Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
-các mảng kiến tạo dịch chuyển được do tác động chủ yếu của lớp Manti trên
- hoạt động kiến tạo của Trái Đất tập trung chủ yếu ở vùng tiếp xúc giữa các mảng, khi các mảng xô húc hoặc tách xa nhau.
- vành đai lửa Thái Bình Dương hình thành do sự va chạm của các mảng kiến tạo lớn là: mảng Thái Bình Dương, mảng Âu-Á, mảng Bắc Mĩ.
- mảng lục địa Nam Mỹ xô húc với mảng đại dương Na-xca tạo nên địa hình : dãy núi An-đét
Vành đai lửa Thái Bình Dương hình thành do sự va chạm của các mảng kiến tạo lớn như mảng Thái Bình Dương, mảng Nam Cực và mảng Phi.
1 . Tạo ra công cụ sản xuất mới: máy tính điện tử, máy tự động, người máy…
Tạo ra nguồn năng lượng mới: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nguyên tử
Tạo ra vật liệu mới: chất Poolime, các vật liệu siêu sạch, siêu cứng, siêu bền, siêu dẫn
Trong công nghệ sinh học đột phá bằng công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh, công nghệ enzim…
Thông tin liên lạc và giao thông vận tải: sợi thủy tinh, cáp quang, máy bay siêu âm khổng lồ đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin.
Chinh phục vũ trụ: vệ tinh nhân tạo, du hành vũ trụ
Quá trình phong hoá sinh học xảy ra mạnh nhất ở miền khí hậu có đặc điểm
A. lạnh, khô.
B. khô, nóng
C. nóng, ẩm.
D. hải dương.
Giải thích Những tác nhân chủ yếu của phong hoá hoá học là nước và các hợp chất hoà tan trong nước, khí cacbonic, ôxi và axit hữu cơ của sinh vật thông qua các phản ứng hoá học. Nước có tác động hoà tan nhiều loại đá và khoáng vật, nhiệt độ của nước càng cao thì sức hoà tan của nước càng mạnh. Vì vậy, phong hóa hóa học diễn ra mạnh ở các vùng có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều.
Đáp án: c
Tây Nguyên là một trong những vùng có mật độ dân cư thấp nhất so với cả nước với mật độ phổ biến từ 50- 100 người/ km2
Giải thích:
– Do Tây Nguyên có địa hình cao, là vùng kinh tế chưa phát triển, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp, cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng còn hạn chế.
– Ngay trong vùng cũng có biểu hiện phân bố dân cư không đều.
+ Những nơi có mật độ đạt từ 201- 500 người/ km2 và 501- 1000 người/ km2 như các thành phố Plâyku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và vùng phụ cận.
+ Cấp từ 50- 100 người/ km2 và 101- 200 người/ km2 tập trung ở ven các đô thị và các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm như vùng ven thành phố Buôn Ma Thuột, Đà Lạt và thị xã Bảo Lộc…
+ Cấp dưới 50 người/ km2 tại các khu vực núi cao, rừng hoặc các nơi có điều kiện khó khăn cho sản xuất, vùng núi cao phía bắc cao nguyên Lâm Viên…
a. Điều kiện thuận lợi sản xuất cây công nghiệp:
– Đất: có nhiều loại đất thích hợp nhiều loại cây công nghiệp (feralit, phù sa cổ).
– Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có sự phân hoá.
– Nguồn lao động dồi dào
– Mạng lưới cơ sở chế biến
b. Sự phân bố các cây công nghiệp chủ yếu:
– Cà phê: tập trung nhiều ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc trung Bộ
– Cao su: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ
– Hồ tiêu: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ
– Chè: Trung du và miền núi Bắc Bộ, một phần ở Tây nguyên
|
Tiêu chí
|
NÔNG NGHIỆP |
CÔNG NGHIỆP |
|
Đối tượng sản xuất |
Cây trồng, vật nuôi |
Khoáng sản, nguyên vật liệu… |
|
Tư liệu sản xuất |
Đất trồng |
Máy móc, thiết bị, công nghệ |
|
Các giai đoạn sản xuất |
Các giai đoạn kế tiếp nhau, diễn ra trên cùng địa điểm |
Gồm 2 giai đoạn sản xuất có thể diễn ra đồng thời, ở những địa điểm khác nhau. |
|
Mức độ tập trung sản xuất |
Phân tán trong không gian |
Tập trung cao độ |
|
Mức độ phụ thuộc vào ĐKTN |
Phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên, có tính mùa vụ rõ rệt |
Ít phụ thuộc vào tự nhiên |
|
Tiêu chí
|
NÔNG NGHIỆP |
CÔNG NGHIỆP |
|
Đối tượngsản xuất |
Cây trồng, vật nuôi |
Khoáng sản, nguyên vật liệu… |
|
Tư liệu sản xuất |
Đất trồng |
Máy móc, thiết bị, công nghệ |
|
Các giai đoạn sản xuất |
Các giai đoạn kế tiếp nhau, diễn ra trên cùng địa điểm |
Gồm 2 giai đoạn sản xuất có thể diễn ra đồng thời, ở những địa điểm khác nhau. |
|
Mức độ tập trung sản xuất |
Phân tán trong không gian |
Tập trung cao độ |
|
Mức độ phụ thuộc vào ĐKTN |
Phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên, có tính mùa vụ rõ rệt |
Ít phụ thuộc vào tự nhiên |
+ Xác định điểm cần đến, quãng đường di chuyển, các cung đường có thể sử dụng; quản lí, giám sát, lưu trữ lộ trình đường đi của đối tượng (phương tiện giao thông, các cơn bão,…); tính số ki-lô-mét đã di chuyển và cước phí cho xe buýt, xe khách, xe taxi, xe ôm công nghệ,…; chống trộm cho các phương tiện;…
+ Ngoài ra, GPS và bản đồ số còn dùng để tìm người, thiết bị đã mất hay để đánh dấu địa điểm khi chụp ảnh cũng như tối ưu hóa kết quả tìm kiếm dựa trên khu vực,…
+ GPS và bản đồ số được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như trong giao thông vận tải, trong đo đạc khảo sát và thi công công trình, trong quân sự, trong khí tượng và giám sát Trái Đất,…
Xác định điểm cần đến, quãng đường di chuyển, các cung đường có thể sử dụng; quản lí, giám sát, lưu trữ lộ trình đường đi của đối tượng (phương tiện giao thông, các cơn bão,…); tính số ki-lô-mét đã di chuyển và cước phí cho xe buýt, xe khách, xe taxi, xe ôm công nghệ,…; chống trộm cho các phương tiện;…
+ Ngoài ra, GPS và bản đồ số còn dùng để tìm người, thiết bị đã mất hay để đánh dấu địa điểm khi chụp ảnh cũng như tối ưu hóa kết quả tìm kiếm dựa trên khu vực,…
+ GPS và bản đồ số được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như trong giao thông vận tải, trong đo đạc khảo sát và thi công công trình, trong quân sự, trong khí tượng và giám sát Trái Đất,…
Trước hết. cần đổi 105 km = 10 500 000 cm rồi áp dụng công thức (2) các em sẽ tính được ti lệ cùa bản đồ đó là:
15 cm : 10 500 000 cm = 1 : 700 000
* Nhiệt độ và độ muối
- Nhiệt độ trung bình trên bề mặt của nước biển và ở giữa đại dương là khoảng 17°C.
- Độ muối
+ Độ muối là một trong những thành phần hoá học quan trọng của nước biển.
+ Nước biển và đại dương có độ muối trung bình là 35%o.
+ Độ muối là do nước sông hoà tan các loại muối từ đất, đá trong lục địa đưa ra.
* Sự thay đổi của nhiệt độ và độ muối
- Nhiệt độ
+ Sự thay đổi nhiệt độ phụ thuộc vào vị trí địa lí, điều kiện khí hậu và các yếu tố tự nhiên khác.
+ Ở các biển và đại dương, nhiệt độ trung bình trên bề mặt cũng rất khác nhau.
+ Biên độ nhiệt năm của nước biển và đại dương không lớn.
+ Ở Xích đạo là 27 - 29°C, ở ôn đới là 15 - 16°C, ở hàn đới là dưới 1°C.
- Độ muối
+ Độ muối của nước biển thay đổi tuỳ thuộc vào lượng nước sông chảy vào biển, độ bốc hơi và lượng mưa.
+ Ở các biển và đại dương khác nhau có độ muối không giống nhau.

Câu 1: Giáo dục dưới thời Đại Việt đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng một nền văn hiến lâu đời. Hệ thống giáo dục chính quy được tổ chức bài bản với ba cấp: sơ học, tiểu học và đại học, trong đó Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Các khoa thi được tổ chức đều đặn để tuyển chọn nhân tài cho đất nước, đặc biệt là kỳ thi Minh kinh bác học và thi Tiến sĩ. Chế độ khoa cử giúp hình thành tầng lớp trí thức nho học, đóng góp vào sự phát triển của nhà nước phong kiến. Ngoài ra, các tấm bia Tiến sĩ dựng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám thể hiện sự coi trọng hiền tài và khuyến khích học tập.
Câu 2: Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là trung tâm giáo dục cao cấp mà còn là biểu tượng của nền văn hiến Đại Việt. Đây là nơi đào tạo ra nhiều nhân tài, quan lại giúp đất nước phát triển vững mạnh. Việc dựng bia tiến sĩ ghi danh những người đỗ đạt đã tạo động lực lớn cho việc học hành, tôn vinh truyền thống hiếu học. Bên cạnh đó, Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn thể hiện sự quan tâm của triều đình đối với giáo dục và trọng dụng nhân tài. Di tích này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn góp phần lưu giữ tinh hoa văn hóa dân tộc, thúc đẩy tinh thần học tập qua nhiều thế hệ
Câu 1:
Văn minh Đại Việt đạt nhiều thành tựu tiêu biểu về giáo dục như:
+ Hệ thống trường học: Các trường Quốc Tử Giám, trường làng đã được thành lập, đặc biệt là Quốc Tử Giám, nơi đào tạo các nhân tài cho đất nước.
+ Khoa cử: Đại Việt thực hiện chế độ thi cử, tuyển chọn quan lại qua các kỳ thi như thi Hương, thi Hội, thi Đình, giúp phát triển trí thức và quản lý đất nước.
+ Sự phát triển của Nho học: Nho giáo là nền tảng giáo dục, được áp dụng rộng rãi trong xã hội, với nhiều học giả và tác phẩm nổi tiếng.
Câu 2:
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trung tâm giáo dục lớn của Đại Việt, có tác động mạnh mẽ như:
+ Nơi đào tạo nhân tài: Là trường đại học đầu tiên của Đại Việt, nơi đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho triều đình.
+ Tôn vinh tri thức: Là biểu tượng tôn vinh học vấn và trí thức, khuyến khích học tập và thi cử, giữ gìn truyền thống Nho học.
+ Ảnh hưởng văn hóa: Văn Miếu là nơi ghi nhận các khoa bảng, góp phần nâng cao giá trị văn hóa giáo dục của Đại Việt.
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt bao gồm:
Hệ thống giáo dục Nho học: Tư tưởng Nho giáo được áp dụng trong giáo dục, hình thành một hệ thống trường học từ cấp xã đến trung ương.
Quốc Tử Giám: Là trường đại học đầu tiên của Đại Việt, đào tạo các quan chức cho triều đình.
Khoa cử: Triều đại Đại Việt phát triển hệ thống thi cử để tuyển chọn nhân tài, điển hình là các kỳ thi Đình, thi Hương, thi Hội.
Câu 2: Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tác động lớn đối với văn minh Đại Việt qua:
Trung tâm giáo dục: Là nơi đào tạo nhân tài cho triều đình, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền giáo dục Nho học.
Khuyến khích học tập: Tạo điều kiện cho các học sinh, sinh viên học tập và thi cử, nâng cao dân trí và chuẩn mực đạo đức.
Di sản văn hóa: Văn Miếu trở thành biểu tượng của trí thức và văn hóa Đại Việt, góp phần gìn giữ giá trị giáo dục qua các thế hệ.
Văn minh Đại Việt làm những sáng tạo văn hoá vật chất và tinh thần đạt đến trình độ cao trong kỉ nguyên độc lập của đất nước
Thời Lê sơ nhà máy nhà nước hoàn thiện đạt đến đỉnh cao
- Hệ thống trường học:
- Quốc Tử Giám (1076): Được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nơi đào tạo nhân tài cho đất nước.
- Hệ thống trường công và trường tư phát triển rộng khắp từ trung ương đến địa phương (phủ, huyện, xã).
- Chế độ thi cử:
- Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075(dưới thời vua Lý Nhân Tông) để tuyển chọn người tài.
- Thời Lê Sơ, giáo dục và thi cử Nho học đạt đến độ cực thịnh với quy chế chặt chẽ (thi Hương, thi Hội, thi Đình).
- Tôn vinh người học:
- Lệ xướng danh (đọc tên người đỗ) và vinh quy bái tổ (đón rước người đỗ đạt về làng).
- Dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu (bắt đầu từ năm 1484) để lưu danh muôn đời những người đỗ đạt cao.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng rạng ngời của nền văn hiến Đại Việt, có tác động sâu sắc:Câu 1:
- Nền giáo dục Đại Việt phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là từ thời Lý đến thời Lê sơ, với những thành tựu chính: +)Hệ thống trường học: Hình thành và mở rộng từ trung ương đến địa phương. Năm 1076, nhà Lý cho thành lập Quốc Tử Giám, được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. +)Chế độ khoa cử: Việc tuyển chọn quan lại bằng thi cử trở nên nề nếp. Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075 dưới thời vua Lý Nhân Tông. Đến thời Lê sơ, giáo dục Nho học đạt đến đỉnh cao với các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình được tổ chức định kỳ. +)Quốc sử và bia đá: Việc dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu (bắt đầu từ năm 1484) để vinh danh những người đỗ đạt, khuyến khích tinh thần hiếu học trong nhân dân. +)Nội dung giảng dạy: Chủ yếu là sách kinh điển của Nho giáo (Ngũ kinh, Tứ thư), giúp đào tạo đội ngũ trí thức và quan lại trung thành, tài năng cho đất nước.
Câu 2:
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám đóng vai trò là "trung tâm văn hóa, giáo dục" lớn nhất của cả nước, có tác động sâu sắc: +)Đào tạo nhân tài: Là nơi học tập và rèn luyện của hàng ngàn trí thức, đại thần, góp phần quan trọng vào việc xây dựng bộ máy hành chính và phát triển đất nước. +)Xác lập vị thế Nho giáo: Góp phần đưa Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, tạo ra sự thống nhất về văn hóa và đạo đức trong xã hội Đại Việt. +)Thúc đẩy truyền thống hiếu học: Sự tồn tại và các nghi lễ vinh danh tại đây đã tạo động lực cho các tầng lớp nhân dân vươn lên trong học tập, hình thành truyền thống "tôn sư trọng đạo". +)Biểu tượng văn hóa: Đây là minh chứng cho trình độ văn minh cao của dân tộc, thể hiện sự coi trọng tri thức và giáo dục của các vương triều phong kiến Việt Nam.
Nền giáo dục Đại Việt phát triển rực rỡ với những thành tựu chính sau:
- Hệ thống trường học: Phát triển rộng khắp từ trung ương đến địa phương. Năm 1076, nhà Lý cho thành lập Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau đó, các trường học công (ở các lộ, phủ, huyện) và trường tư cũng phát triển mạnh.
- Chế độ khoa cử: Bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm 1075 (thời Lý). Đến thời Lê Sơ, khoa cử trở thành phương thức tuyển chọn nhân tài chính yếu, được tổ chức định kỳ và quy củ (thi Hương, thi Hội, thi Đình).
- Nội dung đào tạo: Chủ yếu là Nho giáo, tập trung vào các bộ sách kinh điển (Tứ thư, Ngũ kinh) nhằm đào tạo đội ngũ quan lại có đạo đức và năng lực để quản lý đất nước.
- Đội ngũ trí thức: Xuất hiện nhiều nhà giáo lỗi lạc, tiêu biểu nhất là "người thầy của muôn đời" Chu Văn An.
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám giữ vai trò là biểu tượng trí tuệ và văn hóa của cả dân tộc:
- Đào tạo nhân tài: Là trung tâm giáo dục cao nhất, nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, đại thần và những nhà văn hóa lớn, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Cổ vũ tinh thần hiếu học: Việc dựng bia Tiến sĩ để vinh danh những người đỗ đạt không chỉ là sự ghi nhận cá nhân mà còn khuyến khích truyền thống hiếu học trong toàn dân.
- Xác lập vị thế Nho giáo: Đây là nơi thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết, khẳng định vai trò chủ đạo của Nho giáo trong đời sống chính trị và tinh thần của văn minh Đại Việt.
- Biểu tượng văn hiến: Cho đến nay, công trình này vẫn là minh chứng hùng hồn cho bề dày lịch sử văn hóa và truyền thống "tôn sư trọng đạo"của người Việt.
Câu 2:Văn Miếu - Quốc Tử Giám giữ vai trò là biểu tượng trí tuệ và văn hóa của cả dân tộc:
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt Nền giáo dục Đại Việt phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là từ thời Lý và đạt cực thịnh vào thời Lê sơ. Các thành tựu chính bao gồm: Hệ thống trường học: Năm 1070, nhà Lý xây dựng Văn Miếu. Năm 1076, xây dựng Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Thời Lê sơ, hệ thống giáo dục được mở rộng xuống tận các cấp huyện, xã (trường công) bên cạnh các lớp học tư của các thầy đồ. Chế độ thi cử (Khoa cử): Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075 (thời Lý). Thời Trần và Lê sơ, thi cử trở thành phương thức chính để tuyển chọn quan lại, đảm bảo tính công bằng và tìm kiếm người tài. Nhiều học vị được xác lập: Thái học sinh, Tiến sĩ, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Vinh danh người tài: Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu để vinh danh những người đỗ đạt, khuyến khích tinh thần hiếu học của nhân dân. Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt Văn Miếu - Quốc Tử Giám đóng vai trò là "linh hồn" của nền giáo dục và văn hóa Đại Việt: Trung tâm đào tạo nhân tài: Là nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, đại thần và những nhà văn hóa lớn cho đất nước trong suốt nhiều thế kỷ. Biểu tượng của Nho học: Khẳng định vị thế của Nho giáo trong việc tổ chức quản lý nhà nước và xây dựng đạo đức xã hội. Thúc đẩy truyền thống hiếu học: Việc dựng bia Tiến sĩ và tổ chức dạy học tại đây đã tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong nhân dân, hình thành truyền thống "tôn sư trọng đạo". Giá trị di sản: Đây là minh chứng hùng hồn cho sự phát triển rực rỡ của văn minh Đại Việt, là cầu nối văn hóa giữa Việt Nam và thế giới cho đến ngày nay.
Câu1
Hệ thống trường học: Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu. Năm 1076, xây dựng Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau đó, hệ thống trường công và trường tư mở rộng xuống tận các làng xã.
Chế độ thi cử: Năm 1075, khoa thi đầu tiên được tổ chức để tuyển chọn nhân tài. Từ thời Lê sơ, thi cử trở thành phương thức tuyển chọn quan lại chính quy và công bằng nhất (với các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình).
Lập bia Tiến sĩ: Để tôn vinh những người đỗ đạt, từ năm 1484 (thời Lê Thánh Tông), nhà nước bắt đầu cho dựng bia đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám ghi danh các Tiến sĩ.
Nội dung giáo dục: Chủ yếu là Nho giáo (Tứ thư, Ngũ kinh), giúp đào tạo đội ngũ trí thức và quan lại có đạo đức, lòng tự tôn dân tộc.
Câu 2
Đào tạo nhân tài: Là trung tâm giáo dục cao cấp nhất, nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, đại thần và danh nhân văn hóa cho đất nước (như Chu Văn An, Lương Thế Vinh...).
Thúc đẩy truyền thống hiếu học: Việc tôn vinh các bậc hiền tài tại đây đã tạo động lực cho nhân dân thi đua học tập, hình thành truyền thống "tôn sư trọng đạo" và "hiếu học" của dân tộc.
Gìn giữ và phát triển văn hóa: Đây là nơi lưu giữ các giá trị tư tưởng, đạo đức của Nho giáo đã được "Việt hóa", góp phần khẳng định nền văn hiến lâu đời của quốc gia độc lập.
Biểu tượng tri thức: Đến nay, đây vẫn là biểu tượng của tinh thần trí tuệ và là di sản văn hóa quý giá, khẳng định tầm vóc của nền văn minh Đại Việt.
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt Hình thành và phát triển nền giáo dục Nho học: Lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng. Xây dựng hệ thống trường học: Từ trung ương đến địa phương, tiêu biểu là Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Phát triển chế độ khoa cử: Tổ chức thi Hương, thi Hội, thi Đình để tuyển chọn nhân tài. Đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước: Nhiều người đỗ đạt cao, phục vụ triều đình. Đề cao việc học, truyền thống hiếu học: Trở thành nét đẹp văn hóa của xã hội Đại Việt. Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt Là trung tâm giáo dục cao cấp đầu tiên của nước ta, đào tạo nhân tài cho quốc gia. Thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và khoa cử, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước. Tôn vinh hiền tài, khuyến khích việc học (bia tiến sĩ ghi danh người đỗ đạt). Góp phần xây dựng truyền thống hiếu học của dân tộc. Là biểu tượng văn hóa – giáo dục tiêu biểu của Đại Việt, còn có giá trị đến ngày nay.
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt
Giáo dục Đại Việt phát triển rực rỡ và trở thành quốc sách để đào tạo nhân tài:
• Sự ra đời của các cơ sở giáo dục: Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu. Năm 1076, Quốc Tử Giám được thành lập, đánh dấu sự ra đời của trường đại học đầu tiên tại Việt Nam.
• Hệ thống khoa cử: Bắt đầu từ năm 1075 (thời Lý), các kỳ thi tuyển chọn nhân tài được tổ chức thường xuyên. Đến thời Lê sơ, giáo dục Nho học đạt đến đỉnh cao với hệ thống thi cử 3 cấp (Hương - Hội - Đình) cực kỳ chặt chẽ.
• Chính sách khuyến học: Nhà nước ban hành nhiều chính sách như: Ban cấp học điền (ruộng đất cho trường học), tặng thưởng Mũ áo - Vinh quy bái tổ, và đặc biệt là việc Dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu (từ năm 1484) để tôn vinh người đỗ đạt.
• Nội dung giáo dục: Chủ yếu là Nho giáo, hướng tới việc đào tạo mẫu người quân tử có đạo đức và kiến thức để trị quốc an dân.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt
Văn Miếu - Quốc Tử Giám đóng vai trò là "trái tim" của nền giáo dục và trí tuệ Đại Việt:
• Đào tạo nhân tài cho đất nước: Đây là nơi rèn luyện hàng ngàn học giả, quan lại cấp cao và các danh nhân văn hóa, đóng góp trực tiếp vào công cuộc xây dựng và quản lý nhà nước qua các triều đại.
• Trung tâm truyền bá văn hóa - tư tưởng: Đóng vai trò then chốt trong việc khẳng định vị thế của Nho giáo, góp phần xây dựng chuẩn mực đạo đức, lễ nghĩa và duy trì trật tự xã hội.
• Biểu tượng của tinh thần hiếu học: Sự tồn tại của Văn Miếu và những tấm bia Tiến sĩ là minh chứng cho truyền thống tôn sư trọng đạo, quý trọng hiền tài của dân tộc, tạo động lực cho các thế hệ học trò phấn đấu.
• Khẳng định trình độ văn minh: Việc có một hệ thống giáo dục đại học chính quy từ rất sớm giúp Đại Việt khẳng định vị thế là một quốc gia có nền văn hiến lâu đời, độc lập và tự cường so với các nước trong khu vực.
Câu 1:
Giáo dục Đại Việt phát triển rực rỡ, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng bộ máy nhà nước và bồi dưỡng nhân tài. Các thành tựu tiêu biểu bao gồm:
Hệ thống trường học: Nhà nước bắt đầu chú trọng xây dựng hệ thống giáo dục từ thời Lý, Trần và đạt đến đỉnh cao vào thời Lê Sơ. Các cơ sở như Quốc Tử Giám (trường đại học đầu tiên) và hệ thống trường công ở các lộ, phủ, huyện được mở rộng. Chế độ thi cử (Khoa cử): Đây là phương thức chính để tuyển chọn quan lại. Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 (thời Lý). Đến thời Lê Sơ, thi cử trở thành nề nếp với ba cấp: Thi Hương, thi Hội, thi Đình. Nội dung và mục đích: Nền giáo dục chủ yếu dựa trên Nho giáo, hướng tới việc đào tạo những người có đạo đức, lòng trung thành và năng lực quản lý đất nước. Vinh danh nhân tài: Việc lập Bia Tiến sĩ (từ năm 1484) tại Văn Miếu để khắc tên những người đỗ đạt đã khuyến khích tinh thần hiếu học trong toàn dân.
Câu 2: Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Đại Việt, có những tác động sâu sắc sau:
Trung tâm đào tạo nhân tài lớn nhất: Là nơi đào tạo hàng ngàn trí thức, đại thần cho bộ máy nhà nước qua nhiều triều đại, góp phần giữ vững sự ổn định và phát triển của quốc gia. Nơi hội tụ và lan tỏa giá trị Nho giáo: Góp phần quan trọng trong việc định hình chuẩn mực đạo đức, tư tưởng và lối sống của tầng lớp trí thức cũng như người dân thời bấy giờ. Thúc đẩy truyền thống hiếu học: Sự tồn tại của Quốc Tử Giám và việc tôn vinh những người đỗ đạt đã tạo ra một luồng sinh khí học tập mạnh mẽ trong xã hội, hình thành truyền thống "tôn sư trọng đạo" và trọng dụng nhân tài của người Việt. Di sản văn hóa và lịch sử: Văn Miếu - Quốc Tử Giám là minh chứng sống động cho trình độ văn minh của Đại Việt, khẳng định với các quốc gia lân cận rằng Việt Nam là một quốc gia có nền văn hiến lâu đời.
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt:
- Xây dựng hệ thống trường học từ trung ương đến địa phương, tiêu biểu là Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
- Tổ chức thi cử chặt chẽ (thi Hương, thi Hội, thi Đình) để tuyển chọn nhân tài.
- Đào tạo được nhiều trí thức, quan lại có tài cho đất nước.
- Đề cao Nho học, coi trọng việc học và thi cử.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu – Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt:
- Là trung tâm giáo dục cao nhất, đào tạo nhân tài cho quốc gia.
- Góp phần phát triển nền giáo dục và khoa cử.
- Thể hiện truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc.
- Là biểu tượng của nền văn hiến lâu đời của Đại Việt
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt
Câu 2: Tác động của Văn Miếu – Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt
- Xây dựng hệ thống trường học:
- Năm 1070, nhà Lý xây dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết Nho giáo.
- Năm 1076, Quốc Tử Giám được thành lập, đánh dấu sự ra đời của trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
- Thời Lê sơ, hệ thống giáo dục phát triển đến đỉnh cao khi các trường học công lập được mở rộng xuống tận cấp huyện, xã.
- Hoàn thiện chế độ thi cử (Khoa cử):
- Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông.
- Từ thời Trần và đặc biệt là thời Lê sơ, thi cử trở thành phương thức chính quy và quan trọng nhất để tuyển chọn nhân tài cho bộ máy nhà nước.
- Vinh danh người tài:
- Xác lập các học vị cao quý như Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và Tiến sĩ.
- Từ năm 1484, nhà Lê sơ bắt đầu cho dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu để ghi danh những người đỗ đạt, nhằm khuyến khích tinh thần hiếu học.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt Văn Miếu - Quốc Tử Giám đóng vai trò là "cái nôi" của nền giáo dục và có tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn minh Đại Việt:Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt
-Xây dựng hệ thống trường học
-Thiết lập chế độ khoa cử
-Chính sách khuyến học
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt
Trung tâm đào tạo nhân tài: Là nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, quan lại và những danh nhân văn hóa lớn (như Chu Văn An), đóng góp trực tiếp vào việc quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.
Xác lập vị thế của Nho học: Góp phần đưa Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, tạo ra sự thống nhất về văn hóa, đạo đức và lễ nghi trong đời sống người dân Đại Việt.
Lưu giữ và tôn vinh tinh thần hiếu học: Việc dựng bia Tiến sĩ không chỉ ghi danh người đỗ đạt mà còn là lời nhắc nhở "hiền tài là nguyên khí của quốc gia", tạo động lực học tập cho các thế hệ học trò.
Biểu tượng văn hóa bền vững: Di tích này khẳng định bản sắc văn hiến lâu đời của dân tộc, là cầu nối giao lưu văn hóa và thể hiện ý thức tự chủ, tự cường của người Việt so với các nền văn minh khác.
Câu 1 - Về hệ thống giáo dục:
+ Năm 1070, nhà Lý cho dựng Văn Miếu, tạc tượng Chu Công, Khổng Tử. Năm 1075, triều đình mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn nhân tài, Năm 1076, vua Lý cho mở Quốc Tử Giám để dạy học cho hoàng tử, công chúa.
+ Từ thời Trần, triều đình lập Quốc học viện cho con em quan lại học tập. Các lớp học tư nhân ở các làng xã cũng được mở ra.
+ Từ thời Lê sơ, hệ thống trường học mở rộng trên cả nước; nhà nước tăng cường khuyến khích nhân dân học tập, tiêu biểu như việc ban Chiểu khuyến học thời Tây Sơn.
- Về phương thức thi cử, tuyển chọn quan lại:
+ Nhà nước chính quy hoá việc thi cử để tuyển chọn người tài
+ Thể lệ thi cử được quy định chặt chẽ, các kì thi được tổ chức chính quy, hệ thống (thi Hương, thi Hội, thi Đình)
Câu 2.
- Văn Miếu thời nhà Lý được xây dựng năm 1070, dưới triều vua Lý Thánh Tông để thờ Khổng Tử và Chu Công.
- Đến năm 1076, thời vua Lý Nhân Tông, Văn Miếu trở thành Quốc Tử Giám, là nơi dạy học cho hoàng tử, công chúa và trở thành trường đại học đầu tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam.
- Đến thời Lê sơ năm 1484, triều đình đặt lệ xuởng danh và khắc tên các tiến si vào bia đá ở Văn Miếu.
Câu1
Giáo dục Đại Việt phát triển mạnh mẽ qua các giai đoạn, nổi bật với các thành tựu sau:Câu 1:
Hệ thống giáo dục: xây dựng trường học từ Trung ương đến địa phương
Khoa cử ': tổ chức thi cử đều, để chọn nhân tài không phân biệt dòng dõi
Ý thức dân tộc: giáo dục truyền thống yêu nước
Câu 2
Là trung tâm giáo dục, đào tạo nhân tài và biểu tượng văn hóa nhỏ giáo cao nhất của văn minh Đại Việt
câu 1. Thành tựu giáo dục
• Cơ sở: Lập Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076) — đại học đầu tiên.
• Thi cử: Tổ chức khoa thi đầu tiên năm 1075; chuẩn hóa hệ thống Thi Hương - Hội - Đình.
• Tôn vinh: Tổ chức vinh quy bái tổ và dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu.
câu 2. Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám
• Nhân tài: Đào tạo tầng lớp trí thức, quan lại nòng cốt cho đất nước.
• Văn hóa: Biểu tượng của truyền thống hiếu học và nền văn hiến Đại Việt.
• Tư tưởng: Truyền bá Nho giáo, khẳng định triết lý "Hiền tài là nguyên khí quốc gia".
- Hệ thống trường học: Nhà nước bắt đầu chú trọng giáo dục từ thời Lý với việc xây dựng Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076). Đến thời Lê sơ, hệ thống trường công (trường phủ, huyện) và trường tư (tại các làng xã) phát triển mạnh mẽ khắp cả nước.
- Chế độ khoa cử: Tổ chức các kỳ thi đều đặn để tuyển chọn nhân tài (khoa thi đầu tiên năm 1075). Thời Lê sơ là giai đoạn thịnh vượng nhất của khoa cử với quy chế thi cử chặt chẽ qua 3 kỳ: thi Hương, thi Hội và thi Đình.
- Tôn vinh hiền tài: Nhà nước thực hiện các chính sách khuyến khích học tập như ban mũ áo, tổ chức lễ xướng danh, vinh quy bái tổ và đặc biệt là việc dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu để lưu danh muôn đời.
- Nội dung đào tạo: Chủ yếu là Nho học, góp phần xây dựng đội ngũ quan lại có đạo đức, trí tuệ và lòng trung thành để quản lý đất nước.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng tinh thần của dân tộc:Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt:
_ Nền giáo dục Đại Việt đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, khẳng định truyền thống hiếu học của dân tộc:
+) Hệ thống trường học: Năm 1070, nhà Lý xây dựng Văn Miếu. Năm 1076, thành lập Quốc Tử Giám - được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
+) Hệ thống giáo dục phát triển từ trung ương đến địa phương (phủ, lộ, xã) và cả các lớp học tư của các thầy đồ.
+) Chế độ khoa cử: Bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm 1075 dưới thời Lý, chế độ thi cử được hoàn thiện qua các triều đại (Trần, Lê sơ, Nguyễn) để tuyển chọn nhân tài. Đặc biệt thời Lê sơ, giáo dục Nho học phát triển cực thịnh.
+) Chính sách khuyến học: Nhà nước có nhiều biện pháp tôn vinh người tài như: vinh quy bái tổ, ban yến tiệc và đặc biệt là việc dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu (bắt đầu từ năm 1484) để lưu danh hậu thế.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn có tác động sâu sắc đến sự phát triển của đất nước:
+)Trung tâm đào tạo nhân tài: Đây là nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, đại thần và các nhà văn hóa lớn, đóng góp trực tiếp vào công cuộc xây dựng và quản lý bộ máy nhà nước qua nhiều thế kỷ.
+) Biểu tượng của tinh thần hiếu học: Là minh chứng rõ nét nhất cho truyền thống tôn sư trọng đạo và coi trọng hiền tài là "nguyên khí của quốc gia".
+) Lan tỏa văn hóa Nho giáo: Góp phần quan trọng trong việc phổ biến tư tưởng Nho học, tạo nên nền tảng đạo đức, lễ giáo và các giá trị chuẩn mực xã hội cho văn minh Đại Việt.
+) Di sản văn hóa: Ngày nay, đây là di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt, nơi lưu giữ 82 bia Tiến sĩ (Di sản tư liệu thế giới), là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.
Câu1:
Thành tựu tiêu biểu về giáo dục của Đại Việt:
- Hệ thống trường học: Thiết lập hệ thống giáo dục quy củ từ trung ương (Văn Miếu, Quốc Tử Giám) đến các địa phương.
- Chế độ khoa cử: Áp dụng hình thức thi cử công bằng (thi Hương, Hội, Đình) để tuyển chọn nhân tài dựa trên năng lực, không phân biệt dòng dõi.
- Giá trị cốt lõi: Kết hợp Nho giáo với tư tưởng dân tộc, đào tạo ra tầng lớp trí thức có đạo đức, tinh thần yêu nước và duy trì truyền thống hiếu học sâu sắc.
Câu2:
Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám
- Biểu tượng quyền lực trí tuệ: Khẳng định chính sách trọng dụng nhân tài và coi trọng giáo dục của nhà nước phong kiến.
- Cơ sở đào tạo nhân tài: Là "cái nôi" đào tạo đội ngũ quan lại, trí thức giỏi – những "rường cột" phục vụ cho bộ máy nhà nước và sự phát triển quốc gia.
- Giá trị văn hóa - lịch sử: Lưu giữ lịch sử thông qua hệ thống bia Tiến sĩ và là hạt nhân lan tỏa tinh thần "tôn sư trọng đạo", thúc đẩy phong trào học tập trong nhân dân.
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt -Nhà nước rất coi trọng giáo dục, đặc biệt là Nho học. -Hệ thống trường học được xây dựng, tiêu biểu là Văn Miếu – Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam. -Chế độ thi cử (thi Hương, thi Hội, thi Đình) được tổ chức chặt chẽ để tuyển chọn nhân tài. -Đào tạo được nhiều trí thức, quan lại có tài, góp phần xây dựng đất nước. -Khắc bia tiến sĩ để tôn vinh người đỗ đạt → khuyến khích học tập. Câu 2: Văn Miếu – Quốc Tử Giám có tác động đối với văn minh Đại Việt là: -Là trung tâm giáo dục lớn nhất, đào tạo nhân tài cho đất nước. -Thể hiện truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc. -Góp phần phát triển văn hóa, khoa cử và bộ máy nhà nước. -Trở thành biểu tượng của nền giáo dục và văn hiến Đại Việt.
Câu 1: Thành tựu tiêu biểu về giáo dục
- Xây dựng hệ thống trường học : Lập Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076) - trường đại học đầu tiên.
- Hoàn thiện khoa cử : Tổ chức kỳ thi đầu tiên (1075); định ra lệ thi Hương, thi Hội, thi Đình để tuyển chọn nhân tài.
- Tôn vinh người học : Dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu để khuyến học.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám
- Đào tạo nhân tài : Là trung tâm giáo dục lớn nhất, đào tạo đội ngũ trí thức và quan lại cốt cán cho đất nước.
- Biểu tượng văn hóa : Trở thành biểu tượng cho tinh thần hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc.
- Lưu giữ lịch sử : Gìn giữ các giá trị tư tưởng và vinh danh những người có công với nền học vấn nước nhà.
Câu 1:
Giáo dục thời Đại Việt đạt nhiều thành tựu:
Câu 2:
Văn Miếu – Quốc Tử Giám:
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt
- Hình thành nền giáo dục Nho học khá hoàn chỉnh.
- Tổ chức thi cử chặt chẽ (thi Hương, thi Hội, thi Đình) để tuyển chọn nhân tài.
- Xây dựng nhiều trường học, tiêu biểu là Văn Miếu – Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của nước ta.
- Đào tạo được nhiều nhân tài, trí thức phục vụ đất nước.
- Đề cao truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu – Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt
- Là trung tâm giáo dục cao nhất, đào tạo nhiều nhân tài cho triều đình.
- Góp phần phát triển nền giáo dục và khoa cử của đất nước.
- Thúc đẩy truyền thống hiếu học, khuyến khích người dân học tập.
- Là biểu tượng của văn hóa, trí tuệ và tinh thần tôn sư trọng đạo của dân tộc.
Câu 1: Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt
Nền giáo dục Đại Việt đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của dân tộc:
Hệ thống trường học:
Năm 1070, nhà Lý xây dựng Văn Miếu. Năm 1076, xây dựng Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Từ thời Lê sơ, hệ thống trường công (trường phủ, huyện) và trường tư (tại các làng xã) phát triển mạnh mẽ khắp cả nước.
Chế độ thi cử:
Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 dưới thời vua Lý Nhân Tông.
Đến thời Trần và đặc biệt là thời Lê sơ, thi cử trở thành phương thức chính để tuyển chọn nhân tài với ba kỳ thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình.
Nội dung giáo dục: Chủ yếu là Nho giáo (Tứ thư, Ngũ kinh) nhằm đào tạo những con người có đạo đức, lòng trung quân ái quốc và năng lượng quản lý đất nước.
Vinh danh người tài: Nhà nước thực hiện lễ xướng danh, lễ ban mũ áo, tổ chức lễ vinh quy bái tổ và đặc biệt là dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu để tôn vinh những người đỗ đạt cao.
Câu 2: Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt
Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng rạng ngời của văn hiến Đại Việt:
Trung tâm đào tạo nhân tài: Đây là nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, quan lại và những bậc hiền tài cho đất nước. Những danh nhân như Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên... đều từng học tập hoặc giảng dạy tại đây.
Xác lập vị thế của tri thức: Việc duy trì và phát triển Quốc Tử Giám khẳng định quan điểm "Hiền tài là nguyên khí quốc gia", khuyến khích tinh thần hiếu học trong toàn dân.
Phổ biến và củng cố Nho giáo: Là nơi thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết, công trình này đóng vai trò then chốt trong việc đưa Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, giúp ổn định trật tự xã hội và bộ máy nhà nước.
Lưu giữ giá trị lịch sử và văn hóa: Hệ thống 82 bia Tiến sĩ còn lưu lại đến ngày nay là một "kho sử đá" vô giá, ghi lại lịch sử giáo dục, khoa cử và danh tính của các bậc tiền bối, được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới.
Câu 1:
Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của văn minh Đại Việt
Nền giáo dục Đại Việt đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của dân tộc:
Hệ thống trường học:
Năm 1070, nhà Lý xây dựng Văn Miếu. Năm 1076, xây dựng Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Từ thời Lê sơ, hệ thống trường công (trường phủ, huyện) và trường tư (tại các làng xã) phát triển mạnh mẽ khắp cả nước.
Chế độ thi cử:
Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 dưới thời vua Lý Nhân Tông.
Đến thời Trần và đặc biệt là thời Lê sơ, thi cử trở thành phương thức chính để tuyển chọn nhân tài với ba kỳ thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình.
Nội dung giáo dục: Chủ yếu là Nho giáo (Tứ thư, Ngũ kinh) nhằm đào tạo những con người có đạo đức, lòng trung quân ái quốc và năng lượng quản lý đất nước.
Vinh danh người tài: Nhà nước thực hiện lễ xướng danh, lễ ban mũ áo, tổ chức lễ vinh quy bái tổ và đặc biệt là dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu để tôn vinh những người đỗ đạt cao.
Câu 2:
Tác động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám đối với văn minh Đại Việt
Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng rạng ngời của văn hiến Đại Việt:
Trung tâm đào tạo nhân tài: Đây là nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, quan lại và những bậc hiền tài cho đất nước. Những danh nhân như Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên... đều từng học tập hoặc giảng dạy tại đây.
Xác lập vị thế của tri thức: Việc duy trì và phát triển Quốc Tử Giám khẳng định quan điểm "Hiền tài là nguyên khí quốc gia", khuyến khích tinh thần hiếu học trong toàn dân.
Phổ biến và củng cố Nho giáo: Là nơi thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết, công trình này đóng vai trò then chốt trong việc đưa Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, giúp ổn định trật tự xã hội và bộ máy nhà nước.
Lưu giữ giá trị lịch sử và văn hóa: Hệ thống 82 bia Tiến sĩ còn lưu lại đến ngày nay là một "kho sử đá" vô giá, ghi lại lịch sử giáo dục, khoa cử và danh tính của các bậc tiền bối, được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới.