Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
C1:văn bản bài học đường đời đầu tiên.Của Tô Hoài
C2:Tả dế mèn
Câu 1.
- Văn bản: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu.
- Tác giả: Tô Hoài.
Câu 2.
- Đoạn văn tả Dế Mèn.
Câu 3.
So sánh:
- "Đôi càng tôi mẫm bóng như những chiếc vuốt."
- "Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy."
Nhân hóa:
- Dế Mèn được miêu tả với các hoạt động, dáng vẻ như con người: "đi đứng oai vệ", "đưa hai chân lên vuốt râu"...
Ẩn dụ:
- "Hai lưỡi liềm máy" dùng để gợi hình ảnh hàm răng khỏe, sắc bén của Dế Mèn.
Hoán dụ:
- Các bộ phận như "đôi càng", "đôi cánh", "râu" được dùng để làm nổi bật vẻ đẹp, sức mạnh của Dế Mèn.
Câu 4.
Qua đoạn văn, em rất yêu thích nhân vật Dế Mèn. Dế Mèn hiện lên với vẻ ngoài khỏe khoắn, cường tráng và đầy sức sống. Đôi càng mẫm bóng, đôi cánh dài cùng dáng đi oai vệ khiến Dế Mèn giống như một chàng hiệp sĩ của đồng cỏ. Những chi tiết miêu tả sinh động của nhà văn Tô Hoài giúp em hình dung rõ nét hình ảnh một chú dế trẻ trung, mạnh mẽ và tự tin.
Tuy nhiên, em cũng nhận ra rằng Dế Mèn đôi lúc còn kiêu căng vì quá tự hào về sức mạnh của mình. Qua nhân vật này, em hiểu rằng mỗi người cần biết rèn luyện bản thân để trở nên khỏe mạnh, giỏi giang nhưng luôn phải khiêm tốn, biết yêu thương và giúp đỡ mọi người. Dế Mèn là một nhân vật rất gần gũi, đáng nhớ và để lại cho em nhiều bài học ý nghĩa.
Đề 1: Tả con đường đi học
Mỗi ngày đến trường, em đều đi trên con đường quen thuộc đã gắn bó với em từ những năm đầu tiểu học. Con đường ấy không chỉ đưa em đến lớp mà còn lưu giữ biết bao kỉ niệm đẹp của tuổi thơ.
Buổi sáng, khi ông mặt trời vừa hé những tia nắng đầu tiên, con đường như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Những giọt sương còn đọng trên lá cỏ lấp lánh như những hạt ngọc nhỏ. Hai bên đường là những hàng cây xanh mát dang rộng cánh tay đón gió. Tiếng chim hót líu lo hòa cùng tiếng cười nói của các bạn học sinh làm cho con đường trở nên nhộn nhịp hơn.
Đi dọc theo con đường, em bắt gặp những cánh đồng lúa xanh rì đang đung đưa trong gió. Xa xa là những mái nhà thấp thoáng sau hàng cau thẳng tắp. Những bác nông dân đã ra đồng từ sớm, tiếng máy cày, tiếng gọi nhau í ới tạo nên bức tranh làng quê thanh bình và tràn đầy sức sống.
Chiều tan học, con đường lại khoác lên mình chiếc áo vàng óng của nắng hoàng hôn. Ánh nắng cuối ngày trải dài trên mặt đường như dát một lớp mật ngọt. Em thong thả bước đi, ngắm nhìn cảnh vật thân quen và cảm thấy lòng mình thật vui vẻ.
Con đường đi học đã trở thành người bạn thân thiết của em. Dù mai này có đi xa, em vẫn luôn nhớ về con đường nhỏ thân thương ấy với tất cả tình yêu và niềm tự hào.
Đề 2: Tả con sông quê hương
Quê hương em có một dòng sông hiền hòa chảy quanh làng như dải lụa mềm ôm ấp những cánh đồng xanh mướt. Con sông ấy đã gắn bó với tuổi thơ em và trở thành hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí mỗi khi nhớ về quê hương.
Buổi sáng, mặt sông phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời trong xanh. Những làn sương mỏng nhẹ nhàng bay là là trên mặt nước tạo nên khung cảnh mờ ảo như trong tranh. Từng đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội dưới làn nước trong veo. Hai bên bờ, hàng tre xanh rì rào trong gió như đang kể chuyện về làng quê yên bình.
Khi mặt trời lên cao, dòng sông trở nên lung linh hơn. Những tia nắng vàng nhảy nhót trên mặt nước, tạo thành vô vàn đốm sáng lấp lánh. Các bác ngư dân chèo thuyền thả lưới, tiếng mái chèo khua nước vang lên nhịp nhàng. Dòng sông không chỉ mang phù sa bồi đắp cho ruộng đồng mà còn đem lại nguồn sống cho bao người dân quê em.
Đẹp nhất là lúc hoàng hôn buông xuống. Mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa từ từ lặn sau lũy tre làng. Cả dòng sông được nhuộm một màu vàng cam rực rỡ. Những cánh cò trắng chao liệng trên bầu trời rồi khuất dần trong ánh chiều tà. Cảnh vật lúc ấy đẹp đến nao lòng.
Em yêu biết bao dòng sông quê hương. Dòng sông không chỉ là món quà thiên nhiên ban tặng mà còn là nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ trong sáng của em. Dù đi đâu xa, hình ảnh con sông hiền hòa ấy sẽ mãi mãi ở trong trái tim em.
Cho ai cần nhé! Mỏi tay quá....
Câu 1: Văn miêu tả: sử dụng từ ngữ, câu văn để mô tả hình ảnh, hoạt động, đặc điểm nổi bật của sự vật (đồ vật, cây cối, con vật. phong cảnh...) làm cho người đọc hình dung được sự vật đang được miêu tả.
Câu 2: những năng lực cần có khi làm văn miêu tả
Quan sát: nhìn nhận, xem xét sự vật. Nhận xét liên tưởng hình dung về sự vật đặt trong tương quan các sự vật xung quanh.
Ví von so sánh: Thể hiện sự liên tưởng độc đáo riêng của người viết hình dung, cảm nhận về sự vật, hiện tượng miêu tả.
Đặc điểm và yêu cầu của văn miêu tả:
– Văn miêu tả là loại văn mang tính thông báo thẩm mĩ. Đó là sự miêu tả thể hiện được cái mới mẻ, cái riêng trong cách quan sát, cách cảm nhận của người viết.
– Trong văn miêu tả, cái mới, cái riêng phải gắn với cái chân thật.
– Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh.
– Muốn miêu tả được, trước hết người ta phải biết quan sát, rồi từ đó nhận xét, liên tưởng, tưởng tượng, ví von, so sánh,… để làm nổi bật lên những đặc điểm tiêu biểu của sự vật.
Câu 3 : Muốn tả cảnh cần :
+Xác định được đối tượng miêu tả;
+ Quan sát, lựa chọn được những hình ảnh tiêu biểu;
+ Trình bày những điều quan sát được theo một thứ tự hợp lý.
Ví dụ :
Tả quang cảnh lớp học trong giờ viết bài tập làm văn
a)Những hình ảnh tiêu biểu : Thầy cô giáo, cảnh lớp học (bàn ghế, bảng đen, bàn thầy cô, khẩu hiệu trên tường), các bạn học sinh (ghi đề bài, chuẩn bị làm bài, tư thế viết..) chú ý tả chung cả lớp và tả kĩ một, hai bạn.
b)Thứ tự miêu tả : Có thể theo thời gian. Trống vào lớp. Cô giáo (thầy giáo) cho chép đề. Các bạn bắt tay vào làm bài. Kết thúc buổi làm bài, thu, hộp bài cho thầy, cô.
Câu 4 :
Muốn tả người cần:
+Xác định được đối tượng cần tả (tả chân dung hay tả người trong tư thế làm việc);
+Quan sát, lựa chọn các chi tiết tiêu biểu
+Trình bày kết quả quan sát theo một thứ tự
Ví dụ : Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ.
Câu 5 :
* Bố cục bài văn tả cảnh:
- Mở bài: Giới thiệu cảnh được tả.
- Thân bài: Tập trung tả cảnh vật chi tiết theo một thứ tự nhất định, có thể ở một số trường hợp sau:
+ Từ khái quát đến cụ thể (hoặc ngược lại).
+ Không gian từ trong tới ngoài (hoặc ngược lại).
+ Không gian từ trên xuống dưới (hoặc ngược lại).
- Kết bài: phát biểu cảm tưởng về cảnh vật đó.
* Cách miêu tả:
- Mở bài: Giới thiệu người được tả (chú ý đến mối quan hệ của người viết với nhân vật được tả, tên, giới tính và ấn tượng chung về người đó)
- Thân bài:
+ Miêu tả khái quát hình dáng, tuổi tác, nghề nghiệp..
+ Tả chi tiết: ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói... (chú ý tả người trong công việc cần quan sát tinh tế vào các động tác của từng bộ phận: khuôn mặt thay đổi, trạng thái cảm xúc, ánh mắt...).
Câu 6 :
Bước 1: Tìm hiểu đề
Bước 2: Quan sát tìm ý
Bước 3: Sắp xếp ý (lập dàn ý)
Bước 4: Viết bài hoàn chỉnh
Bước 5: Kiểm tra lại bài.
Ps: phần B mình sẽ để riêng ra nhé !
Nghỉ hè năm ngoái, bố mẹ cho em về nhà dì Ngân chơi. Nhà dì Ngân ở gần biển, chính vì thế em rất thích ngắm cảnh biển vào buổi sáng. Ở đó, không khí rất trong lành và cảnh biển mới đẹp làm sao!
Từ đằng xa, ông mặt trời đỏ rực dần dần nhô lên làm cho người ta có cảm giác mặt trời đi ngủ ở dưới biển chứ không phải ở trên trời hay sau những đám mây. Mặt biển nhuốm màu đỏ cam bởi ánh mặt trời và trở nên lóng lánh như một tấm thảm tuyệt đẹp. Từng con sóng rì rào xô vào bờ như một bản nhạc chào buổi sáng êm tai.
Phía đằng xa, mây tím nhạt dần. Trên cao là những lọn mây xanh đã thành hình rõ nét. Khi ông mặt trời nhô lên cao nữa, ban phát ánh sáng xuống tất cả, mọi vật càng trở nên sôi động hơn. Từng đàn chim hải âu chao liệng trên mặt biển thật thanh bình. Các thuyền đánh cá bắt đầu căng buồm ra khơi đánh cá. Tiếng trẻ con, tiếng người lớn làm xôn xao cả một vùng chài. Có những chiếc thuyền đánh cá ra khơi từ đêm hôm trước giờ đã về bến với những sọt cá đầy ắp, trắng phau phau.
Bức tranh biển cả vào buổi sáng thật đẹp và ấn tượng. Chính vì vậy mà đã hơn một năm trôi qua, em vẫn nhớ như in cảnh biển buổi sáng hôm đó. Em ước gì biển cả không bao giờ có bão hay sóng thần mà luôn thanh bình và giàu đẹp như thế.
Mây trôi về phía xa xôi
Mong người quay lại lòng tôi rối bời.
Trường học của mình là trường THCS Vũ Ninh . Ngôi trường nằm trên con đường trải dài xuống Trung tâm Văn Hoá Kinh Bắc . Mới bước vào trường , bạn có thể thấy một hàng cây xanh và bên cạnh là ngôi nhà nhỏ của bác bảo vệ . Mỗi lúc vào lớp , bác đều lấy dùi trống đánh một hồi trống to và vang . Nếu như bác nghỉ , cô Tổng phụ trách sẽ phát giọng qua míc và loa . Khi tan học , chỉ một lúc sau thôi , ngôi trường im bặt như người đang ngủ . Khi đó , bên ngoài chỉ nghe thấy tiếng xào xạc của những bà quét lá bên cạnh trường . Mình rất yêu ngôi trường của mình . Đây là nơi đã dạy mình rất nhiều kiến thức bổ ích . Mình sẽ mãi không bao giờ quên ngôi trường mến yêu này .
Câu 1: Cáo nói với Hoàng từ bé khi Hoàng tử bé đến Trái đất
Câu 2:
Đơn điệu: Vòng quay lặp đi lặp lại liên tục
Con cáo cảm thấy cuộc sống của mình thật đơn điệu vì cáo săn gà, con người săn cáo. Mọi con gà đều giống nhau. Mọi con người đều giống nhau.
Câu 3:
So sánh "ước chân của bạn sẽ gọi mình ra khỏi hang" với "tiếng nhạc"
Tác dụng:
Tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo nhịp điệu cho câu văn
Nhấn mạnh điều tuyệt đẹp mà Hoàng tử bé mang đến cho Cáo, giúp Cáo thấy được sự tươi đẹp và rộn ràng, háo hức với cuộc sống.
Câu 4:
Nếu được hoàng tử bé cảm hóa, cuộc sống của cáo sẽ thay đổi: Vui tươi, rộn ràng, ý nghĩa và giá trị hơn.
ý nghĩa của tình bạn được thể hiện ở chỗ ta sẽ đồng hành cùng bạn, làm bạn tốt hơn, vui hơn và thấy được hạnh phúc hơn. Chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của bạn, cùng bạn sẻ chia..
Câu 5:
Con cáo trong đoạn trích “Nếu cậu muốn có một người bạn” đã để lại trong em những ấn tượng sâu sắc. Cáo là con vật ngoài đời thì nguy hiểm nhưng nó lại thật gần gũi, thân thiện trong trang văn của Ăng toan đơ. Cáo đã trò chuyện với Hoàng tử bé như người bạn thân và tình bạn diệu kì giữa Hoàng tử bé và cáo nở rộ giúp ta thêm hiểu, thêm trân trọng giá trị của tình bạn. Cáo có khao khát được cảm hóa. Khao khát của cáo là khao khát đẹp, chân thành và cũng thật đáng trân trọng. Chúng ta có thể thấy được sự thay đổi trong Cáo trong cuộc nói chuyện với Hoàng tử bé. Nó không phải chú cáo độc ác hay sống một đời nhàm chán, lặp đi lặp lại. Nó có khao khát sự sống đẹp và ý nghĩa. Ở cáo, bạn đọc còn thấy được phần nào hình ảnh người bạn chân thành, dễ mến.
Bài 20. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi bằng cách viết phương án trả lời đúng (A, B, C hoặc D) vào bài thi.
Tiếng đàn của chàng vừa cất lên thì quân sĩ mười tám nước bủn rủn tay chân, không còn nghĩ được gì tới chuyện đánh nhau nữa. Cuối cùng các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng. Thạch Sanh sai dọn một bữa cơm thết đãi những kẻ thua trận. Cả mấy vạn tướng lĩnh, quân sĩ thấy Thạch Sanh chỉ cho dọn ra vẻn vẹn có một niêu cơm tí xíu, bĩu môi, không muốn cầm đũa. Biết ý, Thạch Sanh đố họ ăn hết được niêu cơm và hứa sẽ trọng thưởng cho những ai ăn hết. Quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi nhưng niêu cơm bé xíu cứ ăn hết lại đầy. Chúng cúi đầu lạy tạ vợ chồng Thạch Sanh rồi kéo nhau về nước.
(Theo Ngữ văn 6, tr. 65, Tập 1, NXB Giáo dục)
Câu 1. Đoạn trích trên trích từ văn bản nào?
A. Em bé thông minh B. Thạch Sanh
C. Thánh Gióng D. Cây bút thần
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là gì?
A. Biểu cảm B. Nghị luận
C. Tự sự D. Miêu tả
Câu 3. Trong các từ sau từ nào là từ láy?
A. Bủn rủn B. Binh lính
C. Đầy đủ D. Cuối cùng
Câu 4. Chi tiết niêu cơm thần thể hiện ước mơ gì của nhân dân?
A.Thể hiện sự tài giỏi của Thạch Sanh
B. Thể hiện sự thân thiện của con người
C.Thể hiện tinh thần nhân đạo của nhân dân
D.Thể hiện sự ấm no, hạnh phúc, hòa bình