyển học sinh giỏi tiếng Anh của nhà trường đạt nhiều huy chương bạc, huy chương đồng trong kỳ thi IOE cấp quốc gia.

      Năm học 2016-2017, năm học thứ 30, trường đạt quy mô 30 lớp với 1308 học sinh. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cũng có những đổi thay quan trọng. Tre già măng mọc, kẻ đến người đi, để giờ đây đã là 77 thành viên trong một tập thể đoàn kết, thống nhất mục tiêu và ý chí. Nối tiếp những người thầy đầu tiên, các thầy cô giáo hôm nay thực sự là những tay chèo vững chắc chở những chuyến đò đầy sang sông cập bến an toàn.

      Đến nay, trường có 22 Thạc sĩ; 2 giáo viên đang học cao học; 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhiều thầy cô trở thành tấm gương sáng trong sự nghiệp “trồng người”, là Chiến sĩ thi đua, được nhận Bằng khen của UBND tỉnh Thái Nguyên, Thành phố Sông Công, Bộ GD&ĐT, Huy chương vì Sự nghiệp giáo dục… Trường THPT Sông Công cũng đã được Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Giáo dục và Công đoàn Giáo dục Việt Nam tặng bằng khen. Vinh dự và tự hào cho thầy và trò trường là Huân chương Lao động hạng 3 của Chính phủ, Bằng công nhận danh hiệu Trường đạt Chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010, và năm 2011 trường đạt tiêu chuẩn chất lượng cấp độ 3 – mức đánh giá chất lượng cao nhất đối với cấp THPT.

     Với THPT Sông Công hôm nay, ba mươi năm là một hành trình đủ dài để truyền thống được kế thừa và tiếp nối, bởi dù người đi trước hay người đến sau đều một lòng mong mỏi đắp xây mái trường này, để Sông Công mãi là nơi gắn kết tình đồng nghiệp, nghĩa thầy trò, vun trồng những cây đời mãi mãi tươi xanh.

      Tương lai còn ở phía trước, một trang sử mới lại được mở ra. Ngày mai đang chào đón, nhiều cơ hội sẽ đến, và thử thách đang đợi chờ. Chúng ta vững niềm tin rằng: Lịch sử của ngôi trường như một dòng sông chảy xuôi. Dòng sông ấy lặng lẽ đem phù sa bồi đắp cho đời, cho những vụ mùa bội thu, cho cây xanh trái ngọt… Đi qua những ngày mưa bão, ngôi trường dấu yêu kiêu hãnh vươn mình trong nắng gió, như cây bám rễ sâu vào lòng đất bật trào chồi xanh sức sống.

5
8 tháng 9 2025

Hay quá bây ơi!!!

1. thông tin chungTên tác phẩm: Sơn Tinh - Thủy TinhThể loại: truyền thuyếtNguồn gốc: dân gian Việt Nam“Sơn Tinh – Thủy Tinh” là một truyền thuyết nổi tiếng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, phản ánh cuộc sống gắn bó với thiên nhiên của cư dân nông nghiệp thời xưa.2. Nội dung chínhCâu chuyện kể về cuộc kén rể của vua Hùng. Sơn Tinh – vị thần núi – đến trước và lấy được Mị...
Đọc tiếp

1. thông tin chung
Tên tác phẩm: Sơn Tinh - Thủy Tinh
Thể loại: truyền thuyết
Nguồn gốc: dân gian Việt Nam
“Sơn Tinh – Thủy Tinh” là một truyền thuyết nổi tiếng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, phản ánh cuộc sống gắn bó với thiên nhiên của cư dân nông nghiệp thời xưa.

2. Nội dung chính
Câu chuyện kể về cuộc kén rể của vua Hùng. Sơn Tinh – vị thần núi – đến trước và lấy được Mị Nương. Thủy Tinh đến sau, tức giận dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng năm nào cũng thất bại.

3. Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

  • Giá trị nội dung: Tác phẩm phản ánh cuộc đấu tranh chống lũ lụt của người Việt cổ, đồng thời ca ngợi sức mạnh, trí tuệ và ý chí kiên cường của nhân dân.
  • Giá trị nghệ thuật: Tác phẩm sử dụng yếu tố tưởng tượng, kì ảo; xây dựng hình tượng nhân vật mang tính biểu tượng; ngôn ngữ giản dị, đậm chất dân gian.

4. Kết luận
Qua truyện, em thấy được tinh thần lạc quan, niềm tin và khát vọng chinh phục thiên nhiên của cha ông ta. Đây không chỉ là một câu chuyện hấp dẫn mà còn là bài học về lòng kiên trì, sự đoàn kết để vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

0
Báo cáo Phân tích: Bi kịch Tình yêu và Bài học Cảnh giác trong "Truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy"    I .Mở đầu​        ​ Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những câu chuyện bi kịch nổi tiếng nhất của lịch sử và văn học dân gian Việt Nam, kể về sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc và thành Cổ Loa. Câu chuyện không chỉ là sử thi về thất bại quân sự mà còn là...
Đọc tiếp

Báo cáo Phân tích: Bi kịch Tình yêu và Bài học Cảnh giác trong "Truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy"

    I .Mở đầu

        ​ Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những câu chuyện bi kịch nổi tiếng nhất của lịch sử và văn học dân gian Việt Nam, kể về sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc và thành Cổ Loa. Câu chuyện không chỉ là sử thi về thất bại quân sự mà còn là bi kịch cá nhân sâu sắc, đặt ra những vấn đề muôn thuở về lòng yêu nước, tình yêu đôi lứa, và sự cảnh giác.

    II .Nội dung nghiên cứu

          1. Phân tích Bi kịch

        Bi kịch trong truyện được xây dựng trên sự đối lập giữa tình yêu cá nhân và trách nhiệm dân tộc, dẫn đến những mất mát không thể bù đắp.

          2. Bi kịch về Lòng Tin (Mị Châu)

       Mị Châu là nạn nhân tiêu biểu của bi kịch mất cảnh giác và tình yêu mù quáng.

-          Tình yêu đặt sai chỗ: Nàng yêu Trọng Thủy - con trai kẻ thù, bằng một tình yêu hồn nhiên, tuyệt đối. Nàng tin rằng tình yêu cá nhân có thể vượt qua mọi rào cản chính trị.

-          ​Thiếu cảnh giác chính trị: Với vị thế là công chúa, Mị Châu không nhận ra rằng hôn nhân của mình chỉ là một mưu đồ chính trị của Triệu Đà. Hành động tiết lộ bí mật quân sự quốc gia ("nỏ thần") và chỉ đường cho quân địch bằng lông ngỗng rải trên đường đi là đỉnh điểm của sự vô tâm và khờ khạo chính trị.

      Cái chết bi thảm: Cái chết dưới lưỡi kiếm của cha (An Dương Vương) vừa là sự trừng phạt nghiêm khắc, vừa là sự giải thoát. Nàng chết vì tội vô ý hại nước, nhưng nàng lại chết trong sự ngây thơ, không hiểu hết được tội lỗi của mình.

        3. Bi kịch về Trách nhiệm và Tình yêu (Trọng Thủy)

     Trọng Thủy là nhân vật hai mặt, đại diện cho bi kịch của người thực hiện sứ mệnh phản bội.

-          ​Xung đột nội tâm: Trọng Thủy vừa là gián điệp hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cha, vừa là người yêu Mị Châu thật lòng. Chi tiết chàng ta tìm và ôm xác Mị Châu, rồi gieo mình xuống giếng là biểu hiện của sự dằn vặt và hối hận tột độ khi nhận ra mình đã hủy hoại cả tình yêu và cuộc đời.

-          ​Bi kịch cá nhân: Dù thành công trong việc giúp Triệu Đà chiếm được Âu Lạc, Trọng Thủy lại thất bại thảm hại trong đời sống cá nhân

-          ​Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy đã để lại hai bài học lớn nhất trong văn hóa ứng xử dân tộc:

      4. Bài học về Tinh thần Cảnh giác Quốc gia

-          ​Đặt lợi ích dân tộc lên trên hết: Câu nói nổi tiếng của An Dương Vương khi tuốt kiếm kết liễu con gái đã trở thành chân lý lịch sử: "Giặc ở ngay bên mình, chứ đâu!" Lòng yêu nước, sự cảnh giác với kẻ thù là nguyên tắc sống còn, không thể bị tình cảm cá nhân làm lu mờ.

-          ​Phê phán sự chủ quan: Truyền thuyết phê phán sự chủ quan của An Dương Vương khi quá tin vào vũ khí thần kỳ (nỏ thần) mà lơ là phòng bị, đặc biệt là không đề phòng những kẻ lợi dụng tình cảm để tiếp cận.

     5 . Giá trị giải thích Hiện tượng

​Yếu tố kỳ ảo cuối truyện không chỉ là sự thương cảm mà còn là sự giải thích dân gian cho các hiện tượng tự nhiên:

​Giếng Ngọc: Nơi Trọng Thủy gieo mình. Giếng nước này luôn trong ngần, là biểu tượng của tình yêu trong sáng nhưng đã bị vấy bẩn bởi âm mưu.

​Ngọc trai và Áo Mị Châu: "Máu Mị Châu chảy xuống biển... ngọc trai rửa nước giếng Trọng Thủy thì ngọc càng thêm sáng." Chi tiết này là sự hóa giải và bao dung của nhân dân: dù tội lỗi của Mị Châu là lớn, nhưng tình yêu và sự ngây thơ của nàng vẫn được ghi nhận. Nàng vẫn được minh oan (tình yêu tinh khiết như ngọc trai), nhưng bi kịch đã xảy ra (cái chết).

    III .Kết luận

​"Chuyện Mị Châu – Trọng Thủy" là một truyền thuyết bi tráng, khắc họa một cách sâu sắc sự mâu thuẫn giữa tình yêu cá nhân và trách nhiệm quốc gia. Tác phẩm là lời nhắc nhở muôn đời về sự cảnh giác trong các mối quan hệ với kẻ thù, đồng thời thể hiện sự cảm thông sâu sắc của nhân dân đối với bi kịch tình yêu tan vỡ, dù là bi kịch mang tính chất phản quốc. Bi kịch Mị Châu – Trọng Thủy mãi là một bài học đắt giá của lịch sử dân tộc.

 

 

0
TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIANTác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh” 1. Giới thiệu chungThể loại: Truyện cổ tích.Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược. 2. Nội dung chính của tác phẩmTruyện kể về...
Đọc tiếp

TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

Tác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh”


1. Giới thiệu chung

Thể loại: Truyện cổ tích.

Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.

Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.

Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược.


2. Nội dung chính của tác phẩm

Truyện kể về chàng Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, sống nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân nghĩa. Nhờ sức mạnh và tài năng, Thạch Sanh đã diệt chằn tinh, cứu công chúa, chiến thắng quân xâm lược. Tuy bị mẹ con Lý Thông nhiều lần hãm hại, cuối cùng chàng vẫn được minh oan, trở thành phò mã và được nhân dân yêu mến.

3. Giá trị nội dung

* Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động: Thạch Sanh thật thà, dũng cảm, giàu lòng nhân nghĩa.

* Lên án cái xấu, cái ác: Lý Thông gian xảo, tham lam, cuối cùng bị trừng trị.

* Khát vọng công bằng xã hội: Cái thiện cuối cùng chiến thắng cái ác
*Tình yêu hòa bình: Truyện phản ánh tinh thần chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.

4. Giá trị nghệ thuật

* Xây dựng hình tượng nhân vật mang tính đối lập rõ nét (Thạch Sanh hiền lành ↔ Lý Thông độc ác).

* Yếu tố thần kỳ (cây đàn, niêu cơm, vũ khí thần) vừa hấp dẫn vừa thể hiện ước mơ của nhân dân.

* Cốt truyện giàu kịch tính, mang tính giáo dục cao.

5. Ý nghĩa

“Thạch Sanh” thể hiện niềm tin của nhân dân vào sức mạnh, phẩm chất của người lao động, đồng thời phản ánh quy luật: cái thiện luôn thắng cái ác. Đây là một trong những truyện tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam.

0
1. Mở đầuTrong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.2. Nội dunga. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh –...
Đọc tiếp

1. Mở đầu
Trong văn học dân gian và văn học trung đại, hình ảnh người phụ nữ thường gắn với số phận éo le, bất hạnh. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là minh chứng tiêu biểu, phản ánh nỗi oan khuất và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến qua nhân vật Vũ Nương.
2. Nội dung
a. Hoàn cảnh và số phận của Vũ Nương
-Sinh ra trong gia đình nghèo, lấy Trương Sinh – người chồng hay ghen, thô bạo.
-Khi chồng đi lính, một mình lo toan chăm sóc mẹ chồng già yếu và con nhỏ.
-Vì lời nói ngây thơ của con, bị Trương Sinh nghi oan thất tiết.
-Quá uất ức, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang.
b. Phẩm chất của Vũ Nương
-Hiền thục, thủy chung: luôn giữ đạo vợ chồng, mong chồng bình yên trở về.
-Hiếu thảo: chăm sóc mẹ chồng tận tình, lo tang ma chu đáo.
-Yêu thương con: hết lòng nuôi nấng, dỗ dành con nhỏ.
-Trong sạch, giữ phẩm hạnh: dù chịu oan khuất vẫn giữ trọn lòng thủy chung.
c. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm
-Hiện thực: phản ánh xã hội phong kiến bất công, số phận phụ nữ phụ thuộc vào chồng.
-Nhân đạo: xót thương cho thân phận Vũ Nương, khẳng định phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ, đồng thời ước mơ công lý – bằng chứng là việc Linh Phi cứu giúp, trả lại danh dự cho nàng.
3. Kết luận
-Hình tượng Vũ Nương vừa đẹp đẽ vừa bi kịch. Nàng là đại diện cho người phụ nữ Việt Nam xưa: dịu dàng, thủy chung, hiếu thảo nhưng lại chịu nhiều oan nghiệt. Tác phẩm vừa tố cáo xã hội bất công, vừa ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn phụ nữ, để lại bài học về sự trân trọng và thấu hiểu trong hạnh phúc gia đình.

 

1
29 tháng 9 2025

1. Tên báo cáo nghiên cứu:

Bi kịch tình yêu và bài học mất nước trong truyền thuyết An Dương Vương- Mị Châu- Trọng Thuỷ

2. Lý do:

- Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, tuyền thuyết là một bộ phận quan trọng, phản ánh những sự kiện lịch sự xa xưa qua lăng kính nghệ thuật dân gian. Trong số đó truyện An Dương Vương- Mị Châu- Trọng Thuỷ là một trong những truyền thuyết tiêu biểu và giàu giá trị nhất.

- Câu truyện không chỉ tái hiện công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc thời Âu Lạc mà còn chứa đựng những bài học sâu sắc. Đặc biệt, truyện khắc hoạ một bi kịch kép: bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu. Sự nhẹ dạ của Mị Châu, sự lợi dụng rồi hối hận của Trọng Thuỷ, sự chủ quan của An Dương Vương đều trở thành những chi tiết nghệ thuật để nhân dân rút ra thông điệp: cảnh giác trước kẻ thù, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với quốc gia.

- Ngoài ra, tác phẩm còn đặc sắc ở chỗ kết hợp giữa yếu tố lịch sử và yếu tố kì ảo, vừa phản ánh hiện thực vừa gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân. Chính sự hoà quyện này tạo nên sức sống lâu bền cho truyền thuyết trong tâm thức người Việt.

- Chính vì vậy, em chọn nghiên cứu vấn đề " Bi kịch tình yêu và bài học mất nước trong truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ" để có thể hiểu sâu hơn giá trị văn hoá, nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh mà tác phẩm đem lại.

3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu

a) Mục đích nghiên cứu:

- Giải thích được vì sao truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ vừa mang tính lịch sử vừa mang tính nghệ thuật dân gian.

- Phân tích bi kịch tình yêu của Mị Châu và Trọng Thuỷ như một minh chứng cho sự gắn bó giữa tình cảm cá nhân và vậ mệnh dân tộc.

- Khẳng định giá trị tư tưởng lớn của truyện: đề cao cảnh giác trách nhiệm trong việc giữ nước đồng thòi bộc lộ tấm lòng bao dung của nhân dân đối với những số phận bi kịch.

➞ Qua đó, nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn văn học dân gian mà còn rút ra được những bài học ý nghĩa trong bối cảnh hiện đại.

b) Đối tượng nghiên cứu

- Tác phẩm chính: truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu - Trọng Thuỷ trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và Truyền thuyết Việt Nam.

- Nguồn tham khảo: một số công trình nghiên cứu về văn học dân gian, truyền thuyết lịch sử, cũng như bác bài phân tích, bình giảng về tác phẩm.

- Khía cạnh tập trung: hình tượng nhân vật ( An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thuỷ ), các chi tiết kì ảo ( Rùa vàng, nỏ thần, lông ngỗng, ngọc trai - giếng nước ) và thông điệp lịch sử - nhân sinh mà người dân gửi gắm qua truyện.

c) Phương pháp nghiên cứu

1. Phân tích - tổng hợp:

- Phân tích chi tiết cốt truyện, tính cách nhân vật, yếu tố kì ảo.

- Từ đó tổng hợp thành các luận điểm khái quát về nội dung và nghệ thuật

2. So sánh - đối chiếu:

- So sánh với các truyền thuyết khác về chủ đề mất nước ( vd: Thánh Gióng, Truyện Hai Bà Trưng,...) để thấy nét riêng của bi kịch Mị Châu - Trọng Thuỷ.

3. Lịch sử - văn hoá:

- Đặt truyện trong bối cảnh lịch sử dựng nước và chống giặc ngoại xâm thời Âu Lạc, kết hợp với hoàn cảnh xã hội để lý giải nguyên nhân và ý nghĩa của các chi tiết truyện.

4. Tiếp cận văn hoá dân gian:

- Chú trọng khai thác các biểu tượng dân gian: nỏ thần ( sức mạnh quốc gia ), lông ngỗng ( sự nhẹ dạ ,cả tin), ngọc trai - giếng nước ( sự hoá giải và lòng bao dung ).

- Qua đó lý giải cách nhân dân vừa phán xét vừa cảm thông với số phận nhân vật.