Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bạn hãy tự liên hệ đến bạn ý
con người ta học cái tốt thì khó còn cái xấu thì dễ
VD:Bài học của thầy cô giáo dạy trên lớp rất khó hiểu.có lúc ta còn thấy chán ngắt
còn những lời nói văng tục thì ta lại thấy hay,chỉ cần nghe nói1 lần là có thể bắt chước đc ngay
a. Mở bài
Giải thích ý kiến: Câu nói nêu lên một chân lí: Tự học giúp người ta làm được những điều có ý nghĩa.
b. Thân bài
- Tự học là thực chất của sự học, là sự học do tự mình chủ động, tích cực đến với kiến thức. Trong nhà trường, có thầy dạy hẳn hoi, mà học sinh không tự học thì cũng chẳng thu nhận được gì nhiều. Muốn “học vẹt” thì cũng tự học mới “thuộc” được.
- Nhưng tự học mà Đác-uyn nói lại là sự tìm kiếm tri thức ngoài phạm vi sách vở do nhà trường dạy cho. Kiến thức trong nhà trường chỉ là cơ sở chung, là mặt bằng chung mà ai cũng biết. Muốn làm cái gì có ý nghĩa hơn thì phải có kiến thức sâu hơn, phải tự học thì mới có được kiến thức ấy.
- Con người biết tự học phải là người có ước mơ, hoài bão, có lí tưởng đóng góp cho cuộc sống:
+ Đác-uyn là nhà bác học vĩ đại. Việc tự học của ông gắn liền với hoài bão khoa học của ông.
+ Có hoài bão, có mục đích người ta mới có động cơ và phương hướng để tự học, tìm tòi, không học theo kiểu được chăng hay chớ, biết học có phương pháp.
+ Có hoài bão, người ta mới biết kiên trì, bền bỉ tự học, có nghị lực vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để học tập. Đặc biệt là biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, sáng tạo cái mới.
- Muốn có kiến thức thực sự thì học sinh phải tự học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường.
+ Xác định hoài bão, mục đích để định hướng tự học
+ Rèn luyện thói quen tự học
+ Chuẩn bị tinh thần để tự học suốt đời
+ Ngày nay điều kiện để tự học (sách, máy vi tính, mạng internet…) tốt hơn bao giờ hết và phải có nghị lực mới tận dụng được các điều kiện ấy.
c. Kết bài
Bài học nhận thức và hành động
- Đác-uyn đã nói một điều chân lí, một kinh nghiệm quý báu của những con người vĩ đại.
- Bản thân ra sức tự học để thành tài lập nghiệp cho mình và đóng góp cho đất nước.
Thứ nhất : Tìm biện pháp tu từ và nêu tác dụng
Thứ hai : Chép tiếp khổ thơ
Hai ý trên rất dễ vào bài Đêm nay Bác không ngủ
Thứ ba : Chứng tỏ đây là đoạn văn hay , độc đáo
Thứ tư : Văn miêu tả( tả mẹ ) gì đó
Đó là các dạng sẽ vào thi
Chúc may mắn nha
a giới thiệu anh thợ mộc.
b miêu tả hình dạng hoạt động của con hổ
Mình cũng dậy gửi 14 câu rùi mà chả được 3 GP Học 24 trả lời đi các thầy cô có thể giải thích câu của các thầy cô không , nếu em hiểu mới có thể thực hiện được
Mk thì gửi cả chục câu rồi mà kết quả là............ 0GP.
Thất vọng tràn trề!
Mở đầu bức thư, tác giả đề cập đến đất đai cùng mọi vật liên quan với nó như nước, động vật, thực vật, bầu trời, không khí... Tất thảy đều thiêng liêng đối với người da đỏ vì đó là kỉ niệm ghi sâu trong kí ức:
Đối với đồng bào tôi, mỗi tấc đất là thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thì thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức và kinh nghiệm của đồng bào tôi. Những dòng nhựa chảy trong cây cối cũng mang trong đó kí ức của người da đỏ.
Không chỉ là kỉ niệm, mảnh đất này còn là bà mẹ của người da đỏ. Chúng tôi là một phần của mẹ và mẹ cũng là một phân của chúng tôi. Những bông hoa ngát hương là người chị, người em của chúng tôi. Những mỏm đá, những vũng nước trên đồng cỏ, hơi ấm của chú ngựa con và của con người, tất cả đều cùng chung một gia đình.
Trong đoạn văn này, tác giả đã sử dụng phép nhân hoá nhiều lần Đềthể hiện ý tưởng của mình. Đất là mẹ. Những bông hoa ngát hương là người chị, người em của chúng tôi. Tất cả những gì tồn tại trên mặt đất hội tụ lại thành gia đình, tổ ấm. Phải là người gắn bó suốt đời và hiểu đất đai sâu sắc đến độ nào tác giả mới viết nên những dòng chữ xúc động sâu xa như thế.
Dòng nước óng ánh, êm ả trôi dưới những dòng sông, con suối đâu chỉ là những giọt nước, mà còn là máu của tổ tiên chúng tôi. Nếu chúng tôi bán mảnh đất này cho Ngài, Ngài phải nhớ rằng, Ngài phải dạy bảo con cháu rằng, mảnh đất này là thiêng liêng và những tia sáng chói chang phản chiếu từ mặt hồ trong vắt sẽ nói lên cái gì đó về kí ức của người da đỏ. Tiếng thì thầm của dòng nước chính là tiếng nói của cha ông chúng tôi.
Từ hình ảnh của nước, tác giả liên tưởng, so sánh với máu của tổ tiên, tiếng rì rào của dòng nước là tiếng nói của cha ông. Quả là những so sánh độc đáo và chính xác, xuất phát từ tình yêu tha thiết, chân thành.
Tiếp theo, tác giả giải thích nguyên nhân sự khác biệt, thậm chí đối lập nhau trong cách sống và thái độ đối với đất của người da đỏ và người da trắng:
Tôi biết người da trắng không hiểu cách sống của chúng tôi. Đối với họ, mảnh đất này cũng như mảnh đất khác, bởi lẽ họ là kẻ xa lạ, và trong đêm tối, họ lấy đi từ lòng đất những gì họ cần. Mảnh đất này đâu phải là những người anh em
của họ, mảnh đất này là kẻ thù của họ và khi đã chinh phục được, thì họ sẽ lấn tới. Mồ mả tổ tiên của họ, họ còn quên và họ cũng chẳng cần tới dòng tộc của họ. Họ cư xử vói mẹ đất và anh em bầu trời như những vật mua được, tước đoạt được, rồi bán đi như những con cừu và những hạt kim cương sáng ngời. Lòng thèm khát của họ sẽ ngấu nghiến đất đai, rồi Đềlại đằng sau những bãi hoang mạc.
Điệp ngữ kết hợp với phép tương phản đã thể hiện rõ ý tưởng của người viết. Đất đối với người da đỏ là anh em, đối với người da trắng là kẻ thù bởi vì người da trắng cho rằng đất là thứ mua được, tước đoạt được.
Người da đỏ sinh ra và lớn lên ở đây, làm sao họ có thể đối xử tệ bạc với mảnh đất nghĩa tình?! Mảnh đất họ có được là do ông cha Đềlại và biết bao mồ hôi xương máu đổ ra mới tạo dựng nên. Đây là điểm khác hẳn với người da trắng. Người da trắng đối xử với đất tàn nhẫn và coi đất là thứ hàng hoá vô tri vô giác dùng Đềmua bán, trao đổi. Chính vì thế mà thủ lĩnh da đỏ ngạc nhiên trước cách đối xử lạnh lùng, tàn nhẫn của người da trắng đối với đất. Khi đã chiếm đoạt được, lòng tham của họ sẽ ngấu nghiến đất đai, rồi Đềlại đằng sau những bãi hoang mạc.
Vì cách đối xử của người da trắng đối với đất hoàn toàn đối lập với người da đỏ, nên thủ lĩnh Xi-át-tơn ra điều kiện rằng nếu người da đỏ buộc phải bán đất thì người da trắng cũng phải đối xử với đất trân trọng như người da đỏ.
Nguyên nhân thứ hai dẫn tới sự khác biệt trong thái độ đối xử với đất giữa người da đỏ và người da trắng xuất phát từ cách sống và môi trường sống không giống nhau. Người da trắng gắn với môi trường thành phố san sát những toà nhà bê tông lạnh lùng cao chọc trời, còn người da đỏ một đời gắn bó với thiên nhiên phong phú và sống động:
Ở thành phô' của người da trắng, chẳng có nơi nào yên tĩnh cả, chẳng có nơi nào là nghe được tiếng lá cây lay động vào mùa xuân hay tiếng vỗ cánh của côn trùng. Nếu có nghe thấy thì đó cũng chỉ là những tiếng ồn ào lăng mạ trong tai. Và cái gì sẽ xảy ra đối với cuộc sống, nếu con người không nghe được âm thanh lẻ loi của chú chim đớp mồi hay tiếng tranh cãi của những chú ếch ban đêm bên hồ? Tôi là người da đỏ, tôi thật không hiểu nổi điều đó. Người Anh-điêng chúng tôi Ưa những âm thanh êm ái của những cơn gió thoảng qua trên mặt hồ, được nước mưa gội rửa và thấm đượm hương thơm của phấn thông.
Đoạn văn giống như một bài thơ trữ tình, bay bổng, bộc lộ niềm vui sướng và tự hào của thủ lĩnh về mảnh đất của bộ tộc mình. Người da đỏ biết bảo vệ và quý mến thiên nhiên bởi đó là tất cả đời sống vật chất và tinh thần của họ:
Không khí quả là quý giá đối với người da đỏ, bởi lẽ bầu không khí này là của chung, muông thú, cây cối và con người cùng nhau hít thở. Người da trắng cũng cùng chia sẻ, hít thở bầu không khí đó. Nhưng hình như người da trắng chẳng Đềý gì đến nó. Nếu chúng tôi bán cho Ngài mảnh đất này, Ngài phải nhớ rằng không khí đối với chúng tôi là vô cùng quý giá và phải chia sẻ linh hồn với tất cả cuộc sống mà không khí ban cho. Ngọn gió mang lại hơi thở đầu tiên của cha ông chúng tôi và cũng nhận lại hơi thở cuối cùng của họ. Nếu có bán cho Ngài mảnh đất này, Ngài phải giữ gìn và làm cho nó thành một nơi thiêng liêng cho ngay cả người da trắng cũng có thể thưởng thức được những làn gió thấm đượm hương hoa đồng cỏ.
Như vậy, chúng tôi mới cân nhắc những ý muốn mua mảnh đất này của Ngài. Nếu có quyết định chấp nhận yêu cầu của Ngài, chúng tôi phải đưa ra một điều kiện - đó là, người da trắng phải đối xử với các muông thú sống trên mảnh đất này như những người anh em.
Thủ lĩnh da đỏ đi từ ngạc nhiên đến căm giận khi phải chứng kiến thái độ đối xử tàn bạo đối với muông thú của người da trắng:
Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu bất cứ một cách sống nào khác. Tôi đã chứng kiến cả ngàn con trâu rừng bị chết dần chết mòn trên những cánh đồng trơ trọi vì bị người da trắng bắn mỗi khi có đoàn tàu chạy qua. Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu nổi tại sao một con ngựa sắt nhả khói lại quan trọng hơn nhiều con trâu rừng mà chúng tôi chỉ giết Đềduy trì cuộc sống. Con người là gì, nếu cuộc sống thiếu những con thú? Và nếu chúng ra đi, thì con người cũng sẽ chết dần chết mòn vì nỗi buồn cô đơn về tinh thần, bởi lẽ điều gì sẽ xảy đến với con thú thì cũng chính xảy ra đối với con người. Mọi vật trên đời đều có sự ràng buộc.
Ổđoạn văn này, tác giả khẳng định: Tạo hoá luôn luôn điều hoà sự cân bằng sinh thái giữa con người với thiên nhiên.
Có thể xem đây là kết luận của bức thư:
Ngài phải dạy con cháu rằng mảnh đất dưới chân chúng là những nắm tro tàn của cha ông chúng tôi, và vì thế, chúng phải kính trọng đất đai. Ngài phải bảo
chúng rằng đất đai giàu có được là do nhiều mạng sống của chủng tộc chúng tôi bồi đắp nên. Hãy khuyên bảo chúng như chúng tôi thường dạy con cháu mình: Đất là Mẹ. Điều gì xảy ra với đất đai tức là xảy ra đối với những đứa con của Đất. Con người chưa biết làm tổ Đềsống, con người giản đơn là một sợi tơ trong cái tổ sống đó mà thôi. Điều gì con người làm cho tổ sống đó, tức là làm cho chính mình.
Đi xa hơn, lời kết luận còn cảnh báo: Nếu không đối xử tử tế với đất thì ngay cuộc sống của người da trắng cũng bị tổn hại vì Đất là Mẹ của cả loài người. Giá trị của bức thư mang tính chất vĩnh cửu chính là nhờ mệnh đề chứa đựng ý nghĩa khoa học và triết lí đúng đắn, sâu sắc này.
Tác giả lặp lại hình ảnh Đất là Mẹ với ý khẳng định đất sinh ra con người, nuôi con người lớn lên, ấp ủ, che chở con người. Cuối đời, con người lại trở về với Đất, mối quan hệ giữa đất và người thật khăng khít, không thể tách rời nhau.
Vì sao một bức thư nói về việc mua bán đất từ thế kỉ XIX ở nước Mĩ nhưng đến nay lại được coi là một trong những văn bản nổi tiếng nhất về đề tài thiên nhiên và môi trường?
Có lẽ bởi nội dung bức thư quá hay, quá tiến bộ, dù ở thời điểm đó, thủ lĩnh Xi-át-tơn chưa thể có được ý thức đầy đủ, khoa học về vấn đề bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Hơn nữa, xuất phát điểm của bức thư trước hết vẫn là từ lòng yêu quê hương đất nước. Khi người da trắng từ châu Âu tràn sang châu Mĩ thì người Anh-điêng đang sống theo hình thức bộ lạc, nghĩa là đang sống một cách hoà đồng với thiên nhiên. Thiên nhiên như một bà mẹ hiền cung cấp cho họ tất cả những thứ cần thiết của cuộc sống hằng ngày, về phía họ, họ cũng thấy được tác động trở lại của con người đối với thiên nhiên. Nền cơ khí máy móc của người da trắng xâm nhập đã làm đảo lộn tất cả, huỷ hoại gần như hoàn toàn môi trường sống quen thuộc của họ. Họ đã ngầm có ý thức phản kháng, chỉ chờ dịp bộc lộ. Bức thư trả lời yêu cầu mua đất của Tổng thống Mĩ là một cơ hội thuận lợi. Chính vì vậy, trong thư, ta không thấy thủ lĩnh da đỏ trả lời là có bán đất hay không, lại càng không nói đến chuyện giá cả. vấn đề được đặt ra như một giả thiết (nếu... nếu... ), mà đặt giả thiết chủ yếu là Đềtạo đà, tạo thế cho việc trình bày quan điểm và bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình. Thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn không chỉ đề cập đến đất mà còn đề cập đến tất cả các hiện tượng có liên quan tới đất như đã nói trên, tức là những thứ làm cho đất trỏ nên có giá trị, có ý nghĩa, tạo nên cái mà hiện nay ta gọi là môi trường sinh thái tự nhiên.
Ngày nay, nhân loại đã bước sang thế kỉ XXI. ở thời điểm này, tài nguyên của trái đất gần như đang bị khai thác cạn kiệt, mỏi trường thiên nhiên đang bị ô nhiễm nặng nề và bị tàn phá nghiêm trọng. Bối cảnh đó khiến cho Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn...
|
Đằng cuối bãi, / hai cậu bé con / tiến lại.
|
||
|
Trạng ngữ C V
|
|
Đằng cuối bãi, / tiến lại / hai cậu bé con.
|
||
|
Trạng ngữ V C
|
|
Xác định chủ ngữ vị ngữ trong các câu sau , cho biết câu nào là câu miêu tả , câu nào là câu tồn tại :
(1) Bóng tre trùm lên âu yếm làng , bản ,xóm, thôn.Dưới bóng tre của ngàn xưa , thấp thoáng mái đình , mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh , ta gìn giữ một nền văn hoá lâu đời.
(2) Bên hàng xóm tôi có cái hang của Dế Choắt . Dế Choắt là tên tôi đã đặt cho nó một cách chế giễu và trịch thượng thế.
(3) Dưới gốc tre , tua tủa những mầm măng . Măng trồi lên nhọn hoắt như một mũi gai khổng lồ xuyên qua đất luỹ mà trỗi dậy.
|
Bóng tre / trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn.
|
|||||
|
C V
|
|||||
|
..., thấp thoáng / mái đình, mái chùa cổ kính.
|
|
||||
|
V C
|
|
||||
|
..., ta / gìn giữ một nền văn hoá lâu đời.
|
|
||||
|
C V
|
|
||||
|
Bên hàng xóm tôi có / cái hang của Dế Choắt.
|
|
|||
|
C V
|
|
|||
|
Dế Choắt / là tên tôi đã đặt... và trịch thượng thế.
|
||||
|
C V
|
||||
|
Dưới gốc tre, tua tủa / những mầm măng.
|
|
||
|
V C
|
|
||
|
Măng / trồi lên nhọn hoắt như một... trỗi dậy.
|
|||
|
C V
|
Căn cứ vào vị trí của chủ ngữ, vị ngữ để xác định câu miêu tả và câu tồn tại. Ở câu miêu tả, chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau; đối với câu tồn tại thì ngược lại.
câu miêu tả
+ Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn.
+ ta gìn giữ một nền văn hoá lâu đời
+ Bên hàng xóm tôi có / cái hang của Dế Choắt.
+ Dế Choắt là tên tôi đã đặt... và trịch thượng thế.
+ Măng trồi lên nhọn hoắt như một... trỗi dậy
câu tồn tại :
+ thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ kính.
+ Dưới gốc tre, tua tủa những mầm măng.
ở trên đỉnh núi trượt chân xuống vực sâu mà là cái xấu à bạn, đấy là vô tình
ờ chả ai ngu mà lại tự nhiên trượt chân xuồng à trừ người đang muốn tự tử !!!!!!!!!!!

Bạn hãy tự liên hệ đến bạn ý
con người ta học cái tốt thì khó còn cái xấu thì dễ
VD:Bài học của thầy cô giáo dạy trên lớp rất khó hiểu.có lúc ta còn thấy chán ngắt
còn những lời nói văng tục thì ta lại thấy hay,chỉ cần nghe nói1 lần là có thể bắt chước đc ngay
ua ban lam cai gi ma sao toan post len cac cau hoi ve Bac Ho ko vay?
De truong ban la zay ha
học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MINH đúng ko bạn?
mình cx chọn chủ đề này
Cách đây 60 năm, tháng 10/1954, đúng như câu hát của Văn Cao (viết trên chiến khu từ không chỉ một năm trước đó), “năm cửa ô đón chào đoàn quân tiến về, như đài hoa đón mừng đoàn quân tiến về, Hà Nội bừng tiến quân ca”. Cả dân tộc vui mừng, phấn khởi, lạc quan và tràn đầy hy vọng... Bác Hồ cũng ở trong tâm trạng ấy, nhưng là người trên “phương diện quốc gia”, điều canh cánh trong tâm trí Bác nhất vẫn là nỗi lo cán bộ. Phải làm gì để trong điều kiện sống và làm việc mới, những người cán bộ chiến sĩ cách mạng giữa đô thành phồn hoa vẫn giữ được những phẩm hạnh của “công bộc của nhân dân”?
Ngay từ ngày 5/9/1954, tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, nhân viên các cơ quan Trung ương, các đơn vị bộ đội, công an và thanh niên xung phong chuẩn bị về tiếp quản thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Geneva (1954) về đình chiến ở Đông Dương. Nếu sống quá lâu trong không khí quan liêu, không dễ hiểu được những điều căn dặn ân cần và gần gụi của vị Chủ tịch nước đối với các viên chức. Bác Hồ trong bài nói chuyện này hiện lên như một người cha, một người anh, sâu rộng mà tỉ mỉ, nghiêm ngắn mà tình cảm... Ngày ấy, lãnh đạo, ngay cả ở cấp cao nhất, cũng rất “huynh đệ chi binh” với cấp dưới, theo đúng tinh thần: Chiến sĩ chưa ăn cơm, chỉ huy không được kêu mình đói; chiến sĩ không đủ áo mặc, chỉ huy không được kêu mình rét; chiến sĩ chưa đủ chỗ ở, chỉ huy không được kêu mình mệt...
Bác Hồ nắm rất chắc những tâm tư của các cán bộ chiến sĩ khi họ tham gia lớp học 8 chính sách, 10 điều kỷ luật trước khi trở về Hà Nội sau 9 năm kháng chiến trường kỳ và đã giành thắng lợi. Bác đã giải đáp những thắc mắc đó thật giản dị nhưng thấm thía:
“Các cô, các chú có mấy thắc mắc:
- Vào Hà Nội phải có quần áo đẹp. Như thế là không đúng. Người ta quý trọng người tốt, chứ không quý trọng vì áo quần đẹp.
- Lương bổng như thế nào. Bác có thể trả lời ngay rằng, Chính phủ sẽ đảm bảo cho các cô, các chú giữ đủ mức sống hiện nay. Tùy theo giá sinh hoạt cao hay thấp mà mức lương có thể tăng hoặc giảm, cốt giữ cho được mức sinh hoạt bình thường.
- Tương lai công tác của mình sau này thế nào. Về điểm này, Bác, Đảng và Chính phủ sẽ bảo đảm cho ai nấy đều có công việc theo năng lực của mình. Nếu làm được việc thì Đảng, Chính phủ luôn săn sóc đến, giao công tác cho. Ai mà tự kiêu, tự mãn thì sẽ thoái bộ; khi đó không trách được Đảng và Chính phủ”.
Hồ Chủ tịch sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (1954).
Rất rõ ràng, sòng phẳng nhưng cũng chan chứa tình cảm. Tuy nhiên, nếu Bác chỉ lo gỡ cho cấp dưới những điều thắc mắc vật chất (tất nhiên, vật chất quyết định tinh thần, theo đúng phép duy vật biện chứng!), thì hẳn chúng ta đã bị thiệt thòi biết bao nhiêu khi hình dung về một vị Cha già dân tộc mang đậm trong mình sự hiền triết rất phương Đông. Không quên những nỗi lo cơm áo của người thường, đời thường, điều Bác Hồ luôn canh cánh muốn các cán bộ, chiến sĩ trong đoàn quân cách mạng từng “thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu” (lời Quốc ca) phải khắc cốt ghi tâm lại là chuyện khác. Bác nói tiếp trong bài phát biểu đó:
“Bác bổ sung một điều đáng thắc mắc mà các cô, các chú không ai nêu ra. Đó là khuyết điểm rất to của các cô, các chú. Điểm đó là: khi về xuôi thì đạo đức và nhân cách của mình phải thế nào?”. Tôi đồ rằng, khi nghe tới đây, những người có vinh dự được Bác chỉ bảo hôm đó không thể không giật mình mà “ngộ” ra rằng, trên đời thực sự có vĩ nhân và vĩ nhân đó không ở cõi chín tầng mây mà bám rất chắc đời thường nhưng lại luôn nghĩ tới những điều cao cả. Bác Hồ là một vĩ nhân như thế và Bác luôn dạy chúng ta phải chăm lo cho tâm hồn mình, nhân cách mình chu đáo để khỏi phải sợ sau này bị cái xấu làm cho “thất thân”, làm cho không được yên lành, hạnh phúc. Nêu ra khuyết điểm của các viên chức cách mạng, mới chỉ biết thắc mắc về chế độ được hưởng nhưng chưa nghĩ tới việc “vệ sinh tâm hồn” (chữ của V.I. Lênin), Bác Hồ trong những câu tiếp theo lại thể hiện lòng khoan dung, sự động viên thích đáng:
“Các cô các chú là những người kháng chiến, đều đã được học tập, rèn luyện, được thực hiện tự phê bình và phê bình. Số người không tham gia kháng chiến, không được học tập, rèn luyện thì các cô các chú đã tiến bộ hơn rất nhiều.
Tiến bộ ở những điểm nào?
- Tác phong chịu đựng gian khổ.
- Tinh thần luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao cho.
Đảng và Chính phủ đã đào tạo cho các cô, các chú thành những người tốt, mặc dù còn nhiều khuyết điểm phải sửa chữa”.
Thái độ của Bác ở đây dường như có chút gì đó đồng điệu với điều mà sách Luận ngữ từng viết: “Trọng người giỏi mà dong người thường; khen người hay mà thương người dở”... Làm như vậy ai có thể lòng nào không thấm thía khi lĩnh hội những lời căn dặn của Bác!
Là người từng bôn ba gần khắp thế giới, muối mặn gừng cay của cuộc đời từng nếm trải nhiều, Bác Hồ hơn ai hết hiểu rõ những bả độc mà cảnh phồn hoa có thể gieo rắc trên con đường mà các “công bộc” của nhân dân đi khi rời chiến khu về với phố. Hầu như tất cả những ai lầm tưởng rằng mình có thể nuốt vào miệng những viên “kẹo bọc đường”, “mút” hết đường rồi kịp thời “nhả” đạn ra đều bị “bé cái lầm” và thường phải trả giá đắt cho thói tinh vi. Trong đời sống đạo đức, chỉ có hai cách tồn tại: hoặc là hoàn toàn sạch, hoặc là rất bẩn. Không có chỗ dành cho trạng từ “chút chút”. Bác đã diễn tả ý tưởng này một cách rất hình tượng:
“Bây giờ về xuôi thì thế nào?
Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh.
Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.
Mấy năm kháng chiến, các cô, các chú đã học được nhiều đức tính tốt. Về xuôi, nhất là về thành thị, sẽ có nhiều người phức tạp, nhiều thứ quyến rũ mình vào thói xấu.
Ta ở rừng núi, quen tiết kiệm của công, của riêng. Đó là điều tốt. Về xuôi, Bác chỉ nói vài cái nhỏ: phở ngon, rồi thì đồng hồ, bút máy, xe đạp, v.v... Nếu không giữ được thói quen tiết kiệm thì sẽ tham ăn ngon, tham mua các thứ xa hoa. Lương không đủ thì sẽ lấy ở đâu? Lúc ấy chỉ có hai cách: một là ăn cắp của Chính phủ, hai là bị tiền mua chuộc...
Có thể có những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi.
Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó hại mình mà mình không trông thấy...”.
Nghe những lời Bác căn dặn, đừng bao giờ nên nghĩ rằng Bác chủ trương một chủ nghĩa khắc khổ. Không, Bác Hồ không bao giờ chủ trương sống ép xác. Cái mà Bác muốn nhấn mạnh ở đây chỉ là nguyên lý muôn đời: phải biết sống thích ứng với năng lực, với thu nhập, với hoàn cảnh của mình, theo đúng tinh thần của bốn chữ vàng là cần, kiệm, liêm, chính! Giữa phồn hoa vẫn giữ mình trong sạch. Giữa bon chen vẫn giữ mình trung trực. Đó là điều mà Bác Hồ mong muốn các thế hệ cán bộ cách mạng phấn đấu. Ngay trong Di chúc, Bác vẫn còn nhắc nhở: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Thấm thía được những lời dạy này, chúng ta mới có thể bảo toàn được gương mặt đạo đức của mình trong những điều kiện phức tạp của cơ chế thị trường hiện nay. Và có bảo toàn được gương mặt đạo đức của mình, chúng ta mới giữ được vị trí chèo lái đưa con thuyền đất nước đi tới những bờ bến mới của độc lập, tự do, dân chủ và giàu mạnh
o trong bai thi tuoi tre hoc tap va lam theo dao duc ho chi minh dung ko bn