K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất trong bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến là: “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo, Lọc trong không khí tiếng chim treo.”🌾 Hai câu thơ này đã vẽ nên một bức tranh mùa thu tĩnh lặng, nhẹ nhàng mà đầy chất thơ. Hình ảnh “lá vàng” bay “vèo” trước gió không chỉ gợi sự chuyển động nhẹ nhàng mà còn thể hiện sự mong manh, thoáng qua của thời gian. Từ...
Đọc tiếp

Hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất trong bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến là: “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo, Lọc trong không khí tiếng chim treo.”

🌾 Hai câu thơ này đã vẽ nên một bức tranh mùa thu tĩnh lặng, nhẹ nhàng mà đầy chất thơ. Hình ảnh “lá vàng” bay “vèo” trước gió không chỉ gợi sự chuyển động nhẹ nhàng mà còn thể hiện sự mong manh, thoáng qua của thời gian. Từ “vèo” là một từ tượng thanh độc đáo, gợi cảm giác nhanh, nhẹ, tạo nên nhịp điệu rất riêng cho câu thơ. Trong khi đó, “tiếng chim treo” lại là một cách diễn đạt đầy sáng tạo, khiến người đọc liên tưởng đến âm thanh như lơ lửng giữa không gian, không rõ từ đâu vọng lại. Cách dùng từ “lọc” cho thấy sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ, như thể ông đang chắt lọc từng âm thanh, từng chuyển động của thiên nhiên. Hai câu thơ không chỉ thể hiện tài năng quan sát tinh tế mà còn phản ánh tâm hồn thanh cao, yêu thiên nhiên của Nguyễn Khuyến. Qua đó, em cảm nhận được vẻ đẹp trong trẻo, yên bình của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ và sự giao hòa giữa con người với cảnh vật.

1
30 tháng 9 2025

chép mạng hả ?

Trong bài thơ Thu điếu, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là:“Tựa gối ôm cần, lâu chẳng được,Cá đâu đớp động dưới chân bè.”Hai câu thơ đã khắc họa hình ảnh một ông lão câu cá thong dong, nhàn nhã giữa khung cảnh thu vắng lặng. Cái dáng ngồi “tựa gối ôm cần” gợi lên sự ung dung, không màng bon chen của Nguyễn Khuyến. Tưởng như nhà thơ say mê với thú câu cá, nhưng thực chất...
Đọc tiếp

Trong bài thơ Thu điếu, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là:

“Tựa gối ôm cần, lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bè.”

Hai câu thơ đã khắc họa hình ảnh một ông lão câu cá thong dong, nhàn nhã giữa khung cảnh thu vắng lặng. Cái dáng ngồi “tựa gối ôm cần” gợi lên sự ung dung, không màng bon chen của Nguyễn Khuyến. Tưởng như nhà thơ say mê với thú câu cá, nhưng thực chất đó chỉ là cái cớ để ông hòa mình vào thiên nhiên, để lắng nghe tiếng động khẽ khàng của mùa thu. Hình ảnh “cá đâu đớp động dưới chân bè” làm nổi bật sự tĩnh lặng tuyệt đối của không gian, chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng đủ ngân vang. Hai câu thơ giản dị nhưng giàu sức gợi, thể hiện tâm hồn thanh cao, yêu thiên nhiên và cũng ẩn chứa nỗi trăn trở trước thời cuộc của nhà thơ. Đọc những vần thơ ấy, em cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp tao nhã và nhân cách thanh sạch của Nguyễn Khuyến

0
Trong bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là:"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng."Hai câu thơ gợi ra một khung cảnh mùa thu thanh vắng, nhẹ nhàng mà đầy sâu lắng. Hình ảnh “lá vàng” bay “khẽ” trước gió gợi cảm giác thời gian trôi chậm, không gian trở nên tĩnh lặng, như thể cả đất trời đang cùng lắng nghe một hơi...
Đọc tiếp

Trong bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến, hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất là:
"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng."
Hai câu thơ gợi ra một khung cảnh mùa thu thanh vắng, nhẹ nhàng mà đầy sâu lắng. Hình ảnh “lá vàng” bay “khẽ” trước gió gợi cảm giác thời gian trôi chậm, không gian trở nên tĩnh lặng, như thể cả đất trời đang cùng lắng nghe một hơi thở rất nhẹ của thiên nhiên. Từ lá rơi đến màu sắc “bờ xanh” và “bãi vàng”, tất cả như được hòa quyện trong một bức tranh thu nên thơ, trang nhã. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn gợi tình – đó là nỗi tĩnh lặng, cô đơn mà cũng đầy thanh thản của một tâm hồn yêu thiên nhiên, sống ẩn dật. Nguyễn Khuyến không miêu tả cảnh bằng âm thanh ồn ào, mà lại dùng sự lặng lẽ để khiến bức tranh trở nên sâu sắc hơn. Chính sự giản dị mà tinh tế trong cách dùng từ, chọn hình ảnh đã khiến hai câu thơ trở thành điểm nhấn đặc biệt, làm nổi bật vẻ đẹp thu của làng quê.

0
Hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất trong bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến là:"Cá đâu đớp động dưới chân bèo,Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."Hai câu thơ gợi lên không gian mùa thu vô cùng yên ả, tĩnh lặng và đậm chất làng quê Bắc Bộ. Hình ảnh "cá đâu đớp động" dưới làn nước tưởng như phẳng lặng làm hiện rõ sự tĩnh mịch đến mức chỉ một âm thanh nhỏ cũng trở nên nổi bật....
Đọc tiếp

Hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất trong bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến là:
"Cá đâu đớp động dưới chân bèo,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Hai câu thơ gợi lên không gian mùa thu vô cùng yên ả, tĩnh lặng và đậm chất làng quê Bắc Bộ. Hình ảnh "cá đâu đớp động" dưới làn nước tưởng như phẳng lặng làm hiện rõ sự tĩnh mịch đến mức chỉ một âm thanh nhỏ cũng trở nên nổi bật. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn gợi tả cái tâm lặng lẽ, ung dung của nhà thơ trước thiên nhiên. Còn câu "Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo" lại giàu tính tạo hình và âm thanh. Từ “vèo” là một từ láy tượng thanh gợi chuyển động nhẹ nhàng, nhanh nhưng không ồn ào, càng làm nổi bật cái yên tĩnh của không gian thu. Hai câu thơ thể hiện rõ nét bút tài hoa của Nguyễn Khuyến: tả cảnh mà ngụ tình, giản dị mà sâu sắc. Qua đó, em cảm nhận được một tâm hồn yêu thiên nhiên, sống chậm rãi và đầy chất thơ của nhà thơ xưa.

0
Hai câu thơ khiến em ấn tượng sâu sắc nhất trong bài "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến chính là cặp đối lập tuyệt vời: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo / Cá đâu đớp động dưới chân bèo". Câu thơ đầu tiên vẽ ra một không gian thu trong trẻo đến mức tĩnh lặng, với từ "lạnh lẽo" gợi cảm giác se sắt, còn "trong veo" lại nhấn mạnh sự thuần khiết, tuyệt đối của mặt nước. Cảnh vật...
Đọc tiếp

Hai câu thơ khiến em ấn tượng sâu sắc nhất trong bài "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến chính là cặp đối lập tuyệt vời: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo / Cá đâu đớp động dưới chân bèo". Câu thơ đầu tiên vẽ ra một không gian thu trong trẻo đến mức tĩnh lặng, với từ "lạnh lẽo" gợi cảm giác se sắt, còn "trong veo" lại nhấn mạnh sự thuần khiết, tuyệt đối của mặt nước. Cảnh vật dường như đã ngưng đọng hoàn toàn, chuẩn bị cho một sự tương phản đầy tinh tế. Tuy nhiên, sự tĩnh mịch ấy bất ngờ bị phá vỡ bởi tiếng động cực nhỏ ở câu sau: "Cá đâu đớp động dưới chân bèo". Chính cái "đớp động" mơ hồ, gần như vô hình đó lại càng làm nổi bật và tôn thêm vẻ tĩnh tuyệt đối của toàn bộ không gian. Đây là thủ pháp nghệ thuật "lấy động tả tĩnh" kinh điển, cho thấy sự quan sát vô cùng tinh tế và tài hoa của Nguyễn Khuyến. Tiếng cá nhỏ bé ấy không chỉ là âm thanh của thiên nhiên mà còn là tiếng lòng cô đơn, gợi lên nỗi buồn thanh sạch của nhà thơ. Sự đối lập giữa lạnh lẽoâm vang nhỏ đã tạo nên bức tranh thơ mộng, độc đáo, đậm chất triết lí phương Đông về sự hòa hợp giữa con người và cảnh vật.

0
6 tháng 1 2020

44 (28) gam là s bạn

một đề là 44 gam , một đề là 28 gam nhoa bợn :)

🎙️ Bài nói về cuốn truyện lịch sửMở đầu:Xin chào thầy cô và các bạn! Hôm nay, em rất vui được chia sẻ với mọi người về một cuốn truyện lịch sử mà em vô cùng yêu thích. Cuốn truyện không chỉ giúp em hiểu thêm về một giai đoạn hào hùng của dân tộc, mà còn mang đến những cảm xúc sâu sắc về con người, quê hương và lòng yêu nước.Nội dung chính:📚 Giới thiệu chung về...
Đọc tiếp

🎙️ Bài nói về cuốn truyện lịch sử

Mở đầu:

Xin chào thầy cô và các bạn! Hôm nay, em rất vui được chia sẻ với mọi người về một cuốn truyện lịch sử mà em vô cùng yêu thích. Cuốn truyện không chỉ giúp em hiểu thêm về một giai đoạn hào hùng của dân tộc, mà còn mang đến những cảm xúc sâu sắc về con người, quê hương và lòng yêu nước.

Nội dung chính:

📚 Giới thiệu chung về cuốn truyện: Cuốn truyện mà em muốn giới thiệu là Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi. Đây là một tác phẩm nổi tiếng trong dòng văn học thiếu nhi, đồng thời cũng là một truyện lịch sử giàu giá trị.

📖 Giới thiệu nội dung của cuốn truyện: Truyện kể về hành trình của cậu bé An trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sau khi mất cha mẹ, An phải tự lập và trải qua nhiều gian nan, từ đó gặp gỡ những người dân Nam Bộ nghĩa khí, sống giữa thiên nhiên hoang sơ và tham gia vào cuộc kháng chiến. Qua từng trang truyện, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của con người và vùng đất phương Nam.

🎨 Nhận xét về nghệ thuật: Tác phẩm nổi bật với lối kể chuyện sinh động, giàu hình ảnh và cảm xúc. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu chất thơ, miêu tả thiên nhiên và con người rất chân thực. Nhân vật được xây dựng có chiều sâu, đặc biệt là nhân vật An – vừa hồn nhiên, vừa kiên cường.

💭 Suy nghĩ của em: Khi đọc truyện, em cảm thấy rất xúc động trước tinh thần bất khuất của người dân Nam Bộ. Em học được bài học về lòng dũng cảm, tình yêu quê hương và sự trưởng thành qua khó khăn. Cuốn truyện khiến em thêm tự hào về lịch sử dân tộc và trân trọng cuộc sống hiện tại.

Kết thúc:

Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe bài chia sẻ của em. Em rất mong nhận được những góp ý để bài nói của em được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!

Nếu bạn muốn mình viết bài nói cho một cuốn truyện khác như Người lái đò sông Đà, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, hay Dế Mèn phiêu lưu ký, cứ nói nhé—mình sẽ giúp bạn điều chỉnh nội dung cho phù hợp.



1
29 tháng 9 2025

hình như bài đấy không giống truyện lịch sử

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:NHỚ HUẾ QUÊ TÔISông núi vươn dài tiếp núi sôngCò bay thẳng cánh nối đồng khôngCó người bảo Huế xa, xa lắmNhưng Huế quê tôi ở giữa lòngMười một năm trời mang Huế theoĐèo cao nắng tắt bóng cheo leoGiọng hò mái đẩy vờn mây núiMan mát sông Hương lướt đỉnh đèoTôi gặp bao người xứ Huế xaĐèn khuya thức mãi chí xông phaMở đường giải...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NHỚ HUẾ QUÊ TÔI

Sông núi vươn dài tiếp núi sông
Cò bay thẳng cánh nối đồng không
Có người bảo Huế xa, xa lắm
Nhưng Huế quê tôi ở giữa lòng

Mười một năm trời mang Huế theo
Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo
Giọng hò mái đẩy vờn mây núi
Man mát sông Hương lướt đỉnh đèo

Tôi gặp bao người xứ Huế xa
Đèn khuya thức mãi chí xông pha
Mở đường giải phóng về quê mẹ
Dựng khắp non sông bóng xóm nhà

Có bao người Huế không về nữa
Gửi đá ven rừng chép chiến công
Có mồ liệt sĩ nâng lòng đất
Buồm phá Tam Giang gió thổi lồng

Nặng trĩu trăm năm bóng cổ thành
Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh
Cờ sao ngày ấy buồn cung cấm
Sông nước xôn xao núi chuyển mình

Bao độ thu về, thu lại qua
Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa
Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ
Càng giục canh sương rộn tiếng gà.

Hà Nội, thu, năm 1936
(Thanh Tịnh, Thơ ca, NXB Quân đội nhân dân, 1980)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất.

Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”.

Câu 4. Trình bày cảm hứng chủ đạo của bài thơ? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc của bài thơ trên.

Câu 6. Từ câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công”, em hãy viết một đoạn văn (7 – 10 dòng) nêu suy nghĩ của mình về sự hi sinh cao cả của những con người đã ngã xuống cho độc lập, tự do; đồng thời liên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống ấy.

1
26 tháng 9 2025

Trả lời các yêu cầu Đọc hiểu Câu 1. Thể thơ Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ thất ngôn (bảy chữ) với các khổ thơ bốn câu, có cách gieo vần chủ yếu là vần chân. Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương trong khổ thơ thứ nhất Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là: +Sông núi vươn dài +Núi sông +Cò bay thẳng cánh +Đồng không +Huế +Huế quê tôi ở giữa lòng Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” Trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”: -Nghĩa đen: "Nhuộm" là làm cho vật khác thấm màu, đổi màu. -Sắc thái nghĩa trong câu thơ: Từ "nhuộm" được dùng với nghĩa chuyển, gợi lên sự mất mát, đau thương, sự đổ máu, hy sinh to lớn và dữ dội. Màu "máu đỏ" không chỉ đơn thuần là màu sắc mà còn là sự sống, là sinh mệnh đã ngã xuống, hòa quyện, thấm đẫm vào màu "đồng xanh" (màu của quê hương, của sự sống, của hòa bình). Từ đó, nó khắc họa sâu sắc cái giá phải trả bằng máu xương của bao thế hệ người dân Huế, những người đã chiến đấu vì độc lập, tự do của quê hương. Câu 4. Cảm hứng chủ đạo và căn cứ xác định -Cảm hứng chủ đạo: Tình yêu quê hương tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của con người và mảnh đất Huế. -Căn cứ xác định: +Tình cảm cá nhân: Nhan đề "Nhớ Huế quê tôi" và hình ảnh "Huế quê tôi ở giữa lòng" (khổ 1), "mang Huế theo" (khổ 2) thể hiện sự gắn bó, khắc khoải. Niềm tự hào về truyền thống cách mạng: Bài thơ ngợi ca những người con Huế "thức mãi chí xông pha", "Mở đường giải phóng về quê mẹ", sự hy sinh cao cả ("máu đỏ nhuộm đồng xanh", "Gửi đá ven rừng chép chiến công"). Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo một trình tự hồi tưởng và tự hào về quê hương Huế, gắn liền với những kỉ niệm và truyền thống cách mạng: -Khổ 1 (Khẳng định tình cảm): Mở đầu bằng lời khẳng định tình cảm mãnh liệt, sâu đậm: Huế không xa xôi mà nằm "ở giữa lòng" tác giả, là sự hòa quyện của sông núi và đồng không. -Khổ 2 (Hồi tưởng): Cảm xúc chuyển sang hồi tưởng những kỉ niệm gắn bó, gần gũi như sông Hương, giọng hò mái đẩy, mang theo Huế vượt qua mọi không gian cách trở (Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo). -Khổ 3 & 4 (Tự hào về người Huế và sự hy sinh): Mạch cảm xúc vỡ òa thành niềm tự hào khi nghĩ về những người con xứ Huế kiên cường, bất khuất, có "chí xông pha", dấn thân "Mở đường giải phóng". Đặc biệt, xúc động và trân trọng những hy sinh cao cả ("Có bao người Huế không về nữa", "máu đỏ nhuộm đồng xanh") cho độc lập, tự do. -Khổ 5 (Nhắc lại lịch sử đau thương): Cảm xúc lắng đọng, trầm buồn khi nhắc đến những năm tháng đau thương, máu lửa của lịch sử Huế ("bóng cổ thành", "máu đỏ nhuộm đồng xanh"), nhưng vẫn ánh lên niềm hy vọng, khí thế chuyển mình của đất nước (Sông nước xôn xao núi chuyển mình). -Khổ 6 (Khắc khoải và chờ mong): Kết thúc bằng cảm xúc khắc khoải, nhớ thương quê mẹ ("Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa") xen lẫn sự chờ mong, thôi thúc về một ngày trở về, hoàn thành sứ mệnh (hình ảnh phượng nở và tiếng gà giục giã). Mạch cảm xúc hồi tưởng - tự hào - trầm hùng - khắc khoải tạo nên bức chân dung thơ mộng nhưng cũng đầy bi tráng về mảnh đất và con người Huế. Câu 6. Đoạn văn suy nghĩ về sự hy sinh và trách nhiệm của thế hệ trẻ Câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công” gợi lên trong tôi sự xúc động và lòng biết ơn vô hạn đối với những thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Hình ảnh "Gửi đá ven rừng chép chiến công" là một biểu tượng bi tráng về sự hóa thân bất tử: các anh hùng đã ngã xuống, biến mình thành một phần của đất nước, dùng sự hy sinh của mình như những dòng chữ khắc vào lịch sử, lưu giữ mãi chiến công vĩ đại. Sự hy sinh ấy là cao cả vì nó đánh đổi cả tuổi xuân, sinh mạng để đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Thế hệ trẻ hôm nay, khi được sống trong hòa bình, càng nhận rõ trách nhiệm của mình. Đó là ghi nhớ công ơn, trân trọng giá trị của tự do và phát huy truyền thống kiên cường. Chúng ta phải nỗ lực học tập, lao động, giữ gìn đạo đức, và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Đó chính là cách tốt nhất để tiếp nối, chép tiếp những trang sử vàng mà cha ông đã đổ máu xương để viết nên. Deep Research

6 tháng 2

Mở bài: Giới thiệu Đền Đô (Bắc Ninh) là di tích lịch sử quan trọng và lý do em được tham quan, nêu cảm xúc háo hức. Thân bài: Miêu tả quang cảnh trên đường đến đền, hàng cây, con đường. Sau đó trình bày lần lượt các điểm tham quan: cổng tam quan, sân chính, miếu thờ... Mô tả hoạt động dâng hương tưởng nhớ các vua Lý, ngấm kiến trúc cổ kính, tham gia trò chơi dân gian hay mua đồ lưu niệm. Nêu ấn tượng sâu sắc về hoạt động em thích nhất, ví dụ nghi lễ dâng hương trang nghiêm hay mua những con tò he nhiều màu. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về chuyến tham quan – sự tự hào về lịch sử dân tộc, lòng biết ơn tiền nhân – và liên hệ bản thân, hứa sẽ chăm ngoan học giỏi để xứng đáng với truyền thống.