Chọn một trong các vấn đề sau để trình bày trước lớp

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

1 tháng 2 2024

* Bài nói mẫu tham khảo
- Đề 1

Marxim Gorki đã từng nói rằng "Nơi lạnh nhất trên thế giới không phải ở Bắc Cực, mà là nơi thiếu vắng tình yêu thương." Với tình yêu thương làm trọng tâm, tác giả đã sáng tác ra tác phẩm "Bà lão I-dec-ghin". Trong phần kết của truyện, đoạn trích "Trái tim của Đan-kô" đã thể hiện suy nghĩ và triết lý sâu sắc của tác giả về cách sống và tình yêu thương trong cuộc sống. Từ đó, nhân vật Đan-kô được tạo hình rõ nét trong tác phẩm.
Đầu tiên, Đan-kô là một chàng trai can đảm, lạc quan, không chịu khuất phục trước sự nguy hiểm. Bộ tộc đang sợ hãi trước đầm lầy u tối và không dám tiến lên phía trước. Tuy nhiên, Đan-kô lại khuyên họ không nên đứng yên mà cần dũng cảm đi vào rừng tìm đường sống. Cuối cùng, Đan-kô đã thuyết phục được mọi người và trở thành người dẫn đầu, giúp đỡ mọi người tìm nơi ở mới. Quãng đường đến nơi cư ngụ mới đầy nguy hiểm, "Rừng tối om, cứ bước một bước, đầm lầy lại há cái mõm tham lam hôi thối ra nuốt mất người, và cái cây cối sừng sững chặn đường như một bức thành kiên cố. Cành cây quấn quýt lấy nhau; rễ bò lan khắp nơi như đầu rắn, và cứ mỗi bước đi, họ lại phải tốn bao nhiêu mồ hôi và máu". Tuy nhiên, Đan-kô không chùn bước, không đầu hàng. Chỉ vì một chút khó khăn, mọi người đã nản chí, oán trách nhưng Đan-kô vẫn duy trì được sự hăng hái, nhiệt tình và sự lạc quan.
Trong tình cảnh khắc nghiệt, thiên nhiên giận dữ với "cơn giông đánh rừng, cây cối đung đưa rùng rợn", "tia chớp vồ lấy những cành cây, ánh lửa lạnh lẽo soi sáng qua những khoảnh khắc". Đám người hoảng sợ, mất tinh thần và trở thành những con người yếu đuối, nhát gan. Họ tự biến mình thành đám đông giận dữ, phàn nàn và chỉ trích Đan-kô. Nghe những lời chửi mắng, Đan-kô cũng bị kích động, nhưng lòng thương hại đã dập tắt ngọn lửa giận dữ ấy. Anh ta yêu thương mọi người và nghĩ rằng nếu không có anh, có lẽ họ đã không còn tồn tại được. Sự cao thượng và tình yêu thương giúp Đan-kô vượt lên khỏi sự ích kỷ và những hạnh phúc nhỏ bé.
Trong trái tim Đan-kô, ngọn lửa nhiệt thành bùng cháy, cố gắng giải cứu mọi người khỏi hiểm nguy. Những tia lửa mong muốn mãnh liệt của anh lóe sáng trong mắt, anh sẵn sàng hy sinh tính mạng để soi sáng con đường đi của đoàn người. Trái tim anh cháy sáng như mặt trời, làm khu rừng bừng tỉnh dậy dưới ngọn đuốc tình yêu thương vĩ đại, cao cả. Bất chợt, người khác phải cúi đầu, nhường lối cho anh. Cuối cùng, sự hy sinh đó được đền đáp khi đoàn người tìm được nơi trú ẩn, sinh sống an toàn. Những chi tiết ấy chứng tỏ Đan-kô là người có trái tim nhân hậu, đầy lòng bao dung và trắc ẩn đối với con người.
Điểm nhìn khác nhau của người kể thứ ba đã làm nổi bật những phẩm chất anh hùng của Đan-kô. Tính cách của anh được thể hiện rõ ràng qua lời nói và hành động. Trái tim nhiệt huyết và tình yêu thương của Đan-kô đã xua tan bóng tối, trở thành ngọn lửa dẫn đầu, truyền bá những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Anh là hình ảnh đích thực của lòng vị tha. Từ nhân vật này, chúng ta càng nhận ra vai trò và tầm quan trọng của sự can đảm cùng tình yêu thương trong cuộc sống. Tình thương sẽ giúp con người có động lực để giúp đỡ những người xung quanh.
- Đề 2
Trải qua hàng nghìn năm văn hiến, Hà Nội đã trở thành mảnh đất kết tinh bao tinh hoa của đất trời, là nơi hội tụ cảm xúc của biết bao thế hệ văn nghệ sĩ. Vùng đất kinh kỳ dường như hoá thân thành “nhân vật” có tâm hồn trong trong văn thơ, chẳng cần xô bồ hay hối hả, Hà Nội vẫn để lại dấu ấn riêng gây thương nhớ cho những ai đã từng ghé qua. Chẳng lãng mạn như Tô Hoài, Đỗ Phấn, truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải đã để lại trong lòng người đọc biết bao cảm xúc dạt dào, vẻ đẹp con người được khắc hoạ thật tinh tế, chân thật, mang đậm màu sắc Hà thành.
Nguyễn Khải sinh ra tại Hà Nội, ông trải qua nhiều bước ngoặc lớn trong cuộc đời mình. Năm 1950, ông bắt đầu sự nghiệp văn chương với những tác phẩm đầu tay: Xây dựng (1950-1951), Xung đột (phần I – 1959, phần II – 1962),… Các tác phẩm viết về đề tài nông thôn: Mùa lạc (1960), Người trở về (1964),… Từ sau năm 1975, các tác phẩm của ông đề cập chủ yếu đến vấn đề chính trị - xã hội mang tính thời sự, đặc biệt là tâm lý, tư tưởng con người trước những biến động của thời cuộc. Các tác phẩm tiêu tiểu của Nguyễn Khải trong giai đoạn này: Cha và con, và… (1979), Thời gian của người (1985) và đặc sắc nhất là truyện ngắn Một người Hà Nội được ông viết năm 1990. Tác phẩm đã khắc hoạ rõ nét vẻ đẹp tính cách và tâm hồn của con người Hà Nội qua biết bao thăng trầm, biến động của đất nước.
Nhan đề Một người Hà Nội được Nguyễn Khải đặt đã làm nổi bật lên hình tượng trung tâm xuyên suốt của tác phẩm chính là “người Hà Nội” mang trong mình vẻ đẹp toàn diện từ ngoại hình, tính cách cho đến tâm hồn. Nhan đề không màu mè, khoa trương cũng đủ gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, nó như mở ra một không gian nghệ thuật tuyệt mỹ, một mảnh đất Hà thành xinh đẹp, cổ kính, trải qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử dân tộc.
Nguyễn Khải xây dựng nhiều tuyến nhân vật đều xuất thân là người Hà thành, tuy nhiên nổi bật là cô Hiền – nhân vật chính trong truyện. Cô xuất thân trong một gia đình giàu có, nế nếp, có nhan sắc, yêu văn chương và có trí thông minh hơn người. Ở nhân vật này, toát lên vẻ đẹp thuần tuý không trộn lẫn, vẻ đẹp của tinh thần và cốt cách thấm sâu từ nền văn hoá vùng đất kinh kỳ, không thể phai nhoà theo năm tháng. Cô Hiền yêu mảnh đất này, nơi cô sinh ra và lớn lên với biết bao hoài niệm, cô vẫn ở lại Hà Nội thân thương mặc cho bom đạn đang đổ xuống nơi đây, chẳng ngại hiểm nguy đang trực chờ cô và gia đình mình vẫn bám trụ chỉ bởi vì “không thể rời xa Hà Nội”.
Người phụ nữ có vẻ đẹp quý phái, đầy lòng kiêu hãnh, sự tự tin vốn có của người Đô thành, cùng với con mắt nhạy bén, sắc sảo dám bộc lộ quan điểm thẳng thắn, dám sống thật với bản thân. Mặc cho xã hội đang dần thay đổi, nếp sống hối hả xô bồ đang ngày càng lan rộng trong nhân dân, cô Hiền vẫn giữ cho cho mình được lối sống đẹp, cách cư xử nhã nhặn, thanh cao đúng chuẩn Hà thành. Quả là một con người thức thời, cô nhanh chóng dung hoà được giá trị vật chất và vẻ đẹp tâm hồn, tuy chẳng còn phải tuổi thiếu nữ đôi mươi nhưng người phụ nữ này vẫn giữ cho mình một tâm hồn yêu nghệ thuật, cô vẫn giữ mối quan hệ với những văn nhân, nghệ sĩ, giữ cho tâm hồn biết yêu và trân trọng vẻ đẹp tinh thần. Gần ba mươi tuổi, cô Hiền mới đi lấy chồng, “đùa vui một thời son trẻ thế là đủ” đã đến lúc làm một người vợ hiền, một người mẹ tốt, cô không chọn “một ông quan nào hết” hay một người văn nghệ sĩ, cô chọn lấy một ông giáo tiểu học “hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”. Người phụ nữ này chắc hẳn nổi tiếng cả Hà thành, cô đã có những tính toán cho cuộc đời mình, khi đứng trước ngã rẽ cuộc đời cô lựa chọn một lối đi an toàn nhất nhưng cũng hoàn hảo nhất. Cô Hiền có tất cả, từ gia thế cho tới ngoại hình, trí tuệ, cô biết mình cần gì và muốn gì, quyết định chọn một nhà giáo tri thức lại hiền lành, chăm chỉ sẽ mang lại cho cô một gia đình hạnh phúc trọn vẹn. Khi là người vợ, người mẹ cô tính toán chu toàn cho tương lai của những đứa con mình, đây quả thực là một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, dám nghĩ dám làm, khi đã làm thì không sợ đàm tiếu, thị phi thiên hạ. Bất kể là bản lĩnh hay trí tuệ cô đều có thừa, thật khiến người kinh khâm phục, kính nể bội phần.
Cô Hiền được tác giả miêu tả như “nội tướng”, mọi việc trong gia đình đều do một tay cô thu xếp chu toàn. Cô tài giỏi trong việc kinh tế lẫn quản lý gia đình, đưa cho chồng những lời khuyên đúng đắn kịp thời, mở một cửa hàng hoa giả mang lại thu nhập cho gia đình, cô bán đi một dinh cơ cho người bạn ở kháng chiến về. Chỉ bằng những hành động trên, ta hoàn toàn có thể cảm nhận được cô Hiền là người rất thức thời, và có trí tuệ hơn người. Cô và gia đình sống như một nhà tư sản ở trong một “toà nhà toạ lạc ngay tại một đường phố lớn”, “mùa đông ông mặc áo ba-xờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo măng-tô”, “bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa”,… Họ vẫn giữ nếp sống Hà thành giữa thời cuộc đổi thay nhưng lại chẳng thấp thỏm lo sợ, cũng chẳng cần để tâm đến lời dị nghị xung quanh bởi vì cô Hiền biết đâu là chuẩn mực, là giới hạn, để giữ cho mình không đủ “tiêu chuẩn” thành tư sản, chẳng cần “bóc lột” ai mọi việc đều tự sức mình mà làm. Cô tự tin khẳng định với những bà bạn của mình “các bà không biết nhưng nhà nước lại rất biết”, câu nói là thể hiện lòng tin tuyệt đối vào chế độ mới, lòng yêu nước mãnh liệt, dạt dào. Trong nuôi dạy con cái, cô là người mẹ mẫu mực, nghiêm khắc, cô dạy các con từ cách ngồi, cách ăn và cả nói chuyện, đi đứng, dạy cho chúng “không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”. Cô truyền dạy cho con lối sống, văn hoá người Hà Nội, khắc sâu vào tâm trí chúng lòng yêu nước và trách nhiệm cao cả với Tổ quốc.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, là một người mẹ chứng kiến đứa con mình ra chiến trường bon đạn, đối diện với sinh ly tử biệt, mặc dù lo lắng, đau lòng nhưng cô vẫn để con đi. Cô Hiền là một người mẹ mẫu mực, tôn trọng quyết định của con, sống có lòng tự trọng, cô không muốn Dũng “sống bám vào sự hy sinh của bạn bè”. Ra đi là bảo vệ Tổ quốc, hy sinh cho Tổ quốc không thể có sự ích kỷ, hẹp hòi len lỏi trong tâm trí. Dù đứng ở cương vị nào, cô Hiền vẫn giữ được cốt cách thanh cao, lối cư xử rất đỗi mẫu mực. Nguyễn Khải ví cô như “hạt bụi vàng” là cách ông thể hiện sự yêu quý, trân trọng trước vẻ đẹp trí tuệ và nhân cách của con người Hà Nội.
Nguyễn Khải sáng tạo hình tượng người kể chuyện xuất hiện xuyên suốt chiều dài tác phẩm, theo giọng kể chiêm nghiệm và đầy triết lý của nhân vật vùng đất Hà thành và con người nơi đây hiện lên một cách sinh động, hóm hỉnh và rất chân thật. Tác giả đã rất thành công trong nghệ thuật trần thuật, ông nhìn sự vật, hiện tượng dưới nhiều góc độ và với nhiều cách đánh giá, ngôn ngữ thay đổi linh hoạt, giàu biểu cảm. Các chi tiết nghệ thuật “hạt bụi vàng”, “cây si cổ thụ”,… rất đặc sắc đã góp phần khắc sâu vẻ đẹp con người Hà Nội trong lòng người đọc...

27 tháng 8 2023

Xin chào thầy/cô và các bạn, sau đây em xin trình bày vẻ đẹp của nhân vật Đan-kô trong văn bản Trái tim Đan-kô.

Mác-xim Go-rơ-ki là nhà văn nổi tiếng đến từ Nga. Từ nhỏ ông là người rất đam mê đọc sách và cùng với những gian khó tuổi thơ đã thắp sáng và nảy sinh khát vọng sáng tác của ông. Truyện Trái tim Đan-kô là một trong những truyện ngắn xuất sắc của ông, được trích ở phần cuối “Tuyển tập truyện ngắn Mác-xim Go-rơ-ki”. Tác phẩm kể về sự hy sinh cao cả, tấm lòng vị tha yêu thương của người anh hùng Đan-kô.

Mở đầu là bức tranh thiên nhiên ở thảo nguyên u ám, với cảnh vật đáng sợ. Rồi lại có sự xuất hiện của ánh lửa xanh kỳ dị, gợi đến những câu chuyện hoang đường. Chính ánh lửa này xuất phát từ câu chuyện của một người anh hùng với trái tim vĩ đại và tràn đầy yêu thương. Một đoàn người trên thảo nguyên đang bị bủa vây trong bóng tối của khu rừng, cành lá thì dày đặc và ánh sáng mặt trời thì không chiếu đến. Họ không có con đường nào có thể thoát ra, ngày một tuyệt vọng và buông xuôi tất cả. Rừng tối mù mịt như bao đêm tối trên thế gian đều tụ lại dây, khiến cho cây cối mờ mờ ảo ảo hiện hình bao quỷ dữ. Trước cảnh tượng ấy ai mà không thương xót cho số phận của đoàn người. Bởi lẽ họ vô tội. Họ đang sống bình yên vui vẻ, không làm hại ai thì lại bị một bộ lạc khác đánh đuổi. Không chỉ phải chiến đấu với con người, mà họ còn phải chiến đấu với cả thiên nhiên. Chúng đã quật cho họ kiệt sức và tước đi ý chí của họ.

Nhưng một vị anh hùng, một chàng trai đã xuất hiện để cứu lấy cuộc sống của họ. Đan-kô đã tìm cách để dẫn dắt mọi người vượt qua khu rừng đáng sợ và tràn ngập bóng tối này. Nhưng khi đứng trước một khu rừng rậm rạp, con người mỗi lúc một kiệt sức thì con người lại lộ ra bộ mặt yếu hèn và nhút nhát của mình. Trước đó thì họ xin anh dẫn họ đi, bây giờ họ lại bắt đầu đổ lỗi cho Đan-kô. Họ mắng mỏ, họ bảo anh phải chết đi. Họ như bầy thú đã đến bước đường cùng. Người đọc cảm thấy vừa tức giận vừa thương hại những con người này. Có lẽ vì bất lực mà họ chẳng còn nghĩ đến ai ngoài mình ra. Thấy rất thương Đan-kô. Anh cũng chỉ muốn không thể để bộ lạc của mình phải trở thành những kẻ nô lệ cho kẻ thù. Vậy mà bây giờ họ lại kết tội anh, muốn anh phải chết.
Trái tim Đan-kô bỗng bùng lên niềm phẫn nộ sục sôi, nó cháy rực lên mạnh mẽ. Mặc dù Đan-kô rất phẫn nộ trước hành động ấy nhưng anh lại nhận ra rằng “Anh yêu họ và nghĩ rằng không có anh, có lẽ họ chết mất”. Một chàng trai có tấm lòng vị tha và yêu thương con người mặc cho bị đối xử tệ bạc nhưng vẫn quyết định cứu mọi người. Ý nghĩa muốn cứu mọi người quá mãnh liệt nhưng lại không được tin tưởng đến mức phải gào to lên như sấm.

Sau đó anh đã có một hành động xé toang lồng ngực của mình và giơ cao lên, giơ cao trái tim đang cháy sáng rực rỡ đẩy lùi tất cả đêm đen soi đường cho bộ lạc tiến lên. Đan-kô thật anh hùng, chàng đã cứu sống tất cả những người trong bộ lạc. Chàng vẫn đi trước, giơ cao trái tim dẫn đường, rừng cây dẫn ra trước bước chân Đan-kô. Nó như một điều gì đó thật cao quý, chói ngời. Và trong lòng người đọc cảm thấy vô cùng cảm phục, trân trọng con người này.

Rồi đoàn người cũng tìm ra được miền đất mới. Đó là một thảo nguyên tươi đẹp, giàu có. Tất cả đều vui mừng quên cả Đan-kô-vị cứu tinh của mình. Đan-kô kiêu hãnh ngắm nhìn thảo nguyên, mỉm cười sung sướng rồi anh gục xuống, tắt thở trong niềm tự hào. Anh chết nhưng trái tim kiêu hãnh của anh thì vẫn cứ cháy mãi. Nhưng rồi có ai nhớ đến sự hy sinh cao cả của anh? Họ vui sướng tràn đầy hy vọng vì được cứu sống rồi họ lại lập tức quên luôn người đã cứu mình. Đan-kô là hiện thân cho hình ảnh một con người xả thân cứu người mà không đòi hỏi được đền đáp. Go-rơ-ki đã dùng những từ ngữ chân thành và tốt đẹp nhất để ca ngợi, để trân trọng trước cái chết của Đan-kô. Đó còn là bức tranh gợi cho ta suy nghĩ về ý nghĩa cuộc sống. Phải chăng khi con người đứng trước những khó khăn, nghịch cảnh của cuộc sống thì họ sẽ quên mất mình là ai, sống một cách ích kỷ và tham lam. Nhưng vẫn sẽ có những con người giống như Đan-kô xuất hiện. Đứng trước vực tối cuộc sống, vẫn giữ trong mình trái tim yêu thương, một lòng tốt chân thành mà không cần đền đáp.

Một bức tranh thiên nhiên, một sự đấu tranh sự sống của con người đã hiện lên thật đặc sắc trong tác phẩm Trái tim của Đan-kô của Go-rơ-ki. Câu chuyện khiến cho người đọc phải suy nghĩ về những giá trị sống và mối quan hệ giữa con người trong hiện thực thực cuộc sống.

Cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe, rất mong nhận được lời góp ý của mọi người để bài nói được hoàn thiện hơn. 

1 tháng 2 2024

* Bài viết mẫu tham khảo
Mác-xim Go-rơ-ki là nhà văn nổi tiếng đến từ Nga. Từ nhỏ ông là người rất đam mê đọc sách và cùng với những gian khó tuổi thơ đã thắp sáng và nảy sinh khát vọng sáng tác của ông. Truyện “Trái tim Đan-kô” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của ông, được trích ở phần cuối “Tuyển tập truyện ngắn Mác-xim Go-rơ-ki”. Tác phẩm kể về sự hy sinh cao cả, tấm lòng vị tha yêu thương của người anh hùng Đan-kô.
          Mở đầu là bức tranh thiên nhiên ở thảo nguyên u ám, với cảnh vật đáng sợ. Rồi lại có sự xuất hiện của ánh lửa xanh kỳ dị, gợi đến những câu chuyện hoang đường. Chính ánh lửa này xuất phát từ câu chuyện của một người anh hùng với trái tim vĩ đại và tràn đầy yêu thương. Một đoàn người trên thảo nguyên đang bị bủa vây trong bóng tối của khu rừng, cành lá thì dày đặc và ánh sáng mặt trời thì không chiếu đến. Họ không có con đường nào có thể thoát ra, ngày một tuyệt vọng và buông xuôi tất cả. Nhưng một vị anh hùng, một chàng trai đã xuất hiện để cứu lấy cuộc sống của họ. Đan-kô đã tìm cách để dẫn dắt mọi người vượt qua khu rừng đáng sợ và tràn ngập bóng tối này. Nhưng khi đứng trước một khu rừng rậm rạp, con người mỗi lúc một kiệt sức thì con người lại lộ ra bộ mặt yếu hèn và nhút nhát của mình. Trước đó thì họ xin anh dẫn họ đi, bây giờ họ lại bắt đầu đổ lỗi cho Đan-kô. Họ mắng mỏ, họ bảo anh phải chết đi. Mặc dù Đan-kô rất phẫn nộ trước hành động ấy nhưng anh lại nhận ra rằng “Anh yêu họ và nghĩ rằng không có anh, có lẽ họ chết mất”. Một chàng trai có tấm lòng vị tha và yêu thương con người mặc cho bị đối xử tệ bạc nhưng vẫn quyết định cứu mọi người. Ý nghĩa muốn cứu mọi người quá mãnh liệt nhưng lại không được tin tưởng đến mức phải gào to lên như sấm. Và anh đã có một hành động xé toang lồng ngực của mình và dơ cao lên. 
Ngọn lửa trong trái tim Đan-kô đã xua tan đi mây mù và anh đã dẫn mọi người chạy ra khỏi khu rừng tối tăm này. Anh đã đưa được mọi người ra ngoài và sau đó gục xuống chết. Bằng cách đổi lấy sinh mạng của mình, anh ấy đã mang trái tim ấm áp, một lòng tốt của một trái tim dũng cảm soi sáng dẫn đường cho đoàn người. Nhưng rồi có ai nhớ đến sự hy sinh cao cả của anh? Họ vui sướng tràn đầy hy vọng vì được cứu sống rồi họ lại lập tức quên luôn người đã cứu mình. Đan-kô là hiện thân cho hình ảnh một con người xả thân cứu người mà không đòi hỏi được đền đáp. Go-rơ-ki đã dùng những từ ngữ chân thành và tốt đẹp nhất để ca ngợi, để trân trọng trước cái chết của Đan-kô. Đó còn là bức tranh gợi cho ta suy nghĩ về ý nghĩa cuộc sống. Phải chăng khi con người đứng trước những khó khăn, nghịch cảnh của cuộc sống thì họ sẽ quên mất mình là ai, sống một cách ích kỷ và tham lam. Nhưng vẫn sẽ có những con người giống như Đan-kô xuất hiện. Đứng trước vực tối cuộc sống, vẫn giữ trong mình trái tim yêu thương, một lòng tốt chân thành mà không cần đền đáp.
           Một bức tranh thiên nhiên, một sự đấu tranh sự sống của con người đã hiện lên thật đặc sắc trong tác phẩm “Trái tim của Đan-kô” của Go-rơ-ki. Câu chuyện khiến cho người đọc phải suy nghĩ về những giá trị sống và mối quan hệ giữa con người trong hiện thực thực cuộc sống.

6 tháng 8 2023

Tham khảo!

Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về tác giả Mác-xim Go-rơ-ki (những nét chính về con người, cuộc đời và đặc điểm sáng tác,...)

- Giới thiệu khái quát về tác phẩm Trái tim Đan-kô (xuất xứ, những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật,...)

Thân bài:

- Những ngọn lửa xuất hiện trong cuộc trò chuyện của tác giả và bà lão I-đéc-ghin

- Câu chuyện cảm động về trái tim Đan-kô và sự hy sinh cao cả của anh

- Những cảm xúc của tác giả và bà I-đéc-ghin về trái cao thượng anh hùng của Đan-kô

Kết bài: Khẳng định lại giá trị về nội dung, nghệ thuật được Go-rơ-ki kể qua truyện ngắn “Trái tim Đan-kô”. Từ đó thấy được tài năng của Go-rơ-ki

16 tháng 9 2025

Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Thúy Kiều

Trong đoạn trích, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái tài sắc vẹn toàn, tình cảm sâu sắc nhưng phải chịu nhiều bi kịch trong cuộc đời. Nhân vật vừa thể hiện vẻ đẹp nghiêm trang, dịu dàng, vừa toát lên sự thông minh, nhạy cảm, đặc biệt là trong cách đối nhân xử thế và cảm nhận nỗi đau, niềm vui. Thúy Kiều còn là biểu tượng của sự hy sinh, lòng trung hiếu và tình yêu chân thành, khi sẵn sàng chịu đựng gian truân để bảo vệ gia đình, trọn nghĩa với người thân và tình yêu. Qua đó, nhân vật phản ánh bi kịch của thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải đối mặt với những éo le, bất công, dù bản thân đầy phẩm chất tốt đẹp. Đồng thời, Thúy Kiều còn khơi gợi ở người đọc cảm xúc thương cảm và ngưỡng mộ, khiến bà trở thành hình tượng nhân vật trường tồn trong văn học Việt Nam. Nhân vật không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp và tài năng, mà còn là tấm gương về nhân cách, đức hy sinh và lòng trung trinh, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.


Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến về lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay

Trong xã hội hiện đại, lí tưởng sống là mục tiêu, phương hướng giúp mỗi người định hình hành động và phát triển bản thân. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, lí tưởng không chỉ là thành công về vật chất, mà còn là giá trị tinh thần, đóng góp cho cộng đồng và đất nước. Một thanh niên có lí tưởng sống đúng đắn sẽ biết học tập, rèn luyện, sáng tạo, lao động và tôn trọng đạo đức, đồng thời nuôi dưỡng những ước mơ cao đẹp, như: trở thành người có ích, đóng góp cho xã hội, bảo vệ môi trường, lan tỏa những giá trị tích cực.

Lí tưởng còn giúp thanh niên vững vàng trước cám dỗ, thử thách và khó khăn, không bị lạc hướng bởi những trào lưu tiêu cực. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, thế hệ trẻ cần biết kết hợp kiến thức, kỹ năng và lòng nhân ái để vừa phát triển bản thân, vừa xây dựng cộng đồng tốt đẹp. Nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Trần Lập hay những bạn trẻ tham gia hoạt động thiện nguyện đã chứng minh rằng lí tưởng sống đúng đắn sẽ tạo ra những hành động đẹp, ý nghĩa.

Từ đó, có thể thấy rằng lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là sự trưởng thành cá nhân, mà còn là sứ mệnh xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái và tiến bộ. Mỗi thanh niên cần xác định mục tiêu, nuôi dưỡng đam mê và hành động tích cực mỗi ngày, để biến lí tưởng thành thực tế cuộc sống. Chính lí tưởng sống cao đẹp sẽ giúp thế hệ trẻ khẳng định bản thân, cống hiến và lan tỏa những giá trị tốt đẹp, góp phần làm cho xã hội ngày càng văn minh, nhân văn.

24 tháng 12 2025

Câu 1.

Thúy Kiều trong đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du hiện lên là một con người thấu tình đạt lí nhưng mang số phận mong manh, đau khổ. Trước hết, Kiều là người sống đàng hoàng, có ý thức đạo đức rõ ràng. Nàng chủ động khuyên Thúc Sinh trở về nhà, khuyên chàng phải nói rõ sự thật với Hoạn Thư, không nên “giấu ngược giấu xuôi”. Điều đó cho thấy Kiều không muốn dựa vào sự dối trá để níu giữ tình cảm, dù bản thân đang chịu nhiều thiệt thòi trong thân phận làm lẽ. Bên cạnh đó, qua những lời dặn dò, Kiều bộc lộ khát vọng hạnh phúc nhỏ bé: mong có một địa vị rõ ràng, một tình yêu được thừa nhận. Tuy nhiên, khát vọng ấy lại mong manh và đầy bất trắc, bởi chính Kiều cũng dự cảm về “sóng gió” đang chờ phía trước. Cảnh chia tay thấm đẫm nỗi buồn với hình ảnh “vầng trăng ai xẻ làm đôi” đã khắc sâu nỗi cô đơn, đau đớn của nàng. Qua nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Câu 2.

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, lí tưởng sống luôn đóng vai trò quan trọng đối với thế hệ trẻ. Trong cuộc sống hôm nay – khi xã hội phát triển nhanh chóng, cơ hội và thách thức đan xen – việc xác định lí tưởng sống đúng đắn càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Lí tưởng của thế hệ trẻ là những giá trị, mục tiêu tốt đẹp mà người trẻ hướng tới để sống, học tập và cống hiến. Đó có thể là khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, sống có trách nhiệm với cộng đồng, hay không ngừng hoàn thiện nhân cách, trí tuệ của bản thân. Lí tưởng không phải là những điều xa vời, mà được thể hiện qua từng hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày.

Trong thực tế, lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay có nhiều biểu hiện tích cực. Nhiều bạn trẻ nỗ lực học tập, rèn luyện kĩ năng, làm chủ khoa học – công nghệ để đóng góp cho xã hội. Không ít người tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái. Bên cạnh đó, người trẻ ngày nay cũng mạnh dạn khẳng định bản thân, dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi ước mơ chính đáng của mình.

So với thế hệ trẻ trong quá khứ, lí tưởng của người trẻ hôm nay vừa có sự tiếp nối vừa có sự thay đổi. Nếu thế hệ trẻ trước đây sống và chiến đấu vì lí tưởng độc lập, tự do của dân tộc, thì thế hệ trẻ ngày nay tiếp nối tinh thần ấy bằng việc xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình. Dù hoàn cảnh khác nhau, điểm gặp gỡ lớn nhất vẫn là khát vọng sống có ích và cống hiến cho xã hội.

Lí tưởng có vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Lí tưởng là động lực thôi thúc người trẻ vượt qua khó khăn, là ngọn đuốc soi đường giúp họ không lạc lối giữa những cám dỗ của đời sống hiện đại. Một người trẻ sống có lí tưởng sẽ biết trân trọng thời gian, sống có trách nhiệm và biết hướng đến những giá trị bền vững.

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lí tưởng, chạy theo hưởng thụ, sống thực dụng. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ cần tự nhận thức và tự rèn luyện, đồng thời gia đình, nhà trường và xã hội cần có vai trò định hướng đúng đắn.

Tóm lại, việc xác định lí tưởng sống đúng đắn chính là nền tảng để thế hệ trẻ khẳng định giá trị bản thân và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Tuổi trẻ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được sống, học tập và cống hiến vì những mục tiêu cao đẹp.

16 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh Gầy trong văn bản “Anh béo và anh gầy”

Trong truyện “Anh béo và anh gầy”, anh Gầy hiện lên là một người điềm đạm, nghiêm túc và khá cầu toàn. Khác với anh Béo phóng khoáng, hồn nhiên, anh Gầy luôn cân nhắc kỹ càng trước mọi hành động, lời nói. Anh thường lo lắng, tỉ mỉ và hay phàn nàn về những điều không vừa ý, điều này cho thấy anh chú trọng đến nguyên tắc, lý trí và sự cẩn trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, chính sự nghiêm túc ấy cũng bộc lộ hạn chế: anh thiếu sự linh hoạt, đôi khi gò bó bản thân trong khuôn khổ, khiến cuộc sống trở nên căng thẳng. Qua nhân vật anh Gầy, tác giả không chỉ phản ánh tính cách riêng biệt mà còn muốn nhấn mạnh thông điệp về sự cân bằng giữa nghiêm túc và phóng khoáng, giữa lý trí và cảm xúc. Anh Gầy vì vậy là hình ảnh điển hình của những con người có suy nghĩ sâu sắc nhưng đôi khi bị chính tính cách của mình kìm hãm.


Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về cách nhìn nhận vấn đề: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng”

Cuộc sống luôn chứa đựng hai mặt: thuận lợi và khó khăn, niềm vui và thử thách. Cách mỗi người nhìn nhận vấn đề quyết định thái độ, cảm xúc và kết quả trong cuộc sống. Có người chỉ thấy khổ đau, bất tiện và dễ bi quan; nhưng cũng có người biết nhận ra cơ hội và giá trị tiềm ẩn, từ đó lạc quan, kiên trì vượt qua khó khăn. Câu nói: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” minh họa rõ ràng hai cách nhìn nhận này.

Nếu ta chỉ nhìn vào gai, chỉ thấy khổ đau và thất vọng, tâm hồn sẽ bị thu hẹp, dễ rơi vào bi quan, lo âu và bỏ lỡ những giá trị xung quanh. Ngược lại, biết nhìn vào hoa hồng nở từ bụi gai, con người sẽ học cách trân trọng, biết ơn và nhìn thấy cơ hội trong thử thách. Cách nhìn tích cực không chỉ giúp con người hạnh phúc hơn mà còn tạo động lực vượt qua khó khăn, biến trở ngại thành bài học quý giá.

Thực tế cho thấy, nhiều người thành công nhờ thái độ lạc quan, biết học hỏi từ thất bại. Những doanh nhân, nhà khoa học hay nghệ sĩ từng trải qua nhiều lần thất bại nhưng không bỏ cuộc đều đạt được thành công vang dội. Ngược lại, những người bi quan dễ bỏ cuộc ngay khi gặp thử thách, dù cơ hội đã ở trước mắt.

Vì vậy, lựa chọn cách nhìn nhận tích cực trong cuộc sống là vô cùng quan trọng. Biết “vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” giúp con người sống vui vẻ, lạc quan, trân trọng giá trị xung quanh và đạt được hạnh phúc. Ngược lại, chỉ phàn nàn về gai hồng sẽ làm tâm hồn nặng nề, cuộc sống u tối và khó thành công. Mỗi người nên rèn luyện cách nhìn nhận tích cực để biến thử thách thành cơ hội, khó khăn thành bài học quý giá, từ đó cuộc sống trở nên ý nghĩa và nhẹ nhàng hơn.

19 tháng 12 2025

câu 1

Trong truyện ngắn Anh béo và anh gầy của Sê-khốp, nhân vật anh gầy hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho con người nhỏ bé, tầm thường và bị ám ảnh nặng nề bởi địa vị xã hội. Ban đầu, anh gầy xuất hiện khá tự nhiên, chân thành, vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Tuy nhiên, ngay khi biết anh béo là người có chức quyền cao, thái độ của anh gầy lập tức thay đổi một cách đột ngột và đáng buồn. Anh trở nên khúm núm, sợ sệt, lời nói ngập ngừng, cử chỉ lố bịch đến mức đánh mất hoàn toàn nhân cách của chính mình. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ áp lực bên ngoài mà đến từ tâm lí nô lệ quyền lực đã ăn sâu trong suy nghĩ của anh. Qua nhân vật anh gầy, nhà văn phê phán gay gắt thói xu nịnh, sự tự ti và sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội đương thời. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra lời cảnh tỉnh sâu sắc về giá trị của lòng tự trọng và nhân phẩm con người.

câu 2

Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với vô vàn khó khăn, thử thách. Có những lúc, hiện thực không diễn ra theo mong muốn, buộc con người phải lựa chọn thái độ sống và cách nhìn nhận vấn đề để tiếp tục bước đi.


Ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng” đã gợi ra một triết lí sâu sắc về cách con người đối diện với nghịch cảnh. Cùng một sự việc, có người chỉ nhìn thấy khó khăn, đau đớn, nhưng cũng có người nhận ra những giá trị tích cực ẩn chứa bên trong.


Lựa chọn cách nhìn nhận tích cực giúp con người giữ được niềm tin và sự lạc quan. Khi tập trung vào mặt tốt đẹp của vấn đề, ta sẽ có thêm động lực để vượt qua thử thách, không bị hoàn cảnh nhấn chìm hay đánh gục.


Thực tế đã chứng minh rằng nhiều con người thành công đều bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn. Nick Vujicic, người sinh ra không có tay chân, đã không than trách số phận mà coi nghịch cảnh là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân, trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người.


Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào “gai nhọn”, con người dễ rơi vào bi quan, chán nản và buông xuôi. Cách nhìn tiêu cực không làm cho hoàn cảnh tốt hơn mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi, đánh mất cơ hội thay đổi cuộc sống.


Trong xã hội hiện nay, không ít người thất bại không phải vì thiếu năng lực mà vì thiếu tinh thần lạc quan. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, phàn nàn về hoàn cảnh thay vì tìm cách thích nghi và vươn lên.


Tuy nhiên, nhìn nhận tích cực không có nghĩa là né tránh hay phủ nhận khó khăn. Đó là sự tỉnh táo để nhận ra thử thách, đồng thời chủ động tìm giải pháp, biến nghịch cảnh thành động lực phát triển bản thân.


Cuối cùng, lựa chọn cách nhìn nhận vấn đề chính là lựa chọn cách sống. Khi biết vui mừng vì “bụi gai có hoa hồng”, con người sẽ sống mạnh mẽ hơn, bình tĩnh hơn và từng bước tiến tới một cuộc đời ý nghĩa.



20 tháng 12 2025

Câu 1:

Bài thơ "Những bóng người trên sân ga" của Nguyễn Bính đã khắc họa thành công bức tranh biệt ly đượm buồn qua nghệ thuật điệp cấu trúc và ngôn ngữ bình dị. Nội dung bài thơ không chỉ là việc liệt kê những cuộc chia tay của nhiều mảnh đời khác nhau—từ đôi bạn trẻ, cặp tình nhân đến người vợ tiễn chồng—mà còn là sự đồng cảm sâu sắc của thi sĩ trước nỗi đau nhân thế. Hình ảnh sân ga trở thành một không gian nghệ thuật chứa đựng sự cô đơn, nơi "cây đàn sum họp đứt từng dây". Với giọng thơ nhẹ nhàng, đậm chất chân quê, Nguyễn Bính đã biến những quan sát đời thường thành những bóng hình nghệ thuật ám ảnh, thể hiện cái tôi nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn trước những cảnh "biệt ly" trong xã hội cũ.

Câu 2:

Trong rừng đời mênh mông với vô vàn ngã rẽ, mỗi người đều phải đối mặt với một quyết định quan trọng: đi theo lối mòn an toàn hay dũng cảm khai phá một hành trình mới. Nhà thơ Robert Frost đã để lại một tư tưởng sâu sắc qua dòng thơ: "Trong rừng có nhiều lối đi/ Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người". Câu nói này là lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị của sự chủ động và tinh thần sáng tạo trong việc định hình số phận cá nhân.

"Lối đi chưa có dấu chân người" không chỉ là một con đường vật lý, mà là biểu tượng cho những lựa chọn khác biệt, những thử thách mới mẻ mà số đông thường e ngại. Lựa chọn lối đi này đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, đối mặt với sự cô đơn để tìm kiếm những giá trị thực sự thuộc về bản thân. Trong một xã hội hiện đại dễ bị cuốn theo những chuẩn mực rập khuôn, việc chủ động chọn lối đi riêng giúp con người không bị hòa tan, đồng thời tạo ra những đột phá mà những lối mòn cũ kỹ không bao giờ có được.

Sự chủ động trong lựa chọn mang lại cho chúng ta quyền làm chủ cuộc đời. Thay vì thụ động chờ đợi hay bắt chước người khác, người sáng tạo luôn khao khát khẳng định bản sắc cá nhân. Những vĩ nhân hay những người thành công vượt trội đều là những người dám bước ra khỏi vùng an toàn để khai phá những "vùng đất mới" trong tư duy và hành động. Tuy nhiên, chọn lối đi riêng không phải là sự liều lĩnh mù quáng, mà phải là kết quả của sự thấu hiểu bản thân và khát vọng cống hiến mãnh liệt.

Tóm lại, con đường dẫn đến thành công và hạnh phúc đích thực thường không nằm ở những nơi đã quá đông đúc dấu chân. Hãy bản lĩnh để trở thành người mở đường, vì chính những khó khăn trên lối đi riêng sẽ mài giũa ta trở nên cứng cỏi và giúp ta để lại những dấu ấn ý nghĩa cho cuộc đời.


20 tháng 12 2025


Câu 1.

Bài thơ Những bóng người trên sân ga gây ấn tượng sâu sắc bởi nội dung giàu tính nhân văn và giọng điệu trầm lắng, suy tư. Hình ảnh “những bóng người” hiện lên mờ nhạt, thoáng qua trên sân ga – một không gian của chia ly, chờ đợi và dịch chuyển – đã gợi ra cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trong dòng chảy cuộc sống. Sân ga không chỉ là địa điểm cụ thể mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho những ngã rẽ của số phận, nơi con người gặp nhau rồi rời xa nhau trong im lặng. Bài thơ không kể chuyện cụ thể mà thiên về gợi cảm xúc, để lại nhiều khoảng trống cho người đọc suy ngẫm. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng hình ảnh giàu sức gợi, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu chiều sâu, nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với tâm trạng hoài niệm, bâng khuâng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật đã làm nên vẻ đẹp riêng của bài thơ, khiến người đọc nhận ra những khoảnh khắc rất đời nhưng dễ bị lãng quên trong cuộc sống vội vã hôm nay.

Câu 2.

Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết:

“Trong rừng có nhiều lối đi

Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.”

Câu thơ gợi lên một triết lí sâu sắc về sự chủ động lựa chọn con đường riêng và tinh thần sáng tạo trong cuộc sống của mỗi con người.

Cuộc đời giống như một khu rừng rộng lớn với vô vàn lối đi khác nhau. Mỗi lối đi tượng trưng cho một lựa chọn: học tập, nghề nghiệp, cách sống, cách khẳng định bản thân. Việc “chọn lối đi chưa có dấu chân người” không chỉ thể hiện khát vọng khác biệt mà còn cho thấy sự chủ động, dũng cảm và tự tin của con người khi dám bước ra khỏi những lối mòn quen thuộc. Chủ động lựa chọn lối đi riêng là khi ta hiểu rõ bản thân, biết mình muốn gì, có khả năng tự quyết định thay vì chạy theo đám đông hay sống theo sự sắp đặt của người khác.

Sự chủ động ấy gắn liền với tinh thần sáng tạo – yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Sáng tạo không chỉ tồn tại trong nghệ thuật hay khoa học mà còn thể hiện trong cách con người học tập, làm việc và giải quyết vấn đề. Những người dám đi con đường riêng thường là những người mang tư duy đổi mới, không ngại thử thách, sẵn sàng chấp nhận thất bại để tìm ra giá trị mới. Chính họ là những người tạo ra sự khác biệt và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.

Tuy nhiên, lựa chọn lối đi riêng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Con đường chưa có dấu chân người thường đầy rẫy khó khăn, cô đơn và cả hoài nghi. Người đi trên con đường ấy phải có bản lĩnh, ý chí và tinh thần chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Nếu thiếu sự chuẩn bị và hiểu biết, việc “khác biệt” rất dễ trở thành bồng bột hoặc lạc hướng. Vì vậy, lối đi riêng cần được xây dựng trên nền tảng của tri thức, sự nỗ lực nghiêm túc và những giá trị tích cực.

Đối với người trẻ hôm nay, đặc biệt là học sinh, việc chủ động lựa chọn con đường phù hợp với năng lực và ước mơ của bản thân là vô cùng cần thiết. Thay vì học tập, sống và mơ ước theo khuôn mẫu sẵn có, mỗi người cần dám khám phá bản thân, phát huy điểm mạnh, nuôi dưỡng đam mê và sáng tạo. Khi đó, lối đi riêng không chỉ giúp ta khẳng định giá trị cá nhân mà còn góp phần làm cho cuộc sống trở nên phong phú và ý nghĩa hơn.

Tóm lại, thông điệp trong câu thơ của Robert Frost khẳng định giá trị của sự chủ động và sáng tạo trong việc lựa chọn lối đi cho cuộc đời mình. Dám bước trên con đường riêng chính là dám sống là chính mình, dám ước mơ và dám chịu trách nhiệm để tạo nên một cuộc sống có ý nghĩa.


22 tháng 3

Câu 1. Mục tiêu tổng quát của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030 là phát triển nhanh và bền vững, trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại của vùng trung du và miền núi phía Bắc, có cơ cấu kinh tế hợp lý, đời sống nhân dân được nâng cao, hạ tầng đồng bộ, đô thị phát triển, giữ vững quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường

Câu 2.
Công nghiệp: phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, công nghiệp hỗ trợ, khai thác và chế biến khoáng sản hợp lý, mở rộng các khu công nghiệp hiện đại
Nông nghiệp: phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nâng cao giá trị sản phẩm như chè, chăn nuôi, gắn với xây dựng nông thôn mới, áp dụng khoa học kỹ thuật
Dịch vụ: phát triển thương mại, logistics, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa lịch sử, dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao, mở rộng kết nối vùng bao gồm cả khu vực Bắc Kạn cũ

22 tháng 4

Trương ơi đừng dâm

1 tháng 2 2024

Đoạn văn tham khảo
Với tấm lòng đồng cảm sâu sắc dành cho thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Nguyễn Du đã viết nên Truyện Kiều và Độc Tiểu Thanh kí, mà ở đó, người đọc thấy được rất nhiều điểm chung, đặc biệt là hai câu “Đau đớn thay phận đàn bà/Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” trong Truyện Kiều và “Cổ kim hận sự thiên an vấn,/Phong vận kì oan ngã tự cư” trong Độc Tiểu Thanh kí. Trong Truyện Kiều, hai câu thơ trên là lời cảm thán của Kiều (cũng chính là Nguyễn Du) về kiếp người hồng nhan bạc mệnh của Đạm Tiên - một kỹ nữ trong tác phẩm. Còn ở Độc Tiểu Thanh kí, toàn bài là lời cảm than, thương xót của Nguyễn Du gửi đến nàng Tiểu Thanh - một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng cũng chịu chung số phận mệnh bạc. Điểm chung của hai câu thơ của hai bài đều là lời than thở, cảm thông, thương xót cho số phận bất hạnh như một định mệnh của những người phụ nữ tài hoa nhưng chung số phận của xã hội thời xưa. Họ đều đa tài, giỏi giang, xinh đẹp. Những người toàn vẹn như vậy xứng đáng có được cuộc sống hoàn hào, hạnh phúc. Nhưng dường như những điều bất hạnh luôn tìm đến họ, cướp mất hạnh phúc nhân gian của họ. Thánh thần hay ông Trời - những đấng tạo hóa luôn đẩy họ đến nghiệt ngã, khiến họ chỉ có thể than thân trách phận và chấp nhận số phận. Nguyễn Du tìm thấy ở họ những đau khổ chung, để cảm nhận và thương xót, và cũng để soi chiếu chính mình. Phải chăng số phận của mình cũng sẽ là như vậy? Chịu những khổ đau và ra đi, và bị quên lãng? Đó là nỗi niềm, trăn trở của Nguyễn Du về thời thế và cuộc đời, với những con người “tri âm tri kỉ”, đồng bệnh tương liên, dù chẳng bao giờ có thể gặp được nhau.