Câu 14b. Cho muối ăn vào nước và khuấy đều thu được nước muối. Dung môi là
A. nước.
B. muối ăn.
C. nước muối.
D. nước và muối.
Câu 14c. Cho muối ăn vào nước và khuấy đều thu được nước muối. Dung dịch là
A. nước.
B. muối ăn.
C. nước muối.
D. nước và muối.
Câu 15. Chất rắn nào sau đây có thể hòa tan được trong nước lạnh?
A. Tinh bột.
B. Đường.
C. Than.
D. Đá vôi.
Câu 16. Chất nào sau đây không tan được trong nước nhưng tan trong xăng?
A. Muối ăn.
B. Đường.
C. Dầu ăn.
D. Đá vôi.
Câu 17a. Hỗn hợp bột sắn dây và nước thuộc loại nào sau đây?
A. Huyền phù.
B. Dung dịch.
C. Nhũ tương.
D.Bột.
Câu 17b. Hỗn hợp dầu ăn và nước thuộc loại nào sau đây?
A. Huyền phù.
B. Dung dịch.
C. Nhũ tương.
D.Phù sa.
Câu 18. Các hạt nhỏ chất rắn phân tán trong môi trường chất khí gọi là
A. Huyền phù.
B. Bụi.
C. Nhũ tương.
D. Dung dịch.
Câu 19a. Dùng phương pháp nào sau đây để tách cát ra khỏi hỗn hợp cát và nước?
A. Chưng cất.
B. Lọc.
C. Cô cạn.
D. Chiết.
Câu 19b. Dùng phương pháp nào sau đây để tách muối ăn ra khỏi hỗn hợp muối và
nước?
A. Chưng cất.
B. Lọc.
C. Cô cạn.
D. Chiết.
Câu 19c. Dùng phương pháp nào sau đây để tách dầu ăn ra khỏi hỗn hợp dầu ăn và
nước?
A. Chưng cất.
B. Lọc.
C. Cô cạn.
D. Chiết.
Câu 20. Phiễu chiết là dụng cụ dùng để tách
A. muối ăn ra khỏi hỗn hợp muối và nước.
B. cát ra khỏi hỗn hợp cát và nước.
C. dầu ăn ra khỏi hỗn hợp dầu ăn và nước.
D. rượu ra khỏi hỗn hợp rượu và nước.
giúp mik với đc ko ạ
dung môi à j
Dung môi
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếmDung môi là một chất hòa tan một chất tan, tạo ra một dung dịch. Dung môi thường là chất lỏng nhưng cũng có thể là chất rắn, chất khí hoặc chất lỏng siêu tới hạn. Lượng chất tan có thể hòa tan trong một thể tích dung môi cụ thể thay đổi theo nhiệt độ. Các ứng dụng chính của dung môi là trong sơn, chất tẩy sơn, mực, giặt khô.[1] Các ứng dụng cụ thể đối với dung môi hữu cơ là trong giặt khô (ví dụ như tetrachloroethylene), làm chất pha loãng sơn (ví dụ toluen, nhựa thông), làm chất tẩy sơn móng tay và dung môi keo (axeton, metyl axetat, etyl axetat), trong chất tẩy vết (ví dụ: hexan, ete xăng), trong chất tẩy rửa (tecpen có múi) và trong nước hoa (etanol). Nước là dung môi cho các phân tử phân cực và là dung môi phổ biến nhất được sử dụng bởi các sinh vật; tất cả các ion và protein trong tế bào được hòa tan trong nước bên trong tế bào. Các dung môi được ứng dụng khác nhau trong các ngành công nghiệp hóa chất, dược phẩm, dầu mỏ và khí đốt, bao gồm cả trong quá trình tổng hợp và tinh chế hóa học.
Mục lục1Dung dịch và sự hòa tan2Phân loại dung môi2.1Các thang đo độ phân cực khác2.2Cực protic và cực aprotic3Tính chất vật lý của các dung môi phổ biến3.1Điểm sôi3.2Tỷ trọng4Sức khỏe và an toàn4.1Tính dễ cháy4.2Sự hình thành peroxide (oxy già) dễ nổ4.3Các tác động đến sức khỏe4.4Các biện pháp phòng tránh4.5Ô nhiễm môi trường5Chú thích6Tham khảoDung dịch và sự hòa tan[sửa | sửa mã nguồn]Khi một chất này được hòa tan vào một chất khác, một dung dịch được hình thành.[2] Điều này trái ngược với trường hợp các hợp chất không hòa tan như cát trong nước. Trong một dung dịch, tất cả các thành phần được phân bố đồng đều ở cấp độ phân tử và không còn dư lượng. Một hỗn hợp dung môi-chất tan bao gồm một pha đơn với tất cả các phân tử chất tan xảy ra như solvat (dung môi-chất tan phức), như trái ngược với giai đoạn tách liên tục như trong huyền phù, nhũ tương và các loại hỗn hợp không giải quyết. Khả năng hòa tan của một hợp chất trong một hợp chất khác được gọi là độ hòa tan; nếu điều này xảy ra theo mọi tỷ lệ, nó được gọi là độ trộn lẫn.
Ngoài sự trộn lẫn, các chất trong dung dịch tương tác với nhau ở cấp độ phân tử. Khi một thứ gì đó bị hòa tan, các phân tử của dung môi sắp xếp xung quanh các phân tử của chất tan. Sự truyền nhiệt xảy ra và entropy được tăng lên làm cho dung dịch ổn định hơn về mặt nhiệt động lực học so với khi tách chất tan và dung môi riêng biệt. Sự sắp xếp này được trung gian bởi các tính chất hóa học tương ứng của dung môi và chất tan, chẳng hạn như liên kết hydro, mômen lưỡng cực và tính phân cực.[3] Sự hòa tan không gây ra phản ứng hóa học hoặc sự thay đổi cấu hình hóa học của chất tan. Tuy nhiên, quá trình solvat hóa giống như một phản ứng hình thành phức chất phối trí, thường có năng lượng đáng kể (nhiệt của quá trình solvat hóa và entropy của quá trình solvat hóa) và do đó không phải là quá trình trung tính.
Khi một chất hòa tan vào một chất khác, một dung dịch được tạo thành. Dung dịch là một hỗn hợp đồng nhất bao gồm một chất tan được hòa tan vào dung môi. Chất tan là chất được hòa tan, còn dung môi là môi trường hòa tan. Dung dịch có thể được tạo thành với nhiều dạng và hình thức khác nhau của chất tan và dung môi.
Phân loại dung môi[sửa | sửa mã nguồn]Dung môi có thể được phân loại rộng rãi thành hai loại: phân cực và không phân cực. Một trường hợp đặc biệt là thủy ngân, dung dịch của chúng được gọi là hỗn hống; Ngoài ra, các dung dịch kim loại khác tồn tại ở thể lỏng ở nhiệt độ phòng. Nói chung, hằng số điện môi của dung môi cung cấp một số đo sơ bộ về độ phân cực của dung môi. Tính phân cực mạnh của nước được biểu thị bằng hằng số điện môi cao của nó là 88 (ở 0 °C).[4] Các dung môi có hằng số điện môi nhỏ hơn 15 thường được coi là không phân cực.[5] Hằng số điện môi đo xu hướng của dung môi để triệt tiêu một phần cường độ trường của điện trường của một hạt tích điện chìm trong nó. Sự giảm này sau đó được so sánh với cường độ trường của hạt mang điện trong chân không.[5] Về mặt y học, hằng số điện môi của dung môi có thể được coi là khả năng làm giảm điện tích bên trong hiệu quả của chất tan. Nói chung, hằng số điện môi của dung môi là một yếu tố dự báo có thể chấp nhận được về khả năng hòa tan các hợp chất ion thông thường của dung môi, chẳng hạn như muối.
Các thang đo độ phân cực khác[sửa | sửa mã nguồn]Hằng số điện môi không phải là thước đo phân cực duy nhất. Vì dung môi được các nhà hóa học sử dụng để thực hiện các phản ứng hóa học hoặc quan sát các hiện tượng hóa học và sinh học, nên cần phải có các biện pháp phân cực cụ thể hơn. Hầu hết các biện pháp này đều nhạy cảm với cấu trúc hóa học.
Thang Grunwald – Winstein mY đo độ phân cực về ảnh hưởng của dung môi đối với sự tích tụ điện tích dương của chất tan trong một phản ứng hóa học.
Thang đo Z của Kosower đo độ phân cực về ảnh hưởng của dung môi đối với cực đại hấp thụ tia cực tím của muối, thường là pyridinium iodide hoặc pyridinium zwitterion.[6]
Thang đo mức hoạt động chất cho điện tử và chất nhận điện tử đo độ phân cực về cách dung môi tương tác với các chất cụ thể, như axit Lewis mạnh hoặc base Lewis mạnh.[7]
Tham số Hildebrand là căn bậc hai của mật độ năng lượng cố kết. Nó có thể được sử dụng với các hợp chất không phân cực, nhưng không thể thích ứng với hóa học phức tạp.
Thuốc nhuộm của Reichardt, một loại thuốc nhuộm solvatochromic thay đổi màu sắc theo độ phân cực, cho thang giá trị ET (30). E T là năng lượng chuyển tiếp giữa trạng thái cơ bản và trạng thái kích thích thấp nhất, tính bằng kcal / mol, và (30) xác định thuốc nhuộm. Một thang đo tương quan khác (E T (33)) có thể được xác định với màu đỏ Nile.
Độ phân cực, moment lưỡng cực, phân cực và hydro liên kết của một dung môi xác định loại hợp chất đó là có khả năng hòa tan và với những gì các dung môi khác hoặc các hợp chất lỏng đó là có thể trộn. Nói chung, dung môi phân cực hòa tan các hợp chất phân cực tốt nhất và dung môi không phân cực hòa tan các hợp chất không phân cực tốt nhất: "như hòa tan như". Các hợp chất phân cực mạnh như đường (ví dụ như sacaroza) hoặc các hợp chất ion, như muối vô cơ (ví dụ muối ăn) chỉ hòa tan trong các dung môi rất phân cực như nước, trong khi các hợp chất không phân cực mạnh như dầu hoặc sáp chỉ hòa tan trong các dung môi hữu cơ rất không phân cực như hexan. Tương tự như vậy, nước và hexan (hoặc giấm và dầu thực vật) không trộn lẫn với nhau và sẽ nhanh chóng tách thành hai lớp ngay cả khi được lắc kỹ.
Cực protic và cực aprotic[sửa | sửa mã nguồn]Các dung môi có hằng số điện môi tĩnh tương đối lớn hơn 15 có thể được chia thành protic và aprotic. Dung môi protic hòa tan anion (các chất tan mang điện tích âm) rất mạnh nhờ liên kết hydro. Nước là một dung môi protic. Các dung môi aprotic như acetone hoặc dichloromethane có xu hướng mang moment lưỡng cực lớn (tách một phần điện tích dương và một phần điện tích âm trong cùng một phân tử) và hòa tan các dạng mang điện tích dương thông qua lưỡng cực âm. Trong các phản ứng hóa học, việc sử dụng các dung môi protic phân cực sẽ tạo điều kiện cho cơ chế phản ứng SN1, trong khi các dung môi aprotic phân cực sẽ tạo điều kiện cho cơ chế phản ứng SN2.
Tính chất vật lý của các dung môi phổ biến[sửa | sửa mã nguồn]Bảng tính chất của các dung môi phổ biến Các dung môi được chia thành các nhóm không phân cực, phân cực aprotic, và phân cực protic và được sắp xếp theo độ phân cực tăng dần. Độ phân cực được tính bằng hằng số điện môi. Các dung môi có tính chất cao hơn của nước được in đậm.
Dung môiCông thức hóa họcĐiểm sôiHằng số điện môiTỷ trọngMoment phân cựcCâu 2: Trường hợp nào sau đây là hỗn hợp?
A. Nước muối. B. Sodium chloride.
C. Khí oxygen. D. Muối tinh.
Hóa học nha mn, ở đây ko có nên mik chọn sinh
A
Câu 2: Trường hợp nào sau đây là hỗn hợp?
A. Nước muối.
B. Sodium chloride.
C. Khí oxygen.
D. Muối tinh.
Câu 2: Chỉ trên tranh vẽ con đường hấp thu nước và muối khoáng hòa tan từ đất vào cây?
- Nước và muối khoáng hoà tan trong đất, được lông hút hấp thụ, chuyển qua vở tới mạch gỗ.
- Rễ mang các lông hút có chức năng hút nước và muối khoáng hoà tan trong đất.
- Nước và muối khoáng hoà tan được vận chuyển đến mạch gỗ bằng 2 con đường: từ lông hút qua các tế bào mô mém vỏ rồi đến mạch gỗ, và từ các tế bào biểu bì của rễ, qua khe hở giữa các tế bào mô mềm vỏ rồi đến mạch gỗ. Con đường chính hút nước và muối khoáng hoà tan qua lông hút. - Còn các cây sống trong nước, hút trực tiếp nưóc và muối khoáng hoà tan qua khắp bề mặt biểu bì của cả rễ, thân, lá. Các cây sống trên mặt nước hút trực tiếp nước và muối khoáng hoà tan qua khắp bề mặt biểu bì của rễ.
Câu 3: Theo em những giai đoạn nào cây cần nhiều nước và muối khoáng?
Cây cần nhiều nước và muối khoáng vào thời kì sinh trưởng mạnh như khi đâm chồi, nảy lộc, đẻ nhánh (ở lúa), chuẩn bị ra hoa (làm đòng ở lúa). Bởi vì vào thời kì này cây cần tích lũy vật chất và năng lượng cho sự tăng khối lượng và chất lượng của các bộ phận trong cây.
Cây cần nhiều nước và muối khoáng vào thời kì sinh trưởng mạnh như khi đâm chồi, nảy lộc, đẻ nhánh (ở lúa), chuẩn bị ra hoa (làm đòng ở lúa). Bởi vì vào thời kì này cây cần tích lũy vật chất và năng lượng cho sự tăng khối lượng và chất lượng của các bộ phận trong cây.
Câu 2: Có thể làm những thí nghiệm nào để chứng minh cây cần nước và muối khoáng?
Bố trí thí nghiệm làm thí nghiệm chứng minh cây cần nước.
Trồng 2 cây cái vào 2 chậu đất A và B (như nhau) và tưới nước đều tới khi 2 cây bén rễ (tươi tốt như nhau). Rồi sau đó. hãng ngày chỉ tưới nước cho cây ở chậu A. không tưới nước cho cây ở chậu B. Kết quả, cây chậu A vẫn sinh trưởng phát triển bình thường, còn cây chậu B còi cọc. phát triển không bình thường. Như vậy, nước có vai trò rất quan trọng đối với sự sống của cây.
* Làm thí nghiệm chứng minh cây cần muối khoáng. Trồng 2 cây như nhau vào 2 chậu, chậu A có đủ các loại muối khoáng: đạm. lân, Kali, nhưng chậu B lại thiếu muối đạm. Hàng ngày chăm sóc và tưới nước như nhau cho 2 câv ở 2 chậu. Kết quả theo dõi sau 2 tuần: cây ở chậu A phát triển (xanh tốt) bình thường, còn cây ở chậu B kém phát triển (vàng xấu). Điều đó chứng tỏ muối khoáng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Trồng 2 cây cái vào 2 chậu đất A và B (như nhau) và tưới nước đều tới khi 2 cây bén rễ (tươi tốt như nhau). Rồi sau đó. hãng ngày chỉ tưới nước cho cây ở chậu A. không tưới nước cho cây ở chậu B. Kết quả, cây chậu A vẫn sinh trưởng phát triển bình thường, còn cây chậu B còi cọc. phát triển không bình thường. Như vậy, nước có vai trò rất quan trọng đối với sự sống của cây.
* Làm thí nghiệm chứng minh cây cần muối khoáng. Trồng 2 cây như nhau vào 2 chậu, chậu A có đủ các loại muối khoáng: đạm. lân, Kali, nhưng chậu B lại thiếu muối đạm. Hàng ngày chăm sóc và tưới nước như nhau cho 2 câv ở 2 chậu. Kết quả theo dõi sau 2 tuần: cây ở chậu A phát triển (xanh tốt) bình thường, còn cây ở chậu B kém phát triển (vàng xấu). Điều đó chứng tỏ muối khoáng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Câu 1: Bộ phận nào của rễ có chức năng chủ yếu hấp thụ nước và muối khoáng?
- Nước và muối khoáng hòa tan trong đất. được lông hút hấp thụ, chuyển qua vỏ tới mạch gỗ.
- Rễ mang các lông hút có chức năng hút nước và muối khoáng hòa tan trong đất.
- Nước và muối khoáng hòa tan trong đất. được lông hút hấp thụ, chuyển qua vỏ tới mạch gỗ.
- Rễ mang các lông hút có chức năng hút nước và muối khoáng hòa tan trong đất
nước và muối khoáng hòa tan được vận chuyển từ rễ qua thân lên lá phần lớn đi đâu ?
di ra ngoai
phần lớn do hiện tượng thoát hơi nước
Câu 1: Nêu vai trò của nước và muối khoáng đối với cây?
* Nước: nước rất cần cho các hoạt động sống của cây. Cây thiếu nước các quá trình trao đổi chất có thể bị ngừng trệ và cây chết. Nhu cầu nước của cây luôn luôn thay đổi tùy thuộc vào các loài cây, các thời kì phát triển của cây và điều kiện sống (nhất là thời tiết).
* Muối khoáng: muối khoáng cũng rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Cây cần nhiều loại muối khoáng khác nhau (muối đạm, muối lân. muối kali). Nhu cầu muối khoáng của cây cũng thay đổi tùy thuộc vào các loài cây và các thời kì phát triển của cây Ví dụ, cây lấy quả lấv hạt (lúa, ngô, cà chua...) cần nhiều phôtpho và nỉtơ, cây trồng lấy thân lá (các loại rau. đay. gai..) cần nhiều đạm và cây trồng lấy củ (khoai lang, củ cải, cà rốt...) thì cần nhiều kali...
* Nước: nước rất cần cho các hoạt động sống của cây. Cây thiếu nước các quá trình trao đổi chất có thể bị ngừng trệ và cây chết. Nhu cầu nước của cây luôn luôn thay đổi tùy thuộc vào các loài cây, các thời kì phát triển của cây và điều kiện sống (nhất là thời tiết).
* Muối khoáng: muối khoáng cũng rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Cây cần nhiều loại muối khoáng khác nhau (muối đạm, muối lân. muối kali). Nhu cầu muối khoáng của cây cũng thay đổi tùy thuộc vào các loài cây và các thời kì phát triển của cây Ví dụ, cây lấy quả lấv hạt (lúa, ngô, cà chua...) cần nhiều phôtpho và nỉtơ, cây trồng lấy thân lá (các loại rau. đay. gai..) cần nhiều đạm và cây trồng lấy củ (khoai lang, củ cải, cà rốt...) thì cần nhiều kali...
Câu 2: Miền hút là miền quan trọng nhất của rễ vì?
A. Gồm hai phần vỏ và trụ
B. Có mạch gỗ và mạch rây vận chuyển các chất
C. Có nhiều lông hút giữ chức năng hút nước và muối khoáng hòa tan
D. Có ruột chứa chất dự trữ
Câu 2: Miền hút là miền quan trọng nhất của rễ vì?
A. Gồm hai phần vỏ và trụ
B. Có mạch gỗ và mạch rây vận chuyển các chất
C. Có nhiều lông hút giữ chức năng hút nước và muối khoáng hòa tan
D. Có ruột chứa chất dự trữ
Câu 2: Miền hút là miền quan trọng nhất của rễ vì?
A. Gồm hai phần vỏ và trụ
B. Có mạch gỗ và mạch rây vận chuyển các chất
C. Có nhiều lông hút giữ chức năng hút nước và muối khoáng hòa tan
D. Có ruột chứa chất dự trữ
Câu 5 : Quá trình sống nào sau đây thải ra khí oxygen ?
A. Vận động B. Bài tiết C. Hô hấp D. Tuần hoàn
Câu 6 : Tế bào nào sau đây có thể quan sát bằng mắt thường ?
A. Tế bào thần kinh B.Tế baò trứng cá hồi C.Tế bào thịt lá D.Tế bào cơ
Câu 7 : Loại tế bào dài nhất trong cơ thể là gì ?
câu 6. B
@Bảo
#Cafe
Nước tinh khiết là chất hay hỗn hợp?
giúp mik với !
nước tinh khiết là chất
Bảng xếp hạng