Một cách giải mã mới nhất từ trước đến nay về một huyền thoại cổ nhất của dân tộc Việt Nam ta.
Tác giả trông mong các ý kiến phản hồi.
Chàng về thiếp một theo mây
Con thơ để lại đất này ai nuôi
Câu ca dao thời cổ sơ mãi còn đó. Có thể lớp vỏ ngữ âm của thuở xa xưa ấy theo năm tháng, trải qua vài mươi thế kỉ, đã dần dà được đổi mới, nên còn khá gần gũi với tiếng Việt hiện đại. Nhưng về nội dung ngữ nghĩa, chắc chắn vẫn y như lúc khởi nguyên.
Trong những lúc chuyện trò ngày thường, đôi khi tình cờ gặp hai chữ Âu Cơtrên đường phố hoặc ở giây phút mặc niệm trong Quốc lễ Giỗ Tổ, tức khắc, câu ca dao ấy hiện về trong kí ức chúng ta, trước cả huyền thoại lịch sử Họ Hồng Bàng. Cảm nhận này đến với tôi từ tấm bé, nhưng phải đến một độ tuổi nào đó, mới trở thành một suy nghiệm, để từ suy nghiệm, có thể nói lên một điều nghiêm trọng: huyền tượng Mẹ Âu Cơ chất chứa cả một trời bi kịch. Bi kịch? Tôi thật sự cảm thấy mình run lên vì hiểu mình hình như đã xúc phạm đến Người Mẹ của cả dân tộc.
Có thật là huyền tượng Mẹ Âu Cơ chất chứa cả một trời bi kịch? Chứng minh cho điều đó, chỉ cần nhớ lại câu ca dao thân thiết nghìn đời kia.
Và từ cảm nhận ca dao về nỗi niềm của Mẹ Âu Cơ phải chia tay theo dạng li thân với người chồng Lạc Long quân – Người Cha của cả dân tộc –, chúng ta không thể không liên tưởng đến các bi kịch khác trong đời Mẹ.
Một đời người phụ nữ, thật buồn khi phải trải qua hai đời chồng! Mẹ Âu Cơ của chúng ta đã lâm vào bi kịch ấy. Và chắc Mẹ phải cam chịu nỗi buồn chín nẫu ruột gan khi cả hai đời chồng, Đế Lai và Lạc Long quân, đều chủ động chia tay với Mẹ!
Đế Lai bỏ Mẹ lại ở hành tại, để cùng quân binh rong ruổi những dặm đường viễn chinh, với mưu toan xâm chiếm đất nước của người em họ, Lạc Long quân, đến nỗi “quên cả ngày về”, bất chấp “nhân dân nước Nam khổ vì sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa”(1). Mặc dù đây không phải là cuộc chia tay, dứt nghĩa vợ chồng, để hai người trở thành hai người xa lạ. Đây chỉ là một cuộc chia tay, nghiêm ngặt mà nói, chỉ vì mộng xâm lăng của Đế Lai, và do Đế Lai chủ động. Thư tịch cổ vẫn gọi Mẹ là “ái thê”(2), người vợ yêu dấu của Đế Lai. Như thế, kẻ xâm lăng Đế Lai vẫn yêu vợ, nhưng ông ta yêu bước đường xâm lăng của mình hơn. Và chúng ta không hiểu vì sao Mẹ Âu Cơ của chúng ta không chung thuỷ chờ chồng! Mẹ nghĩ mình bị Đế Lai bạc tình, bỏ rơi chăng? Mẹ lạt lòng chăng? Mẹ bị rơi vào thế bị cướp cả tấm thân mình như một chiến lợi phẩm để phải làm vợ Lạc Long quân chăng? Đó là một thói tục không có gì lạ ở thời hồng hoang cổ sơ, thậm chí còn diễn ra ngay ở thời trung cổ. Nhưng dẫu bị rơi vào tình huống ấy, sao Mẹ không thủ tiết, chạy trốn, thậm chí phải tự chấp nhận cái chết để giữ tròn lòng chung thuỷ? Mẹ là nạn nhân của Đế Lai hay nạn nhân của chính Mẹ và cũng là nạn nhân của Lạc Long quân - Người Cha của chúng ta?
Hình như chúng ta vừa kính trọng Mẹ nhưng xen vào đó còn có một nỗi oán trách Mẹ. Sao Mẹ Âu Cơ của dân tộc Bách Việt chúng ta không toàn bích? Sao Mẹ không là một khối ngọc không tì vết cho chúng con nghìn thế hệ noi theo? Chúng ta cũng không thể không oán trách cả Lạc Long quân – Người Cha khởi nguyên của dân tộc chúng ta! Thật ra, ai cũng biết thời hồng hoang cổ sơ vốn thế, và như thế là đã đúng “luân thường về phụ tử, phu phụ”(3) của thuở ấy, cách hôm nay đã trên bốn nghìn tám trăm năm (>2879 tr.cn. – 2008 s.cn.). Thử đối chiếu với các huyền thoại khởi nguyên của các dân tộc khác, như Hy Lạp, La Mã, Do Thái (cụ thể là Kinh Thánh), Ấn Độ... từ Âu xa xôi đến Á gần gũi, chúng ta sẽ bớt băn khoăn (3). Mỗi thời, mỗi dân tộc, mỗi đất nước có những luật tục, những luật pháp và tiêu chí văn hoá, đạo đức, văn minh khác nhau. Chỉ với cái nhìn lịch sử - cụ thể, nhận thức lịch sử theo từng thời điểm cụ thể, tình tiết cụ thể với tiêu chí bình phẩm cụ thể, mới hiểu được sự thể này của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long quân.
Tuy vậy, nhìn vào một khía cạnh khác, ngay trong nguyên vẹn hình tượng huyền thoại, tôi thấy Mẹ Âu Cơ của chúng ta hình như cũng có phần chủ động trong cuộc chia tay với Đế Lai, người chồng cũ, khi đồng ý chung sống vợ chồng với Lạc Long quân, người chồng mới. Đó là sự chia tay với một kẻ xâm lược để trao trọn trái tim mình cho người chống xâm lược. Mẹ Âu Cơ của chúng ta đã chọn chính nghĩa, cho dù đất nước phương Nam sông Dương Tử nhỏ hẹp hơn; Mẹ không chấp nhận chung sống với phi nghĩa, cho dù đất nước phương Bắc sông Dương Tử rộng lớn. Người Cha của dân tộc Việt chúng ta, Lạc Long quân, là biểu tượng của chính nghĩa ấy. Đây là nét chói sáng tuyệt vời trong bi kịch của Mẹ Âu Cơ. Và chắc hẳn Mẹ Âu Cơ vẫn quyến luyến Động Đình hồ phương Nam, quê quán Mẹ (4), cũng là vùng đất thuộc người chính nghĩa Lạc Long quân.
Thế rồi, Mẹ Âu Cơ lại rơi vào một bi kịch khác. Lần này, chính Người Cha Lạc Long quân chủ động chia tay Mẹ, vì tuy cùng là người Việt Phương Nam, nhưng mẹ vốn là tộc người (nhân tộc) khác. Cha Mẹ khởi nguyên của chúng ta, thuở ấy, tuy cùng là dân tộc Việt nhưng vẫn khác về nhân tộc, Âu Việt khác với Lạc Việt, khác nòi tộc nhưng chung một dòng giống Việt. Đây chính là bi kịch về sự khác biệt văn hoá tộc người trong đời sống vợ chồng.
Người Cha khởi nguyên của chúng ta nói cùng Mẹ, trong buổi chia tay đau đớn ấy:
“Ta là nòi Rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống Tiên sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia li. Ta đem năm mươi con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống biển, hữu sự báo nhau cho biết, đừng quên nhau” (5).
Không có nỗi buồn đau nào lớn hơn đối với một người phụ nữ!
Chàng về thiếp một theo mây
Con thơ để lại đất này ai nuôi...
Mẹ Âu Cơ không còn yêu Đế Lai, vì Đế Lai đã là vua lãnh thổ Phương Bắc, đã trở thành người Phương Bắc qua vài ba đời. Đó cũng là bi kịch về khác biệt lãnh thổ và dân tộc (6).
Bi kịch của Mẹ Âu Cơ của chúng ta là thế đó. Bi kịch ấy khai ngộ cho nghìn đời con cháu một nét chói sáng tuyệt vời về ý thức chán ghét kẻ xâm lược, cho dù đó là chồng mình (Đế Lai), và về lòng yêu chính nghĩa chống xâm lược, yêu người cùng nguồn cội dân tộc Việt Phương Nam (Lạc Long quân). Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ bi kịch về sự khác biệt tộc người trong cộng đồng các nhân tộc Việt Nam mà Mẹ Âu Cơ chịu đựng là cuối cùng của loại bi kịch ấy trên đất nước Văn Lang – Việt Nam chúng ta.
Nhưng dẫu sao, Mẹ Âu Cơ của dân tộc chúng ta, thuở cổ sơ cách đây hơn bốn ngàn tám trăm năm, cũng là một người phụ nữ chịu đựng đến hai bi kịch chia xa hai người chồng trong một đời người. Nếu chúng ta kính quý Mẹ ở nét chói sáng ý thức về chính – tà, kính cảm thông Mẹ ở nỗi phũ phàng của thực trạng trong nhận thức về sự khác biệt văn hoá tộc người giữa Âu Việt và Lạc Việt kia, cũng không thể nguôi quên niềm bi kịch đau thương này của Mẹ.
Và nhiệm mầu của đời Mẹ nữa! Liệu chúng ta đã cảm nhận hết chiều sâu của sự nhiệm mầu ấy?
Mẹ Âu Cơ là một người phụ nữ đã hai lần lâm vào cảnh bi kịch đời thường, như chúng ta đã biết. Nhưng Mẹ đã tạo nên một sự thật lịch sử hay chính xác hơn là sự thật về một khát vọng nghìn đời, có thật trong mỗi chúng ta: Khát vọng đại đoàn kết dân tộc. Khát vọng lớn lao này vốn nghìn đời qua đã thể hiện trong thành...
Thiên nhiên tươi đẹp đã ban tặng cho chúng ta bao nhiêu vẻ đẹp kì thú, say mê lòng người. Nhưng có lẽ ánh trăng là món quà tuyệt diệu nhất, quý hoá nhất do tạo hoá ban tặng
Khi màn đêm buông xuống, bóng tối mờ nhạt dần dần bao trùm khắp làng xóm. Những ngôi sao hiện lên mờ ảo rồi sau đó rõ dần. Chẳng bao lâu mặt trăng đã bắt đầu ló rạng to, tròn như chiếc mâm bạc đường bệ đặt trên bầu trới trong vắt, thăm thẳm cao. Ánh trắng bàng bạc nhuộm khắp cây cối, ao hồ. Mặt sông mỉm cười vì thấy mình đẹp hơn khi mặc bộ đồ tím có vầng trăng sáng và có hàng ngàn ngôi sao lấp lánh như được dát bạc.
Cỏ cây hoa lá lặng im, yên lặng như thấy hết được vẻ đẹp của đêm trăng hôm nay. Luỹ tre được ánh trăng soi vào thì đẹp hơn lên và như cảm nhận một thứ mà ánh trăng ban tặng cho mình, rặng tre lại ca lên khúc nhạc đồng quê du dương và êm đềm biết mấy! Thảm lúa vàng dập dờn trước gió nhấp nhô gợn sóng như từng lướt sóng nối đuôi nhau đến tận chân trời. Sao mà cảnh đêm trăng lại im ắng tĩnh mịch đến vậy! Mọi người đang say sưa ngắm trăng.
Lũ côn trùng cất tiếng kêu ra rả như viết lên khúc nhạc về đêm. Cây lá như được rắc lên nhưng hạt vàng từ trên trời rơi xuống vậy. Hương lúa tạo với hơi sương tạo nên hương thơm nhẹ dịu khó tả. Lác đác vài anh chị thanh niên đi dạo và ngắm trăng, họ cười nói râm ran và còn có các ông bà lão đi tập thể dục cho khoẻ người cũng tâm sự nho nhỏ thì thầm. Lũ trẻ con nô đùa đầu làng vui vẻ, ầm ĩ cả xóm, đang chơi oẳn tù tì, nhảy dây, trốn tìm… Mọi người tấp nập ngược xuôi như một ngày hội dưới trăng vậy. Nhưng hội cũng đến lúc tàn. Già trẻ, gái trai ai về nhà ấy chuẩn bị nghỉ ngơi sau một ngày làm việc mệt nhọc.
Một đêm trăng tuyệt đẹp! Cảm ơn tạo hoá đã khéo tạo ra và ban tặng cho con người.
Về việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh nở có nhiều điều kì lạ. Một vị thần sống dưới nước đem lòng yêu thương và kết duyên cùng một người thuộc dòng họ Thần Nông ở trên núi cao. Ít lâu sau, Âu Cơ sinh nở không phải có mang và sinh ra một bọc trứng, sau đó mới nở ra 100 con. Lạc Long Quân và Âu Cơ chia đôi mỗi người 50 con theo mẹ lên chốn non cao, 50 người con theo cha về ven biển để chiếm lĩnh các vùng đất, mở rộng nơi cư trú, làm ăn, để cho gia đình tương lai thành dân tộc, đất nước. Đặc biệt có việc gì (chiến tranh, thiên tai…) thì giúp đỡ lẫn nhau dễ hơn.
Theo truyện ngày thì người Việt Nam ta là con cháu của vị thần nòi Rồng là Lạc Long Quân và của bà Âu cơ nòi giống Tiên. Nguồn gốc này rất cao quý và đáng tự hào.
Việc kết duyên của Lạc Long Quân và Âu Cơ là hoàn toàn tự nguyện do yêu thương nhau mà có, Âu Cơ sinh nở không phải như phụ nữ mỗi lần 1 con (nhiều lắm cũng 6, 7 người) mà là một bọc trứng. Sau đó mới nở ra 100 con.
Lạc Long Quân và Âu Cơ chia đôi mỗi người 50 con theo mẹ lên chốn non cao, 50 người con theo cha về ven biển để chiếm lĩnh các vùng đất, mở rộng nơi cư trú, làm ăn, để cho gia đình tương lai thành dân tộc, đất nước. Đặc biệt có việc gì (chiến tranh, thiên tai…) thì giúp đỡ lẫn nhau dễ hơn.
Theo truyện ngày thì người Việt Nam ta là con cháu của vị thần nòi Rồng là Lạc Long Quân và của bà Âu cơ nòi giống Tiên. Nguồn gốc này rất cao quý và đáng tự hào.
Sau khi kết duyên, Âu Cơ có mang rồi sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra 100 người con hồng hào, đẹp đẽ. Rồi một hôm, Lạc Long QUÂN cảm thấy mình ko thể sống mãi trên cạn bèn từ biệt Âu Cơ. Lạc LOng Quân đưa 50 con xuống biển, Âu Cơ đưa 50 con lên núi.( Để ây dựng cơ nghiệp)
Theo câu truyện trên thì người Việt là con cháu Vua Hùng Vương
Tất cảToánVật lýHóa họcSinh họcNgữ vănTiếng anhLịch sửĐịa lýTin họcCông nghệGiáo dục công dânÂm nhạcMỹ thuậtTiếng anh thí điểmLịch sử và Địa lýThể dụcKhoa họcTự nhiên và xã hộiĐạo đứcThủ côngQuốc phòng an ninhTiếng việtKhoa học tự nhiên
là ở xứ vùng cao nhé bạn
Phương Bắc
bn lên mạng tra đi
Ở Việt Nam.
Còn rõ ràng k biết !!!............... ???
Đồng lòng tk ủng hộ >>>>>>>>>>>>>>..............!!!
trái đất chứ ko lẽ ở sao hỏa
Một cách giải mã mới nhất từ trước đến nay về một huyền thoại cổ nhất của dân tộc Việt Nam ta.
Tác giả trông mong các ý kiến phản hồi.
Chàng về thiếp một theo mây
Con thơ để lại đất này ai nuôi
Câu ca dao thời cổ sơ mãi còn đó. Có thể lớp vỏ ngữ âm của thuở xa xưa ấy theo năm tháng, trải qua vài mươi thế kỉ, đã dần dà được đổi mới, nên còn khá gần gũi với tiếng Việt hiện đại. Nhưng về nội dung ngữ nghĩa, chắc chắn vẫn y như lúc khởi nguyên.
Trong những lúc chuyện trò ngày thường, đôi khi tình cờ gặp hai chữ Âu Cơtrên đường phố hoặc ở giây phút mặc niệm trong Quốc lễ Giỗ Tổ, tức khắc, câu ca dao ấy hiện về trong kí ức chúng ta, trước cả huyền thoại lịch sử Họ Hồng Bàng. Cảm nhận này đến với tôi từ tấm bé, nhưng phải đến một độ tuổi nào đó, mới trở thành một suy nghiệm, để từ suy nghiệm, có thể nói lên một điều nghiêm trọng: huyền tượng Mẹ Âu Cơ chất chứa cả một trời bi kịch. Bi kịch? Tôi thật sự cảm thấy mình run lên vì hiểu mình hình như đã xúc phạm đến Người Mẹ của cả dân tộc.
Có thật là huyền tượng Mẹ Âu Cơ chất chứa cả một trời bi kịch? Chứng minh cho điều đó, chỉ cần nhớ lại câu ca dao thân thiết nghìn đời kia.
Và từ cảm nhận ca dao về nỗi niềm của Mẹ Âu Cơ phải chia tay theo dạng li thân với người chồng Lạc Long quân – Người Cha của cả dân tộc –, chúng ta không thể không liên tưởng đến các bi kịch khác trong đời Mẹ.
Một đời người phụ nữ, thật buồn khi phải trải qua hai đời chồng! Mẹ Âu Cơ của chúng ta đã lâm vào bi kịch ấy. Và chắc Mẹ phải cam chịu nỗi buồn chín nẫu ruột gan khi cả hai đời chồng, Đế Lai và Lạc Long quân, đều chủ động chia tay với Mẹ!
Đế Lai bỏ Mẹ lại ở hành tại, để cùng quân binh rong ruổi những dặm đường viễn chinh, với mưu toan xâm chiếm đất nước của người em họ, Lạc Long quân, đến nỗi “quên cả ngày về”, bất chấp “nhân dân nước Nam khổ vì sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa” (1). Mặc dù đây không phải là cuộc chia tay, dứt nghĩa vợ chồng, để hai người trở thành hai người xa lạ. Đây chỉ là một cuộc chia tay, nghiêm ngặt mà nói, chỉ vì mộng xâm lăng của Đế Lai, và do Đế Lai chủ động. Thư tịch cổ vẫn gọi Mẹ là “ái thê” (2), người vợ yêu dấu của Đế Lai. Như thế, kẻ xâm lăng Đế Lai vẫn yêu vợ, nhưng ông ta yêu bước đường xâm lăng của mình hơn. Và chúng ta không hiểu vì sao Mẹ Âu Cơ của chúng ta không chung thuỷ chờ chồng! Mẹ nghĩ mình bị Đế Lai bạc tình, bỏ rơi chăng? Mẹ lạt lòng chăng? Mẹ bị rơi vào thế bị cướp cả tấm thân mình như một chiến lợi phẩm để phải làm vợ Lạc Long quân chăng? Đó là một thói tục không có gì lạ ở thời hồng hoang cổ sơ, thậm chí còn diễn ra ngay ở thời trung cổ. Nhưng dẫu bị rơi vào tình huống ấy, sao Mẹ không thủ tiết, chạy trốn, thậm chí phải tự chấp nhận cái chết để giữ tròn lòng chung thuỷ? Mẹ là nạn nhân của Đế Lai hay nạn nhân của chính Mẹ và cũng là nạn nhân của Lạc Long quân - Người Cha của chúng ta?
Hình như chúng ta vừa kính trọng Mẹ nhưng xen vào đó còn có một nỗi oán trách Mẹ. Sao Mẹ Âu Cơ của dân tộc Bách Việt chúng ta không toàn bích? Sao Mẹ không là một khối ngọc không tì vết cho chúng con nghìn thế hệ noi theo? Chúng ta cũng không thể không oán trách cả Lạc Long quân – Người Cha khởi nguyên của dân tộc chúng ta! Thật ra, ai cũng biết thời hồng hoang cổ sơ vốn thế, và như thế là đã đúng “luân thường về phụ tử, phu phụ” (3) của thuở ấy, cách hôm nay đã trên bốn nghìn tám trăm năm (>2879 tr.cn. – 2008 s.cn.). Thử đối chiếu với các huyền thoại khởi nguyên của các dân tộc khác, như Hy Lạp, La Mã, Do Thái (cụ thể là Kinh Thánh), Ấn Độ... từ Âu xa xôi đến Á gần gũi, chúng ta sẽ bớt băn khoăn (3). Mỗi thời, mỗi dân tộc, mỗi đất nước có những luật tục, những luật pháp và tiêu chí văn hoá, đạo đức, văn minh khác nhau. Chỉ với cái nhìn lịch sử - cụ thể, nhận thức lịch sử theo từng thời điểm cụ thể, tình tiết cụ thể với tiêu chí bình phẩm cụ thể, mới hiểu được sự thể này của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long quân.
Tuy vậy, nhìn vào một khía cạnh khác, ngay trong nguyên vẹn hình tượng huyền thoại, tôi thấy Mẹ Âu Cơ của chúng ta hình như cũng có phần chủ động trong cuộc chia tay với Đế Lai, người chồng cũ, khi đồng ý chung sống vợ chồng với Lạc Long quân, người chồng mới. Đó là sự chia tay với một kẻ xâm lược để trao trọn trái tim mình cho người chống xâm lược. Mẹ Âu Cơ của chúng ta đã chọn chính nghĩa, cho dù đất nước phương Nam sông Dương Tử nhỏ hẹp hơn; Mẹ không chấp nhận chung sống với phi nghĩa, cho dù đất nước phương Bắc sông Dương Tử rộng lớn. Người Cha của dân tộc Việt chúng ta, Lạc Long quân, là biểu tượng của chính nghĩa ấy. Đây là nét chói sáng tuyệt vời trong bi kịch của Mẹ Âu Cơ. Và chắc hẳn Mẹ Âu Cơ vẫn quyến luyến Động Đình hồ phương Nam, quê quán Mẹ (4), cũng là vùng đất thuộc người chính nghĩa Lạc Long quân.
Thế rồi, Mẹ Âu Cơ lại rơi vào một bi kịch khác. Lần này, chính Người Cha Lạc Long quân chủ động chia tay Mẹ, vì tuy cùng là người Việt Phương Nam, nhưng mẹ vốn là tộc người (nhân tộc) khác. Cha Mẹ khởi nguyên của chúng ta, thuở ấy, tuy cùng là dân tộc Việt nhưng vẫn khác về nhân tộc, Âu Việt khác với Lạc Việt, khác nòi tộc nhưng chung một dòng giống Việt. Đây chính là bi kịch về sự khác biệt văn hoá tộc người trong đời sống vợ chồng.
Người Cha khởi nguyên của chúng ta nói cùng Mẹ, trong buổi chia tay đau đớn ấy:
“Ta là nòi Rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống Tiên sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia li. Ta đem năm mươi con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống biển, hữu sự báo nhau cho biết, đừng quên nhau” (5).
Không có nỗi buồn đau nào lớn hơn đối với một người phụ nữ!
Chàng về thiếp một theo mây
Con thơ để lại đất này ai nuôi...
Mẹ Âu Cơ không còn yêu Đế Lai, vì Đế Lai đã là vua lãnh thổ Phương Bắc, đã trở thành người Phương Bắc qua vài ba đời. Đó cũng là bi kịch về khác biệt lãnh thổ và dân tộc (6).
Bi kịch của Mẹ Âu Cơ của chúng ta là thế đó. Bi kịch ấy khai ngộ cho nghìn đời con cháu một nét chói sáng tuyệt vời về ý thức chán ghét kẻ xâm lược, cho dù đó là chồng mình (Đế Lai), và về lòng yêu chính nghĩa chống xâm lược, yêu người cùng nguồn cội dân tộc Việt Phương Nam (Lạc Long quân). Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ bi kịch về sự khác biệt tộc người trong cộng đồng các nhân tộc Việt Nam mà Mẹ Âu Cơ chịu đựng là cuối cùng của loại bi kịch ấy trên đất nước Văn Lang – Việt Nam chúng ta.
Nhưng dẫu sao, Mẹ Âu Cơ của dân tộc chúng ta, thuở cổ sơ cách đây hơn bốn ngàn tám trăm năm, cũng là một người phụ nữ chịu đựng đến hai bi kịch chia xa hai người chồng trong một đời người. Nếu chúng ta kính quý Mẹ ở nét chói sáng ý thức về chính – tà, kính cảm thông Mẹ ở nỗi phũ phàng của thực trạng trong nhận thức về sự khác biệt văn hoá tộc người giữa Âu Việt và Lạc Việt kia, cũng không thể nguôi quên niềm bi kịch đau thương này của Mẹ.
Và nhiệm mầu của đời Mẹ nữa! Liệu chúng ta đã cảm nhận hết chiều sâu của sự nhiệm mầu ấy?
Mẹ Âu Cơ là một người phụ nữ đã hai lần lâm vào cảnh bi kịch đời thường, như chúng ta đã biết. Nhưng Mẹ đã tạo nên một sự thật lịch sử hay chính xác hơn là sự thật về một khát vọng nghìn đời, có thật trong mỗi chúng ta: Khát vọng đại đoàn kết dân tộc. Khát vọng lớn lao này vốn nghìn đời qua đã thể hiện trong thành...
nó ở đâu đó trên trái đất này mà thôi
hok tốt
kt
Quê quán của Âu Cơ ở :vùng núi phương Bắc
^hk tốt^
# Sao_hỏa#
Phương Bắc nha bạn
quê ỏ văn lang âu lạc cách nay la 200000000000000 năm rồi
Phú Thọ
nhà thơ đinh nam khương quê quán ở đâu hả mọi người
quê quán Đục Khê, Mỹ Đức Thành Phố Hà Nội
giúp mình với nha.Cảm ơn nhìu
mn cho mik hỏi:
Âu Cơ đẻ 100 cái bọc trứng mang 50 người con lên núi 50 người con xuông biển .Hỏi thế Thủy Tinh với Sơn Tinh có phải anh em ko? :)))
ai liên quân ko nick mik là:
tuantubon
cho minh hỏi Âu Cơ là người Việt hay người Trung Quốc thế ???
Người Việt
la nguoi viet nha bn
Lịch sử 6:
Câu 1: Người Tối cổ sống như thế nào?
Câu 2: Nguồn thức ăn của người Tối cổ đc là từ đâu?
Câu 3: Kinh đô Văn Lang đc đặt ở đâu?
Câu 4: Các quốc gia cổ đại phương Đông bao gồm nước nào?
Câu 5: Người nguyên thủy trên đất nước ta đc phân bố như thế nào?
Câu 6:Nước Âu Lạc ra đời trên cơ sở nào? Kinh đô của nước Âu Lạc đc đóng ở đâu?
Câu 7:Em giải thích sơ đồ bộ máy nhà nước Văn Lang ?
Câu 8:Nêu những nét chính trong đời sống vật chất của cư dân Văn Lang?
cần câu trả lời gấp :P
bn ơi
mình bảo cái này là sử sao lại là ngữ văn
mình viết trên đầu đấy bạn :I
ai biết lạc long quân và âu cơ ở đâu ? ai phú thọ dơ tay nào
Mình Việt Trì-Phú Thọ
Đố ai trả lời cho 1 tỉ vn đồng:
Câu hỏi như sau:
Hẵy tả mội đêm trăng ở quê tôi.
Chú ý: tả quê của tôi chứ ko tả quê bạn đâng sống.Xem trang cá nhan của tôi là biết tôi ở đâu.
Chúc bạn may mắn.
Tiền thì tôi tự chuyển vào tài khoản của các bạn.Ahihi
Thiên nhiên tươi đẹp đã ban tặng cho chúng ta bao nhiêu vẻ đẹp kì thú, say mê lòng người. Nhưng có lẽ ánh trăng là món quà tuyệt diệu nhất, quý hoá nhất do tạo hoá ban tặng
Khi màn đêm buông xuống, bóng tối mờ nhạt dần dần bao trùm khắp làng xóm. Những ngôi sao hiện lên mờ ảo rồi sau đó rõ dần. Chẳng bao lâu mặt trăng đã bắt đầu ló rạng to, tròn như chiếc mâm bạc đường bệ đặt trên bầu trới trong vắt, thăm thẳm cao. Ánh trắng bàng bạc nhuộm khắp cây cối, ao hồ. Mặt sông mỉm cười vì thấy mình đẹp hơn khi mặc bộ đồ tím có vầng trăng sáng và có hàng ngàn ngôi sao lấp lánh như được dát bạc.
Cỏ cây hoa lá lặng im, yên lặng như thấy hết được vẻ đẹp của đêm trăng hôm nay. Luỹ tre được ánh trăng soi vào thì đẹp hơn lên và như cảm nhận một thứ mà ánh trăng ban tặng cho mình, rặng tre lại ca lên khúc nhạc đồng quê du dương và êm đềm biết mấy! Thảm lúa vàng dập dờn trước gió nhấp nhô gợn sóng như từng lướt sóng nối đuôi nhau đến tận chân trời. Sao mà cảnh đêm trăng lại im ắng tĩnh mịch đến vậy! Mọi người đang say sưa ngắm trăng.
Lũ côn trùng cất tiếng kêu ra rả như viết lên khúc nhạc về đêm. Cây lá như được rắc lên nhưng hạt vàng từ trên trời rơi xuống vậy. Hương lúa tạo với hơi sương tạo nên hương thơm nhẹ dịu khó tả. Lác đác vài anh chị thanh niên đi dạo và ngắm trăng, họ cười nói râm ran và còn có các ông bà lão đi tập thể dục cho khoẻ người cũng tâm sự nho nhỏ thì thầm. Lũ trẻ con nô đùa đầu làng vui vẻ, ầm ĩ cả xóm, đang chơi oẳn tù tì, nhảy dây, trốn tìm… Mọi người tấp nập ngược xuôi như một ngày hội dưới trăng vậy. Nhưng hội cũng đến lúc tàn. Già trẻ, gái trai ai về nhà ấy chuẩn bị nghỉ ngơi sau một ngày làm việc mệt nhọc.
Một đêm trăng tuyệt đẹp! Cảm ơn tạo hoá đã khéo tạo ra và ban tặng cho con người.
#Hk_tốt
#Ngọc's_Ken'z
Tả quê hương tao mà
Việc kết duyên của Lạc Long quân cùng Âu cơ và chuyện Âu cơ sinh nở có gì kì lạ? Lạc long quân và Âu cơ chia con như thế nào và để làm gì? Theo chuyện này thì người Việt là con cháu của ai?
Việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh nở có gì kì lạ ? Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con như thế nào và để làm gì ? Theo truyện này thì người Việt là con cháu của ai ?
Môn Ngữ Văn 6 _ SGK Tập 1 _ Trang 8
Việc kết duyên của Lạc Long Quân và Âu Cơ là hoàn toàn tự nguyện do yêu thương nhau mà có, Âu Cơ sinh nở không phải như phụ nữ mỗi lần 1 con (nhiều lắm cũng 6, 7 người) mà là một bọc trứng. Sau đó mới nở ra 100 con.
Lạc Long Quân và Âu Cơ chia đôi mỗi người 50 con theo mẹ lên chốn non cao, 50 người con theo cha về ven biển để chiếm lĩnh các vùng đất, mở rộng nơi cư trú, làm ăn, để cho gia đình tương lai thành dân tộc, đất nước. Đặc biệt có việc gì (chiến tranh, thiên tai…) thì giúp đỡ lẫn nhau dễ hơn.
Theo truyện ngày thì người Việt Nam ta là con cháu của vị thần nòi Rồng là Lạc Long Quân và của bà Âu cơ nòi giống Tiên. Nguồn gốc này rất cao quý và đáng tự hào.
Sau khi kết duyên, Âu Cơ có mang rồi sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra 100 người con hồng hào, đẹp đẽ. Rồi một hôm, Lạc Long QUÂN cảm thấy mình ko thể sống mãi trên cạn bèn từ biệt Âu Cơ. Lạc LOng Quân đưa 50 con xuống biển, Âu Cơ đưa 50 con lên núi.( Để ây dựng cơ nghiệp)
Theo câu truyện trên thì người Việt là con cháu Vua Hùng Vương
Việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh con có gì kì lạ? Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con như thế nào và để làm gì? Theo truyện này thì người Việt là con cháu của ai?
Việc kết duyên của Lạc Long Quân và Âu Cơ có điểm kì lạ:
- Đây là mối lương duyên giữa con trai thần Long Nữ dưới nước và con gái dòng họ Thần Nông trên cạn
- Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, từ trăm trứng nở ra một trăm người con trai, đàn con không cần bú mớm và tự lớn lên như thổi, khôi ngô, khỏe mạnh
- Lạc Long Quân và Âu cơ chia con thành hai ngả: năm mươi xuống biển cùng cha, năm mưới lên rừng cùng mẹ
- Người Việt là con cháu của vua Hùng, con Rồng cháu Tiên.
Bảng xếp hạng