Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu tục ngữ :Một mặt người bằng mười mặt của
- Con người là tài sản quý giá nhất trên đời, cha ông nhắc nhở thế hệ sau quý trọng con người hơn mọi của cải vật chất trên đời
- Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh đối lập để nhấn mạnh giá trị, tầm quan trọng của con người (một = mười)
- Tiền bạc, của cải có thể làm ra được, còn con người thì không
- Câu tục ngữ cũng phê phán những kẻ xem trọng của cải vật chất, đánh mất đi những giá trị tốt đẹp của con người
Lí tưởng sống của thanh niên ngày nay đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một tương lai tươi sáng và đáng sống. Vậy thanh niên ngày nay nên chọn lí tưởng sống như thế nào? Đây là câu hỏi cần suy ngẫm một cách nghiêm túc. Lí tưởng sống của thanh niên hiện đại không chỉ bao gồm thành công cá nhân, mà còn là tình yêu thương và sự cân bằng trong cuộc sống. Đầu tiên, thanh niên ngày nay cần có tầm nhìn và mục tiêu phát triển rõ ràng. Điều này đòi hỏi các bạn trẻ phải không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân, tư duy sáng tạo, khám phá thế giới. Lí tưởng sống của thanh niên ngày nay cũng cần quan tâm sự đồng cảm và yêu thương với mọi người xung quanh. Có thể rèn luyện bằng việc học cách lắng nghe, tôn trọng ý kiến, quan điểm của người khác, đồng thời, đặt mục tiêu giúp đỡ, chia sẻ với những người gặp khó khăn hơn. Không dừng có vậy, lí tưởng sống của thanh niên ngày nay cần có sự cân bằng trong cuộc sống. Giới trẻ không nên quá tập trung vào công việc và thành công vật chất, mà còn phải chăm sóc bản thân, biết quan tâm đến sức khỏe tinh thần như tận hưởng cuộc sống, dành thời gian cho gia đình, bạn bè,... Tóm lại, lí tưởng sống của thanh niên ngày nay là kết hợp mục tiêu cá nhân, tình yêu thương với cộng đồng và sự cân bằng trong cuộc sống để cùng nhau xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Câu 1:
Bài thơ "Những bóng người trên sân ga" của Nguyễn Bính đã khắc họa thành công bức tranh biệt ly đượm buồn qua nghệ thuật điệp cấu trúc và ngôn ngữ bình dị. Nội dung bài thơ không chỉ là việc liệt kê những cuộc chia tay của nhiều mảnh đời khác nhau—từ đôi bạn trẻ, cặp tình nhân đến người vợ tiễn chồng—mà còn là sự đồng cảm sâu sắc của thi sĩ trước nỗi đau nhân thế. Hình ảnh sân ga trở thành một không gian nghệ thuật chứa đựng sự cô đơn, nơi "cây đàn sum họp đứt từng dây". Với giọng thơ nhẹ nhàng, đậm chất chân quê, Nguyễn Bính đã biến những quan sát đời thường thành những bóng hình nghệ thuật ám ảnh, thể hiện cái tôi nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn trước những cảnh "biệt ly" trong xã hội cũ.
Câu 2:
Trong rừng đời mênh mông với vô vàn ngã rẽ, mỗi người đều phải đối mặt với một quyết định quan trọng: đi theo lối mòn an toàn hay dũng cảm khai phá một hành trình mới. Nhà thơ Robert Frost đã để lại một tư tưởng sâu sắc qua dòng thơ: "Trong rừng có nhiều lối đi/ Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người". Câu nói này là lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị của sự chủ động và tinh thần sáng tạo trong việc định hình số phận cá nhân.
"Lối đi chưa có dấu chân người" không chỉ là một con đường vật lý, mà là biểu tượng cho những lựa chọn khác biệt, những thử thách mới mẻ mà số đông thường e ngại. Lựa chọn lối đi này đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, đối mặt với sự cô đơn để tìm kiếm những giá trị thực sự thuộc về bản thân. Trong một xã hội hiện đại dễ bị cuốn theo những chuẩn mực rập khuôn, việc chủ động chọn lối đi riêng giúp con người không bị hòa tan, đồng thời tạo ra những đột phá mà những lối mòn cũ kỹ không bao giờ có được.
Sự chủ động trong lựa chọn mang lại cho chúng ta quyền làm chủ cuộc đời. Thay vì thụ động chờ đợi hay bắt chước người khác, người sáng tạo luôn khao khát khẳng định bản sắc cá nhân. Những vĩ nhân hay những người thành công vượt trội đều là những người dám bước ra khỏi vùng an toàn để khai phá những "vùng đất mới" trong tư duy và hành động. Tuy nhiên, chọn lối đi riêng không phải là sự liều lĩnh mù quáng, mà phải là kết quả của sự thấu hiểu bản thân và khát vọng cống hiến mãnh liệt.
Tóm lại, con đường dẫn đến thành công và hạnh phúc đích thực thường không nằm ở những nơi đã quá đông đúc dấu chân. Hãy bản lĩnh để trở thành người mở đường, vì chính những khó khăn trên lối đi riêng sẽ mài giũa ta trở nên cứng cỏi và giúp ta để lại những dấu ấn ý nghĩa cho cuộc đời.
Câu 1.
Bài thơ Những bóng người trên sân ga gây ấn tượng sâu sắc bởi nội dung giàu tính nhân văn và giọng điệu trầm lắng, suy tư. Hình ảnh “những bóng người” hiện lên mờ nhạt, thoáng qua trên sân ga – một không gian của chia ly, chờ đợi và dịch chuyển – đã gợi ra cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trong dòng chảy cuộc sống. Sân ga không chỉ là địa điểm cụ thể mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho những ngã rẽ của số phận, nơi con người gặp nhau rồi rời xa nhau trong im lặng. Bài thơ không kể chuyện cụ thể mà thiên về gợi cảm xúc, để lại nhiều khoảng trống cho người đọc suy ngẫm. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng hình ảnh giàu sức gợi, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu chiều sâu, nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với tâm trạng hoài niệm, bâng khuâng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật đã làm nên vẻ đẹp riêng của bài thơ, khiến người đọc nhận ra những khoảnh khắc rất đời nhưng dễ bị lãng quên trong cuộc sống vội vã hôm nay.
Câu 2.
Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết:
“Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.”
Câu thơ gợi lên một triết lí sâu sắc về sự chủ động lựa chọn con đường riêng và tinh thần sáng tạo trong cuộc sống của mỗi con người.
Cuộc đời giống như một khu rừng rộng lớn với vô vàn lối đi khác nhau. Mỗi lối đi tượng trưng cho một lựa chọn: học tập, nghề nghiệp, cách sống, cách khẳng định bản thân. Việc “chọn lối đi chưa có dấu chân người” không chỉ thể hiện khát vọng khác biệt mà còn cho thấy sự chủ động, dũng cảm và tự tin của con người khi dám bước ra khỏi những lối mòn quen thuộc. Chủ động lựa chọn lối đi riêng là khi ta hiểu rõ bản thân, biết mình muốn gì, có khả năng tự quyết định thay vì chạy theo đám đông hay sống theo sự sắp đặt của người khác.
Sự chủ động ấy gắn liền với tinh thần sáng tạo – yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Sáng tạo không chỉ tồn tại trong nghệ thuật hay khoa học mà còn thể hiện trong cách con người học tập, làm việc và giải quyết vấn đề. Những người dám đi con đường riêng thường là những người mang tư duy đổi mới, không ngại thử thách, sẵn sàng chấp nhận thất bại để tìm ra giá trị mới. Chính họ là những người tạo ra sự khác biệt và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, lựa chọn lối đi riêng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Con đường chưa có dấu chân người thường đầy rẫy khó khăn, cô đơn và cả hoài nghi. Người đi trên con đường ấy phải có bản lĩnh, ý chí và tinh thần chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Nếu thiếu sự chuẩn bị và hiểu biết, việc “khác biệt” rất dễ trở thành bồng bột hoặc lạc hướng. Vì vậy, lối đi riêng cần được xây dựng trên nền tảng của tri thức, sự nỗ lực nghiêm túc và những giá trị tích cực.
Đối với người trẻ hôm nay, đặc biệt là học sinh, việc chủ động lựa chọn con đường phù hợp với năng lực và ước mơ của bản thân là vô cùng cần thiết. Thay vì học tập, sống và mơ ước theo khuôn mẫu sẵn có, mỗi người cần dám khám phá bản thân, phát huy điểm mạnh, nuôi dưỡng đam mê và sáng tạo. Khi đó, lối đi riêng không chỉ giúp ta khẳng định giá trị cá nhân mà còn góp phần làm cho cuộc sống trở nên phong phú và ý nghĩa hơn.
Tóm lại, thông điệp trong câu thơ của Robert Frost khẳng định giá trị của sự chủ động và sáng tạo trong việc lựa chọn lối đi cho cuộc đời mình. Dám bước trên con đường riêng chính là dám sống là chính mình, dám ước mơ và dám chịu trách nhiệm để tạo nên một cuộc sống có ý nghĩa.
Quê hương và thời thơ ấu luôn là những kỉ niệm đẹp đẽ nhất đối với mỗi con người. Kí ức tuổi thơ chính là những kỉ niệm thời thơ ấu khi chúng ta còn bé, vô lo vô nghĩ, hồn nhiên vui chơi tinh nghịch. Ai cũng có những kỉ niệm riêng, mang lại cho chúng ta những bài học đầu đời, những dấu ấn khó phai, nó đi theo ta cả đoạn đường đời, dạy cho chúng ta nhiều bài học quý giá. Kí ức tuổi thơ của chúng ta gắn với mái nhà, với gia đình, với bạn bè, với đường làng ngõ xóm, nơi chúng ta sinh ra, góp phần nuôi nấng tâm hồn ta ngay từ thuở ban đầu. Kí ức là những gì đã qua không thể lấy lại được, nhất là tuổi thơ - cái tuổi hồn nhiên vô lo vô nghĩ nhất của mỗi người. Chúng ta hãy sống và trân trọng những kí ức đó dù vui hay buồn bằng tình cảm chân thành nhất. Chính những kí ức tuổi thơ khiến con người trưởng thành hơn, chín chắn hơn, mang đến cho ta những bài học quý giá không gì sánh được. Tuy nhiên trong cuộc sống cũng có những kí ức đau buồn của thời trẻ mà con người ta muốn quên đi, nó là vết thương lớn theo ta đến suốt đời. Lại có những người thu mình trong một góc từ nhỏ, ít giao lưu, những người này sẽ có ít kí ức để nhớ về. Chúng ta khi còn trẻ hãy cố gắng học tập, rèn luyện bản thân cũng như giữ những kí ức tốt đẹp nhất cho mình. Lớn hơn một chút, chúng ta hãy trân trọng những kỉ niệm đó cũng như cố gắng học tập để xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp hơn để con cháu đời sau khắc ghi. Đời người ngắn lắm, quỹ thời gian tưởng chừng như vô hạn nhưng thật ra lại rất hữu hạn, hãy trân trọng những kí ức tươi đẹp mà bạn đã có, quên đi những kí ức buồn đau, sống và hướng đến những điều tốt đẹp nhất để có một cuộc đời trọn vẹn, an yên.
Em tham khảo nhé:
Câu 1:
Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nếu không xuất phát từ tình yêu quê hương tha thiết thì không thể vẽ lên một bức tranh thu đẹp, rất đặc trưng và có hồn như thế.
Cảnh thu rất đẹp nhưng buồn phảng phất. Đó chính là nét buồn lan ra từ tâm trạng của nhân vật trữ tình. Không gian tĩnh lặng trong bài thơ góp phần thể hiện sự vắng lặng trong cõi lòng nhà thơ. Đó cũng chính là cái tính rất gợi cảm, tác động tới tâm hồn nhà thơ: một tâm trạng cô quạnh, đau xót trước tình hình đất nước bị xâm lược. Bài thơ không chỉ đơn thuần là tả việc câu cá. Câu cá chỉ là cái cớ để nhà thơ mở rộng cõi lòng mình đón nhận cảnh thu, tình thu. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được một tấm lòng thiết tha gắn bó với thiên nhiên, đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín mà vẫn không kém phần sâu sắc
Câu 2:
Bài thơ thất ngôn bát cú với cách gieo vần độc đáo vần "eo" đi vào thơ của Nguyễn Khuyến rất tự nhiên, thoải mái chứ không hề bị gò bó, ép buộc hay khiên cưỡng để lại ấn tượng khó quên cho người đọc
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc trưng của văn học trung đại: chỉ bằng vài nét vẽ tinh tế, mùa thu của thiên nhiên đất trời vùng Bắc Bộ đã hiện lên thật đẹp. Đó cũng là cách để Nguyễn Khuyến thể hiện tình yêu của mình với quê hương, đất nước.
1/
a. Ý nghĩa câu mở đầu
- Hình thức: câu hỏi tu từ mang nhiều ý nghĩa.
- Chủ thể trữ tình tự phân thân
+ Chữ “anh” nếu hiểu ở ngôi thứ 2 lời của người phương xa (cô gái/ người thôn Vĩ) vừa hỏi, vừa trách cứ, vừa mời mọc đầy duyên dáng nhân vật trữ tình về với thôn Vĩ.
+ Chữ “anh” nếu hiểu ở ngôi thứ 1: nhà thơ tự trách mình đồng thời bộc lộ khao khát được trở về với cảnh cũ, người xưa.
Dù hiểu theo cách nào thì lời chào mời nửa phiền trách ấy cũng là cánh cửa, mở đường cho dòng hồi tưởng của tác giả về với xứ Huế mộng mơ.
b. Điệp từ “Nắng”:
- Như một tiếng ngân khiến không gian tràn đầy ánh sáng. Nắng ở đây là nắng mới, thứ nắng ban mai, tinh khiết đầu tiên trong ngày trên những thân cau còn ướt đẫm sương đêm.
- Điệp từ nắng cùng cụm hình ảnh tiểu đối: nắng hàng cau - nắng mới lên khiến ta cảm giác ánh sáng như đang đầy dần trong khu vườn thôn Vĩ không gian động
c. Cảm nhận tình cảm của nhà thơ với đất và người thôn Vĩ
- 4 câu thơ đã đặc tả vẻ đẹp của phong cảnh và con người xứ Huế sinh động tràn đầy sức sống, cảnh thì đẹp dáng, đẹp màu, người thì đẹp lòng, đẹp nết.
- Lời thơ tha thiết chứa đựng cả 1 tình yêu, 1 niềm khao khát. Có lẽ nhà thơ hiểu rất rõ hoàn cảnh thực tại đầy đau đớn của mình, hiểu rằng cảnh và người thôn Vĩ mãi mãi chỉ là trong mộng mà thôi.
- Tuy nhiên, buồn mà không tuyệt vọng, đau khổ mà vẫn ước mơ, hồn thơ dạt dào sức sống ấy chỉ hồi tưởng 1 cuộc gặp gỡ trong tâm linh mà niềm vui như thấm vào đường nét của cảnh vật, nghe như có tiếng thì thầm reo vui của cuộc hội ngộ đích thực trong hiện tại.
2/ Làm văn:
Đề 1:
Hàn Mặc Tử một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới 1932-1945 với những tác phẩm tiêu biểu. Các nhà thơ đã hòa mình vào thiên nhiên, gắm nhìn cảnh đẹp quê hương đất nước dù ông đang phải trải qua những đau đớn cảu bệnh tật với mong muốn được gắn bó lâu hơn với cuộc sống này. Đó là một tinh thần đáng ngợi ca và tâm trạng ấy đã được khắc họa rõ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ”. Khổ 1 là bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp cùng tâm trạng tiếc nuối của tác giả.
Khổ thơ bắt đầu bằng một câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” câu hỏi vang lên như một lời trách thầm, nhắn nhủ của nhân vật trữ tình trong tâm trạng vời vợi nhớ mong. Câu hỏi đó là của ai mà lại vừa hỏi vừa trách móc vừa nhớ mong nhất định không phải của Hoàng Cúc, không phải của cô gái nào ở thôn Vĩ. Vậy có thể là của ai? Có thể là của Hàn Mặc Tử tác giả đang phân thân để chất vấn chính mình. Câu hỏi đó như xác nhận một sự thật đã lâu rồi tác giả không được về thôn Vĩ hay không biết đến bao giờ có thể trở lại thôn Vĩ một lần nữa. Đó là cái cớ rất giàu chất thơ vừa nhẹ bẫng xót xa để gọi về những kỉ niệm thôn Vĩ. Câu thơ bảy chữ nhưng có tới sáu thanh bằng, thanh trắc duy nhất vút lên cuối câu như một nốt nhấn khiến cho lời thơ nhẹ nhàng mà thấm thía những nỗi niềm tiếc nuối vọng lên da diết khôn nguôi. Từ niêm nhớ thương được khơi nguồn như thế, hình ảnh thôn Vĩ chợt sống dậy trong lòng nhà thơ:
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”
Chỉ ba câu thơ Hàn Mặc Tử đã khắc họa được những nét đực trưng của thiên nhiên xứ Huế. Mỗi câu thơ là một nét vẽ, mỗi chi tiết sống động tạo thành sự khắc họa sống động đẹp đẽ của thôn Vĩ trong hoài niệm.Trước tiên là vẻ đẹp trong trẻo tinh khôi của buổi sớm mai: nắng hàng cau nắng mới lên không phải là cái nắng chang chang dọc bờ sông trắng mà là cái nắng trong trẻo tin khôi của một ngày. Chỉ miêu tả nắng thôi mà đã gợi lên trong lòng người đọc bao nhiêu liên tưởng đẹp. Những cây cau mảnh dẻ vút cao vươn mình đón lấy tia nắng ban mai trong lành ấm áp. Khung cảnh quen thuộc ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ góc sân khoảng trời nào từ miền quê đất Việt thân yêu. Phép luyến láy: nắng hàng cau nắng mới lên làm cho cái nắng như lan tỏa hơn bừng sáng hơn. Điệp từ “nắng” đã vẽ ra một bức tranh ánh nắng trong không gian nắng lan đến đâu vạn vật bừng sáng đến đó từ trên cao tràn xuống thấp và tràn đầy cả khu vườn, thôn Vĩ như được khoác lên một chiếc áo mới thanh tân, tươi tắn.
Đến câu thơ thứ ba là cảnh vườn tược được tắm đẫm trong nắng mai ngời sáng lên như một viên ngọc xang diệu kì: “ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.” Câu thơ như một tiếng reo đầy ngỡ ngàng thích thú, không phải xanh non xanh biếc mà là xanh như ngọc. Còn gì trong sáng và cao quý hơn ngọc. Cảnh giản dị mà thanh khiết cao sang vô cùng. Phải chăng sương đêm đã gột rửa hết những bụi bặm để khoác lên cây lá tấm áo choàng trong suốt lấp lánh khi nắng lên. Chữ “mướt” tác động mạnh mẽ vào giác quan người đọc ấn tượng vẻ mượt mà loáng mướt của khu vườn. Nhưng cái thần của câu thơ lại dồn cả vào chữ “ai” chỉ một chữ mà khiến cho cảnh đang gần gũi bỗng bọ đẩy ra xa, hư thực khó nắm bắt. Âm hưởng nhẹ bẫng của tiếng này khiến hơi thơ như thoáng xuôi về một cõi hư ảo mơ hồ.Với Hàn Mặc Tử lúc này, đó là thế giới ở ngoài kia, của sự sống ngoài kia chứ không phải thế giới của bệnh tật. Và rất tự nhiên theo mạch cảm xúc, nhắc đến “ai” lập tức nhà thơ nhớ đến hình bóng con người:
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Câu thơ kết đoạn là nét cách điệu hóa rất tài tình của Hàn Mặc Tử nhằm ghi lấy hồn Vĩ Dạ. Có lẽ hình ảnh cành trúc đã trở nên quen thuộc khi nhắc đến con người nơi đây, mảnh đất cố đô văn hiến. Con người như hòa vào, như ẩn vào thiên nhiên một vẻ đẹp kín đáo tao nhã. Đó là vẻ đẹp riêng trong mảnh đất cố đô nhưng ngay trong dòng cảm xúc miên man ấy ta đã thấy nỗi buồn man mác xa nỗi thấm vào lòng người. Nhưng cũng có một điều đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử là vừa có ảnh hưởng thơ ca dân gian vừa có sản phẩm của lối thơ sáng tạo hay vẽ khuôn mặt sau hàng liễu được viết lên bởi mặc cảm chia lìa của con người luôn tự nhận mình đứng ngoài cuộc vui.
Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh cảnh và người xứ Huế vừa trần thế vừa trong sáng, tinh khôi trong tâm trí Hàn Mặc Tử. Qua đó có thể thấy ở Hàn Mặc Tử một tình yêu quê, yêu người tha thiết, và cũng vời vợi nỗi nhớ mong của thi sĩ hướng về cảnh và người thôn Vĩ.
Đọc bài thơ mà khơi gợi trong lòng người tình yêu quê hương, yêu thiên nhiên sâu sắc, yêu con người cảnh vật nơi đây. Từ đó mà dạy chúng ta cách giữ gìn và bảo vệ những thứ xung quanh mình.
Đề 2:
Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt đặc sắc của phong trào Thơ mới. Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu cảnh vật, yêu con người nồng nàn, tha thiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là bài mang một tình yêu, khát khao cuộc sống như vậy. Khổ thơ thứ 2 của bài thơ mang đến một hoài niệm và tâm trạng lo âu của thi sĩ.
Mở đầu bài thơ, người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn người thi sĩ. Ta thấy thi sĩ tuy phải sống cuộc đời đầy bi kịch nhưng vẫn khát khao được sống và yêu đời tha thiết.
Khổ thơ thứ hai được mở ra, khiến người đọc cảm nhận được hoài niệm về cảnh sông nước đêm trăng, hòa theo đó là tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ. Cảnh sông nước đêm trăng được gợi ra:
“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
Dòng sông có nhiều cách hiểu, nhưng dù hiểu theo cách nào thì vẫn gợi ý thức về sông Hương-linh hồn của Huế. Cảnh vật được miêu tả rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi đặc điểm riêng của Huế: gió khẽ lay, mây khẽ bay, hoa bắp khẽ đung đưa, chuyển động rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi không gian rất thanh bình, rất Huế. Cảnh vật đượm buồn: buồn thiu, buồn sâu lắng, buồn nhuốm vào không gian, cảnh vật, thường là nỗi buồn từ thế giới bên ngoài tác động. Câu thơ như dài ra, căng ra, khiến nỗi buồn như dằng dặc. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật “nhân hóa”, dòng sông đã trở thành một sinh thể, có tâm trạng, có hồn, mang nỗi niềm của con người. Cảnh vật như nhuốm màu chia ly “Gió theo lối gió mây đường mây”. Câu thơ tách nhịp 4/3 chia làm hai nửa: một gió một mây. Từ “gió” được điệp lại ở vế một, đóng khung một thế giới đầy gió, chỉ có gió, chỉ riêng gió. Từ “mây” điệp ở vế hai, tạo nên một thế giới mây khép kín chỉ có mây. Vậy là hai sự vật vốn dĩ chỉ đi liền với nhau thì nay tác biệt và chia lìa. Gió đóng khung trong gió, mây khép kín trong mây. Câu thơ mang đến một hiện thực phi lý về hiện thực khách quan, nhưng rất có lý về hiện thực tâm trạng. Thi sĩ đang sống trong cảnh chia ly, cách biệt, sống trong cảnh đời đầy nghịch lý cho nên gió cứ gió, mây cứ mây. Từ “lay” mang một nỗi buồn trong ca dao, chỉ hoạt động rất nhẹ của sự vật hiện tượng khi có gió nhẹ. Nó mang nỗi buồn truyền thống của ca dao, thổi vào nỗi buồn muôn thủa của con người.
Hai câu thơ sau, ta nhận ra được tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”
Cảnh vật được gợi ra một cách lung linh, huyền ảo, tràn ngập ánh trăng, mang ý nghĩa vừa thực vừa ảo. “Sông trăng” có thể hiểu là dòng sông tràn ngập ánh trăng, cũng có thể là trăng tuôn chảy thành dòng. “Thuyền trăng” là con thuyền chở đầy trăng, cũng có thể hiểu là trăng giống như hình ảnh một con thuyền. Dù hiểu theo cách nào thì trăng đã tràn ngập cả không gian, vừa thực vừa ảo, tạo nên một cảm giác mơ hồ. Trong thơ của Hàn Mặc Tử có cả một miền trăng, để có một thế giới tri âm, chất chứa tâm sự, giải tỏa những niềm đau, trăng đối với Hàn Mặc Tử là một người bạn tri âm. “Thuyền ai” lại gợi ra một danh từ phiếm chỉ. Hai câu thơ chứa đựng cả những hình ảnh mâu thuẫn. Câu dưới không có trăng, ý thơ phi lý về hiện thực nhưng chúng ta có thể lí giải được khi dựa vào tâm trạng của chủ thể trữ tình. Trăng lúc có lúc không, mong manh và mờ ảo, người tri kỉ cũng mờ ảo và mong manh nên lo âu, phấp phỏng là thế. Chờ trăng là chờ sự tri âm, chờ sự đồng điệu, chờ sự sẻ chia và chờ được khát khao, giao cảm với đời, là một con người bình thường mong muốn sự giao cảm. Từ “kịp” thể hiện một tâm trang lo âu của nhà thơ, tâm trạng đợi chờ, khao khát. Qua đó thể hiện được quỹ thời gian sống đang bị vơi cạn đi từng ngày, cuộc chia lìa vĩnh viễn có thể đến...
Tham khảo:
Dân gian ta có câu: Quý như vàng, ý nói vàng là thứ quý giá. Chẳng vậy mà bao đời nay nhiều kẻ cứ chạy miết theo đồng tiền, thoi vàng: lao vào buôn bán thậm chí bất chấp pháp luật, hăm hở tìm vàng nhiều khi bỏ mặc mạng sống,... Có vàng quả quý thực vì có được nó con người sẽ trở nên giàu có sung sướng: có tiền mua tiên cũng được kia mà! Vàng đã quý nhưng có thứ còn quý giá hơn, đó là chữ nghĩa, tri thức.
Cha ông ta từng đúc kết: một kho vàng không bằng một nang chữ. Tại sao vậy? Có chữ nghĩa con người có khả năng làm việc tốt hơn mọi người, nhờ vậy sẽ thành đạt hơn, họ cũng sẽ có được vàng để sung túc, đủ đầy. Nhưng mặt khác, một kho vàng là có hạn, hết một kho vàng chỉ còn kho rỗng. Nhưng có chữ nghĩa thì vĩnh viễn không bao giờ lo đói khổ vì chữ còn, tiền đồ còn, cơm áo còn. Những vị Trạng nguyên, Thám hoa,... nhờ chữ nghĩa mà đời đời vinh hiển; bọn phú ông giàu có ngu dốt hay bị chơi khăm, chơi xỏ chẳng mấy chốc mà khuynh gia bại sản. Không chỉ vậy, nang chữ còn mang đến cho con người thứ mà kho vàng không bao giờ làm được, đó là sự yêu mến, kính nể của xã hội. Mọi người yêu quý, tôn trọng người có học, người hay chữ; ít ai thật lòng thật bụng yêu mến, trân trọng kẻ chỉ có tiền (có chăng chỉ là thái độ bợ đỡ, xu nịnh mà thôi). “Một kho vàng không bằng một nang chữ”, tư tưởng ấy đã góp phần xây đắp nên những tâm hồn Việt Nam trọng chữ nghĩa, hiếu học tôn sư trọng đạo mà khinh bạc vàng, căm ghét bọn tham quan, cường hào, ác bá.