K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

5 tháng 10 2023

1. 

Nhan đề “Tràng giang” là từ Hán Việt hay có nghĩa là một con sông dài vô tận. Từ Tràng giang còn gợi cho người đọc một cảm giác về chiều cảm nhận được mở rộng trong không gian và thời gian. Nhờ vậy, hình ảnh con sông trong bài thơ mới hiện lên một cách rộng lớn, mênh mông hơn. 

 Nhan đề và lời đề từ đã giúp người đọchiểu ngay được nội dung của tác phẩm ngay từ những dòng đầu tiên và nó giúp cho việc đọc, hiểu văn bản trở lên dễ dàng hơn bao giờ hết. 

2. Bài thơ Tràng Giang được cấu tứ trong một không gian sóng đôi. Không chỉ là dòng Tràng giang thực tế chảy dài trong tự nhiên mà còn là dòng sóng dập dìu trong tâm hồn tác giả. Với ý nghĩa là dòng sông thực tế trong tự nhiên, tác giả đã sử dụng hình ảnh nước trong tất cả các khổ thơ cả trực tiếp lẫn gián tiếp

5 tháng 10 2023

Câu 1: Cảm nhận về nhan đề của bài thơ: gợi ra hình ảnh một dòng sông chảy dài, mang lại nỗi buồnm, cảm gác man mác khó tả

Nhan đề và lời đề từ thể hiện rất rõ những dòng cảm xúc và cảm hứng chủ đạo của bài thơ, đồng thời hé mở những trăn trở và suy nghĩ miên man của tác giả về những kiếp người, kiếp đời nhỏ bé 

Câu 2: ài thơ được cấu tứ theo cấu trúc không gian sóng đôi. Bởi không gian được mô tả trong bài thơ không chỉ là những cảnh vật thực tế được tác giả quan sát mà còn ẩn dụ cho không gian trong tâm trí của nhà thơ, miên man trăn trở đầy những suy ngẫm 

5 tháng 10 2023

Câu 1 : 

- Nhan đề " Tràng Giang " với âm từ Hán Việt có nghĩa là sông dài. Cách dùng vần gợi về cảnh sông nước bao la, đồng thời gợi âm hưởng chung của bài thơ đó là buồn 

- Nhan đề và lời đề đều gợi ra được cảm xúc chung của toàn bài thơ, đồng thời cũng cho người đọc mường tượng được không gian, cảm xúc, hình ảnh của bài thơ và còn là những trăn trở, những gửi ngắm của tác giả 

  Câu 2 

- Bài thơ được cấu tứ trên nên cảm hững không gian sóng đôi. " Tràng giang " không chỉ là hình ảnh thiên nhiên trong không gian hữu hình mà còn là ẩn dụ cho không gian vô hình là tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật.

5 tháng 10 2023

Câu 1

- "Tràng giang" là cách đọc chệch âm của "Trường giang" nghĩa là sông dài. Tuy nhiên, nhà thơ Huy Cận đã không lựa chọn lối biểu đạt thông thường mà cách tân âm đọc thành Tràng giang để truyền tải nhiều hơn những ý nghĩa, tư tưởng cũng như cảm xúc chủ đạo của bài thơ.

- Nhan đề "Tràng giang" bên cạnh gợi ý nghĩa về một con sông dài thì còn mở rộng chiều kích cảm nhận cho người đọc cả về chiều rộng, nhờ vậy mà con sông xuất hiện trong bài thơ trở lên dài, rộng, mênh mông hơn. "Tràng giang" còn gợi ra một nỗi buồn mênh mang của con người khi đứng trước dòng sông.

- Nhan đề đã giúp người đọc thấy dòng cảm xúc chủ đạo của bài thơ, đồng thời hé mở tâm trạng của nhà thơ về kiếp người nhỏ bé.


Câu 2
Bài thơ "Tràng Giang không chỉ mô tả không gian, cảnh vật thực tế được tác giả quan sát mà còn có cả tâm trạng, suy tư của nhà thơ. Vậy nên có thể khẳng định rằng bài thơ "Tràng giang" đã được cấu tứ theo cấu trúc không gian sóng đôi.

5 tháng 10 2023

Câu 1
- "Trường giang" nghĩa là sông dài. Nhà thơ Huy Cận đã không lựa chọn lối biểu đạt thông thường mà cách tân âm đọc thành "Tràng giang" để truyền tải nhiều hơn những ý nghĩa, tư tưởng cũng như cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Nhan đề "Tràng giang" bên cạnh gợi ý nghĩa về một con sông dài thì còn mở rộng cảm nhận cho người đọc cả về chiều rộng, nhờ vậy mà con sông xuất hiện trong bài thơ trở lên dài, rộng, mênh mông hơn. "Tràng giang" còn gợi ra một nỗi buồn mênh mang của con người khi đứng trước dòng sông.

- Nhan đề đã giúp người đọc thấy dòng cảm xúc chủ đạo của bài thơ, đồng thời hé mở tâm trạng của nhà thơ về kiếp người nhỏ bé.


Câu 2
Bài thơ "Tràng giang" không chỉ mô tả không gian, cảnh vật thực tế được tác giả quan sát mà còn có cả tâm trạng, suy tư của nhà thơ. Bài thơ "Tràng giang" đã được cấu tứ theo cấu trúc không gian sóng đôi.

5 tháng 10 2023

Câu 1
- "Tràng giang" là cách đọc chệch âm của "Trường giang", nghĩa là sông dài. Nhà thơ Huy Cận đã không lựa chọn  đọc thành "Tràng giang "để truyền tải nhiều hơn những ý nghĩa, tư tưởng cũng như cảm xúc chủ đạo của bài thơ.

- Nhan đề "Tràng giang" bên cạnh gợi ý nghĩa về một con sông dài thì còn mở rộng cho người đọc cả về chiều rộng, nhờ vậy mà con sông xuất hiện trong bài thơ trở lên dài, rộng, mênh mông hơn. "Tràng giang" còn gợi ra một nỗi buồn mênh mang của con người khi đứng trước dòng sông.

- Nhan đề đã giúp người đọc thấy dòng cảm xúc chủ đạo của bài thơ, đồng thời hé mở tâm trạng của nhà thơ về kiếp người, kiếp đời nhỏ bé.


Câu 2
Bài thơ "Tràng giang" đã được cấu tứ theo cấu trúc không gian sóng đôi bởi không chỉ mô tả không gian, cảnh vật thực tế được tác giả quan sát mà còn có cả tâm trạng, suy tư của nhà thơ.

5 tháng 10 2023

1.

- Nhan đề bài thơ: “Tràng Giang” – âm từ Hán Việt có nghĩa là sông dài, đây còn là cách đọc chệch âm nhằm tránh sự nhầm lẫn với tên con sông Trường Giang. Nhan đề gợi lên hình ảnh mênh mông của sông nước, không gian bao la kéo dài vô tận cả về chiều rộng hay chiều ngang của đất trời. Sự oha trộn giữa những yếu tố cổ điện và hiện đại trong nhan đề đã ánh lên vẻ đẹp trang trọng gây ấn tượng trong lòng độc giả.

- Nhan đề và đài từ đã góp phần quan trọng giúp người đọc phần nào định hình được nội dung tác phẩm từ những dòng đầu tiên. Từ đó việc đọc hiểu trở nên dễ dàng hơn

2.

Bài thơ “Tràng Giang” được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi – cấu tứ quen thuộc của Đường Thi. Không chỉ là dòng chảy dài trong tự nhiên mà còn là dòng sóng dập dìu trong tâm hồn tác giả.

5 tháng 10 2023

Câu 1: 

- "Tràng Giang"  là từ Hán Việt hay còn có nghĩa là 1 con sông dài vô tận. Nhan đề mang tới cho người đọc về một cảm giác về một không gian rộng mở mang 1 nỗi buồn man mác khó tả

- Nhan đề đã giúp người đọc hiểu hơn về cảm hứng chủ đạo và dòng cảm xúc trong bài thơ đồng thời hé mở suy nghĩ, mường tượng của tác giả về kiếp người nhỏ bé 

Câu 2: 

- bài thơ được cấu tứ theo cấu trúc sóng đôi, không chỉ là dòng sông thực tế trải dài mà còn là không gian bên trong tâm trí của nhà thơ, của nhân vật

 

5 tháng 10 2023

Câu 1:

“Tràng giang” vốn là từ Hán Việt được biến âm từ hai chữ “Trường giang”, mang nghĩa là một con sông dài và lớn. Huy Cận không có ý miêu tả một con sông với chiều dài theo dòng thuỷ triều mà muốn gợi lên một dòng sông mênh mang, vô tận, một dòng sông mang ý vị cổ kính như từ thời tiền sử chảy về – con sông của lịch sử – thi ca – văn hoá. Mặt khác, sự lựa chọn này còn tạo nên sự giao thoa đồng điệu với tâm hồn cô đơn của thi sĩ trước cảnh trời nước mênh mang bởi sự lặp lại của âm “ang” gợi cảm giác dòng sông không chỉ dài mà còn mênh mông bát ngát. Đề từ trong bài thơ này không phải là thứ trang sức nghệ thuật mà nó thường là điểm tựa cho cảm hứng cho ý tưởng của tác giả trong tác phẩm. Bài thơ có lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, câu đề từ như thêm lần nữa vén bức rèm bước qua hành lang mở thông vào cõi vô biên. Với câu đề từ tác giả như muốn mách bảo: con người bâng khuâng, nhung nhớ trước trời rộng, sông dài và cũng là trời rộng bâng khuâng nhớ sông dài. Cái độc đáo của câu thơ này chính là sự giao thoa giữa hai nghĩa ấy. Như vậy, nhan đề và lời đề từ của thi phẩm đã bộc lộ cảm hứng chủ đạo của tác giả.

Câu 2:

- Bài thơ được cấu tứ theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt với nhịp thơ 4/3. Lời thơ miêu tả từ ngoài vào trong, từ xa đến gần gợi cho người đọc về một không gian rộng lớn của vùng sông nước.

- Để xác định được điều đó, đầu tiên em dựa vào số từ trong mỗi dòng thơ, nhịp điệu của mỗi câu thơ, từ kết thúc của mỗi dòng thơ để xác định thể thơ của bài thơ. Tiếp đến là dựa vào các hình ảnh được sử dụng trong bài thơ: tác giả mở đầu từ hình ảnh con sóng xa xôi rồi tiến vào gần hơn đó là hình ảnh làng quê lúc chiều tà… theo thứ tự như vậy có thể xác định các ý được sắp xếp theo trình tự từ ngoài vào trong, từ xa đến gần.

6 tháng 10 2023

1. Nhan đề “Tràng Giang” gợi lên hình ảnh mênh mông của sông nước, với dòng sông được mở rộng vô tận, tạo ra một không gian rộng lớn và bao la, tạo vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.

Nhan đề và lời đề từ thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ của tác giả, tạo nên khung cảnh để tác giả triển khai toàn bộ cảm hứng của mình.

2. " Tràng Giang " được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi, có một không gian hữu hình ngoiaf thiên nhiên và vô hình trong tâm tưởng về con sông Tràng Giang và đây là cấu tứ quen thuộc trong thơ Đường thi

6 tháng 10 2023

Câu 1: Theo ý hiểu của em, nhan đề bài thơ là một từ Hán Việt, trong đó "tràng" là "dài" còn "giang" là "sông". Các từ Hán Việt được sử dụng ở đây làm tăng thêm phần trang trọng, cổ điển cho bài thơ. Ngoài ra, việc tác giả điệp lại vần "ang" với 2 thanh bằng liên tiếp, gợi ý nghĩa về một con sông dài và rộng, tạo âm hưởng thâm trầm, như thể nghe được nỗi buồn khắc khoải của lòng người. Cuối cùng, nhan đề đã góp phần thể hiện chủ đề của bài thơ.

Câu 2: Bài thơ Tràng Giang được cấu tứ theo thể thơ thất ngôn, mỗi khổ có bốn câu với nhịp thơ 4/3. Để xác định được điều đó, em dựa vào số từ trong một câu thơ và nhịp điệu của câu thơ đó. Ngoài ra, bài thơ cũng được cấu tứ trong không gian sóng đôi. Không gian đó không chỉ là hình ảnh dòng sông thực mà còn là dòng sông trong tâm hồn tác giả. Để xác định được điều đó, em đã đọc và chú ý những từ ngữ mà tác giả đã sử dụng để miêu tả thiên nhiên như “nước” “con nước”….. “bờ xanh” hay “bãi vàng”…..

6 tháng 10 2023

1. Nhan đề

- “Tràng giang” có nghĩa là “sông dài”, là một từ Hán Việt, góp phần tạo ra nét cổ điển, trang trọng cho bài thơ.

- Vần “ang” được điệp lại trong từng tiếng kết hợp với liên tiếp hai thanh bằng tạo âm hưởng ngân vang gợi cái mênh mông, bao la của dòng sông, đưa dư âm thâm trầm vang xa, như nghe được cả những nỗi buồn khắc khoải của lòng người. 

- Góp phần thể hiện chủ đề của bài thơ.

2. Cấu tứ

Tràng giang được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi: Có dòng “tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình và dòng “tràng giang” tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng. Đây vốn là cấu tứ quen thuộc của Đường thi.

6 tháng 10 2023

Câu 1

Nhan đề của bài thơ “Tràng giang” (Nhà thơ Huy Cận) đã gợi cho người đọc những cảm nhận đầu tiên về chủ đề của bài thơ. “Tràng Giang” là từ Hán Việt mang nghĩa là “Con sông dài”, cách dùng từ này vừa tạo ra không khí cổ kính, vừa gợi hình dung lên một khung cảnh mênh mông, bất tận nhưng cũng có phần trống trải. Qua nhan đề và câu đề từ hình ảnh nhan đề còn góp phần thể hiện cảm xúc cô đơn, lạc lõng của vị thi sĩ.

 

Câu 2

Bài thơ được cấu tứ theo cấu trúc sóng đôi. Những câu từ của bài thơ không chỉ miêu tả hình ảnh dòng sông trải dài vô tận mà con qua đó thể hiện tâm trạng trống trải, buồn rầu của tác giả

 
8 tháng 10 2023

Câu 1: 

- Nhan đề được đặt ra nhằm tránh sự nhầm lẫn với tên của một con sông dài "Trường Giang". Tuy nhiên, nó còn gợi lên hình ảnh mênh mông của sông nước, với dòng sông được mở rộng vô tận, tạo ra một không gian rộng lớn và bao la. Sự pha trộn giữa những yếu tố cổ điển và hiện đại trong nhan đề đã tạo nên một ấn tượng khái quát và trang trọng, khiến cho người đọc không thể quên được. 

=> Gợi lên âm hưởng dài, rộng và ngân vang trong lòng người đọc, mà còn giúp ánh sáng lên vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Đồng thời, cũng gợi về nỗi buồn mênh mang của tác giả, và thể hiện được tình yêu quê hương, đất nước.   

- Nhan đề và lời đề từ là một phần không thể thiếu trong việc truyền tải cảm xúc và ý nghĩa của tác phẩm. Cả hai đều gợi lên hình ảnh mênh mông của dòng sông dài. Qua đó, tác giả đã bày tỏ sự bâng khuâng trong tâm hồn trước cảnh vật vĩ đại của quê hương , cũng như khát khao manh mễ về cuộc sống, và thể hiện được tình yêu quê hương, đất nước của Huy Cận

Câu 2: 

- "Tràng Giang" được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi: Có dòng "tràng giang" thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình và dòng "tràng gia" tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng. Trong tư cách dòng sông thiên nhiên, trong các khổ thơ, đều thấy thông điẹp về nước. Còn tư cách dòng sông cảm xúc trong tâm hồn, thì cảnh nào cũng gợi nên nỗi buồn.

 

8 tháng 10 2023

Câu 1: - "Tràng Giang là từ Hán Việt có nghĩa là sông dài, hình ảnh gợi cho độc giả về một khung cảnh sông nước mênh mông, sâu thẳm cũng từ đó ta có thể thấy được chiều sâu của không gian cũng làm gợi lên cái không khí tĩnh lặng và phần nào tâm trạng lạc lõng của nhà thơ.

- Nhan đề và lời đề từ giúp độc giả hiểu được chủ đề cảu bài thơ, tưởng tượng được phần nào khung cảnh mà bài thơ miêu tả cũng như giúp cảm nhận được cảm xúc trong đó.

Câu 2: - Bài thơ đã được cấu tứ theo không gian sóng đôi. Khung cảnh sông nước thực tế xung quanh cũng chính là tâm trạng cũng như suy nghĩ nhà thơ lúc bấy giờ miên man, vô định, lạc lõng và cô đơn.

 

29 tháng 1 2024

- Nhan đề “Tràng giang” với vần “ang” ở hai tiếng gợi ra không gian bất tận, mênh mông cả về chiều dài và chiều rộng của con sông. Vần “ang” kéo dài vô tận như nỗi niềm sầu muộn, suy tư của Huy Cận khi đứng trước sự mênh mông, vô định của dòng sông.

⇒ Nhan đề “Tràng giang” không chỉ góp phần hé mở nội dung bài thơ mà tràng giang còn chứa đựng được bao tâm sự, nỗi niềm thầm kín của Huy Cận về cuộc đời thế sự.

29 tháng 1 2024

- Nhan đề “Nhớ đồng” đã bao quát toàn bộ nội dung cảm xúc của bài thơ. Vì bài thơ là niềm yêu quý thiết tha và nỗi nhớ da diết của nhà thơ với quê hương, đồng bào.

- Từ “đồng” ở đây có thể hiểu là đồng quê, đồng bào.

11 tháng 9 2024

Nhan đề dòng nhớ đc hiệu như nào 

 

29 tháng 1 2024

- Cấu tứ bài thơ và lí do xác định: Tràng giang được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi:

+ Có dòng “tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình

+ Dòng “tràng giang” tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng. Đây vốn là cấu tứ quen thuộc của Đường thi.

- Dựa vào ý nghĩa, tư cách của đối tượng để xác định cấu tứ bài thơ:

+ Tiếp cận “tràng giang” trong tư cách dòng sông thiên nhiên có thể thấy một điều đặc biệt: khổ thơ nào cũng có thông điệp về nước: “nước”, “con nước”, “dòng” ...

+ Tiếp cận Tràng giang với tư cách dòng sông cảm xúc trong tâm hồn: “buồn điệp điệp”, “đìu hiu”; “bến cô liêu” …

7 tháng 4 2020

1/

a. Ý nghĩa câu mở đầu
- Hình thức: câu hỏi tu từ mang nhiều ý nghĩa.
- Chủ thể trữ tình tự phân thân
+ Chữ “anh” nếu hiểu ở ngôi thứ 2 lời của người phương xa (cô gái/ người thôn Vĩ) vừa hỏi, vừa trách cứ, vừa mời mọc đầy duyên dáng nhân vật trữ tình về với thôn Vĩ.
+ Chữ “anh” nếu hiểu ở ngôi thứ 1: nhà thơ tự trách mình đồng thời bộc lộ khao khát được trở về với cảnh cũ, người xưa.
Dù hiểu theo cách nào thì lời chào mời nửa phiền trách ấy cũng là cánh cửa, mở đường cho dòng hồi tưởng của tác giả về với xứ Huế mộng mơ.
b. Điệp từ “Nắng”:
- Như một tiếng ngân khiến không gian tràn đầy ánh sáng. Nắng ở đây là nắng mới, thứ nắng ban mai, tinh khiết đầu tiên trong ngày trên những thân cau còn ướt đẫm sương đêm.
- Điệp từ nắng cùng cụm hình ảnh tiểu đối: nắng hàng cau - nắng mới lên khiến ta cảm giác ánh sáng như đang đầy dần trong khu vườn thôn Vĩ không gian động
c. Cảm nhận tình cảm của nhà thơ với đất và người thôn Vĩ
- 4 câu thơ đã đặc tả vẻ đẹp của phong cảnh và con người xứ Huế sinh động tràn đầy sức sống, cảnh thì đẹp dáng, đẹp màu, người thì đẹp lòng, đẹp nết.
- Lời thơ tha thiết chứa đựng cả 1 tình yêu, 1 niềm khao khát. Có lẽ nhà thơ hiểu rất rõ hoàn cảnh thực tại đầy đau đớn của mình, hiểu rằng cảnh và người thôn Vĩ mãi mãi chỉ là trong mộng mà thôi.
- Tuy nhiên, buồn mà không tuyệt vọng, đau khổ mà vẫn ước mơ, hồn thơ dạt dào sức sống ấy chỉ hồi tưởng 1 cuộc gặp gỡ trong tâm linh mà niềm vui như thấm vào đường nét của cảnh vật, nghe như có tiếng thì thầm reo vui của cuộc hội ngộ đích thực trong hiện tại.

2/ Làm văn:

Đề 1:

Hàn Mặc Tử một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới 1932-1945 với những tác phẩm tiêu biểu. Các nhà thơ đã hòa mình vào thiên nhiên, gắm nhìn cảnh đẹp quê hương đất nước dù ông đang phải trải qua những đau đớn cảu bệnh tật với mong muốn được gắn bó lâu hơn với cuộc sống này. Đó là một tinh thần đáng ngợi ca và tâm trạng ấy đã được khắc họa rõ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ”. Khổ 1 là bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp cùng tâm trạng tiếc nuối của tác giả.

Khổ thơ bắt đầu bằng một câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” câu hỏi vang lên như một lời trách thầm, nhắn nhủ của nhân vật trữ tình trong tâm trạng vời vợi nhớ mong. Câu hỏi đó là của ai mà lại vừa hỏi vừa trách móc vừa nhớ mong nhất định không phải của Hoàng Cúc, không phải của cô gái nào ở thôn Vĩ. Vậy có thể là của ai? Có thể là của Hàn Mặc Tử tác giả đang phân thân để chất vấn chính mình. Câu hỏi đó như xác nhận một sự thật đã lâu rồi tác giả không được về thôn Vĩ hay không biết đến bao giờ có thể trở lại thôn Vĩ một lần nữa. Đó là cái cớ rất giàu chất thơ vừa nhẹ bẫng xót xa để gọi về những kỉ niệm thôn Vĩ. Câu thơ bảy chữ nhưng có tới sáu thanh bằng, thanh trắc duy nhất vút lên cuối câu như một nốt nhấn khiến cho lời thơ nhẹ nhàng mà thấm thía những nỗi niềm tiếc nuối vọng lên da diết khôn nguôi. Từ niêm nhớ thương được khơi nguồn như thế, hình ảnh thôn Vĩ chợt sống dậy trong lòng nhà thơ:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Chỉ ba câu thơ Hàn Mặc Tử đã khắc họa được những nét đực trưng của thiên nhiên xứ Huế. Mỗi câu thơ là một nét vẽ, mỗi chi tiết sống động tạo thành sự khắc họa sống động đẹp đẽ của thôn Vĩ trong hoài niệm.Trước tiên là vẻ đẹp trong trẻo tinh khôi của buổi sớm mai: nắng hàng cau nắng mới lên không phải là cái nắng chang chang dọc bờ sông trắng mà là cái nắng trong trẻo tin khôi của một ngày. Chỉ miêu tả nắng thôi mà đã gợi lên trong lòng người đọc bao nhiêu liên tưởng đẹp. Những cây cau mảnh dẻ vút cao vươn mình đón lấy tia nắng ban mai trong lành ấm áp. Khung cảnh quen thuộc ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ góc sân khoảng trời nào từ miền quê đất Việt thân yêu. Phép luyến láy: nắng hàng cau nắng mới lên làm cho cái nắng như lan tỏa hơn bừng sáng hơn. Điệp từ “nắng” đã vẽ ra một bức tranh ánh nắng trong không gian nắng lan đến đâu vạn vật bừng sáng đến đó từ trên cao tràn xuống thấp và tràn đầy cả khu vườn, thôn Vĩ như được khoác lên một chiếc áo mới thanh tân, tươi tắn.

Đến câu thơ thứ ba là cảnh vườn tược được tắm đẫm trong nắng mai ngời sáng lên như một viên ngọc xang diệu kì: “ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.” Câu thơ như một tiếng reo đầy ngỡ ngàng thích thú, không phải xanh non xanh biếc mà là xanh như ngọc. Còn gì trong sáng và cao quý hơn ngọc. Cảnh giản dị mà thanh khiết cao sang vô cùng. Phải chăng sương đêm đã gột rửa hết những bụi bặm để khoác lên cây lá tấm áo choàng trong suốt lấp lánh khi nắng lên. Chữ “mướt” tác động mạnh mẽ vào giác quan người đọc ấn tượng vẻ mượt mà loáng mướt của khu vườn. Nhưng cái thần của câu thơ lại dồn cả vào chữ “ai” chỉ một chữ mà khiến cho cảnh đang gần gũi bỗng bọ đẩy ra xa, hư thực khó nắm bắt. Âm hưởng nhẹ bẫng của tiếng này khiến hơi thơ như thoáng xuôi về một cõi hư ảo mơ hồ.Với Hàn Mặc Tử lúc này, đó là thế giới ở ngoài kia, của sự sống ngoài kia chứ không phải thế giới của bệnh tật. Và rất tự nhiên theo mạch cảm xúc, nhắc đến “ai” lập tức nhà thơ nhớ đến hình bóng con người:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu thơ kết đoạn là nét cách điệu hóa rất tài tình của Hàn Mặc Tử nhằm ghi lấy hồn Vĩ Dạ. Có lẽ hình ảnh cành trúc đã trở nên quen thuộc khi nhắc đến con người nơi đây, mảnh đất cố đô văn hiến. Con người như hòa vào, như ẩn vào thiên nhiên một vẻ đẹp kín đáo tao nhã. Đó là vẻ đẹp riêng trong mảnh đất cố đô nhưng ngay trong dòng cảm xúc miên man ấy ta đã thấy nỗi buồn man mác xa nỗi thấm vào lòng người. Nhưng cũng có một điều đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử là vừa có ảnh hưởng thơ ca dân gian vừa có sản phẩm của lối thơ sáng tạo hay vẽ khuôn mặt sau hàng liễu được viết lên bởi mặc cảm chia lìa của con người luôn tự nhận mình đứng ngoài cuộc vui.

Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh cảnh và người xứ Huế vừa trần thế vừa trong sáng, tinh khôi trong tâm trí Hàn Mặc Tử. Qua đó có thể thấy ở Hàn Mặc Tử một tình yêu quê, yêu người tha thiết, và cũng vời vợi nỗi nhớ mong của thi sĩ hướng về cảnh và người thôn Vĩ.

Đọc bài thơ mà khơi gợi trong lòng người tình yêu quê hương, yêu thiên nhiên sâu sắc, yêu con người cảnh vật nơi đây. Từ đó mà dạy chúng ta cách giữ gìn và bảo vệ những thứ xung quanh mình.

Đề 2:

Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt đặc sắc của phong trào Thơ mới. Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu cảnh vật, yêu con người nồng nàn, tha thiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là bài mang một tình yêu, khát khao cuộc sống như vậy. Khổ thơ thứ 2 của bài thơ mang đến một hoài niệm và tâm trạng lo âu của thi sĩ.

Mở đầu bài thơ, người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn người thi sĩ. Ta thấy thi sĩ tuy phải sống cuộc đời đầy bi kịch nhưng vẫn khát khao được sống và yêu đời tha thiết.

Khổ thơ thứ hai được mở ra, khiến người đọc cảm nhận được hoài niệm về cảnh sông nước đêm trăng, hòa theo đó là tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ. Cảnh sông nước đêm trăng được gợi ra:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Dòng sông có nhiều cách hiểu, nhưng dù hiểu theo cách nào thì vẫn gợi ý thức về sông Hương-linh hồn của Huế. Cảnh vật được miêu tả rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi đặc điểm riêng của Huế: gió khẽ lay, mây khẽ bay, hoa bắp khẽ đung đưa, chuyển động rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi không gian rất thanh bình, rất Huế. Cảnh vật đượm buồn: buồn thiu, buồn sâu lắng, buồn nhuốm vào không gian, cảnh vật, thường là nỗi buồn từ thế giới bên ngoài tác động. Câu thơ như dài ra, căng ra, khiến nỗi buồn như dằng dặc. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật “nhân hóa”, dòng sông đã trở thành một sinh thể, có tâm trạng, có hồn, mang nỗi niềm của con người. Cảnh vật như nhuốm màu chia ly “Gió theo lối gió mây đường mây”. Câu thơ tách nhịp 4/3 chia làm hai nửa: một gió một mây. Từ “gió” được điệp lại ở vế một, đóng khung một thế giới đầy gió, chỉ có gió, chỉ riêng gió. Từ “mây” điệp ở vế hai, tạo nên một thế giới mây khép kín chỉ có mây. Vậy là hai sự vật vốn dĩ chỉ đi liền với nhau thì nay tác biệt và chia lìa. Gió đóng khung trong gió, mây khép kín trong mây. Câu thơ mang đến một hiện thực phi lý về hiện thực khách quan, nhưng rất có lý về hiện thực tâm trạng. Thi sĩ đang sống trong cảnh chia ly, cách biệt, sống trong cảnh đời đầy nghịch lý cho nên gió cứ gió, mây cứ mây. Từ “lay” mang một nỗi buồn trong ca dao, chỉ hoạt động rất nhẹ của sự vật hiện tượng khi có gió nhẹ. Nó mang nỗi buồn truyền thống của ca dao, thổi vào nỗi buồn muôn thủa của con người.

Hai câu thơ sau, ta nhận ra được tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Cảnh vật được gợi ra một cách lung linh, huyền ảo, tràn ngập ánh trăng, mang ý nghĩa vừa thực vừa ảo. “Sông trăng” có thể hiểu là dòng sông tràn ngập ánh trăng, cũng có thể là trăng tuôn chảy thành dòng. “Thuyền trăng” là con thuyền chở đầy trăng, cũng có thể hiểu là trăng giống như hình ảnh một con thuyền. Dù hiểu theo cách nào thì trăng đã tràn ngập cả không gian, vừa thực vừa ảo, tạo nên một cảm giác mơ hồ. Trong thơ của Hàn Mặc Tử có cả một miền trăng, để có một thế giới tri âm, chất chứa tâm sự, giải tỏa những niềm đau, trăng đối với Hàn Mặc Tử là một người bạn tri âm. “Thuyền ai” lại gợi ra một danh từ phiếm chỉ. Hai câu thơ chứa đựng cả những hình ảnh mâu thuẫn. Câu dưới không có trăng, ý thơ phi lý về hiện thực nhưng chúng ta có thể lí giải được khi dựa vào tâm trạng của chủ thể trữ tình. Trăng lúc có lúc không, mong manh và mờ ảo, người tri kỉ cũng mờ ảo và mong manh nên lo âu, phấp phỏng là thế. Chờ trăng là chờ sự tri âm, chờ sự đồng điệu, chờ sự sẻ chia và chờ được khát khao, giao cảm với đời, là một con người bình thường mong muốn sự giao cảm. Từ “kịp” thể hiện một tâm trang lo âu của nhà thơ, tâm trạng đợi chờ, khao khát. Qua đó thể hiện được quỹ thời gian sống đang bị vơi cạn đi từng ngày, cuộc chia lìa vĩnh viễn có thể đến...

1 tháng 2 2024

- Hình ảnh thơ đối lập giữa quá khứ và hiện tại: Tây Hồ hoa uyển (vườn hoa bên Tây Hồ) – thành khư (gò hoang lạnh lẽo).
=> Nhấn mạnh sự cô đơn và sự tương xứng trong cuộc gặp gỡ. Một trạng thái cô đơn gặp một kiếp cô đơn bất hạnh. Trước cảnh điêu tàn, hoang vắng hiện lên cuộc gặp gỡ định mệnh và tâm trạng xót thương của Nguyễn Du cho số phận nàng Tiểu Thanh.

30 tháng 1 2024

- Câu thơ có khả năng bao quát nội dung toàn bài: Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều (thể hiện hai nội dung lồng vào nhau của bài thơ: Nhớ ơn Nguyễn Du và thương thân nàng Kiều).

- Chủ thể trữ tình: Chủ thể xưng “ta” – bạn đọc tri âm của Nguyễn Du (xuất hiện ở cuối bài thơ: Hỡi người xưa của ta nay...). “Ta” là tất cả những ai yêu quý, biết ơn Nguyễn Du, hiểu đúng giá trị vượt thời gian trong các tác phẩm của ông. Đó cũng là cái “ta” nhân danh cộng đồng dân tộc và thời đại “ra trận” chống thực dân, để quốc xâm lược.

- Chủ đề của bài thơ: Sức sống mãnh liệt vượt thời gian trong tác phẩm của Nguyễn Du và cuộc đồng hành của thơ văn Nguyễn Du với dân tộc, nhân dân trong thời đại chống thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho con người.

9 tháng 9 2018

Khổ thơ đầu mở ra giấc mơ của chính tác giả, câu thơ đầu tiên nghe như tác giả đặt vấn đề có vẻ khách quan: câu chuyện tôi sắp kể “chẳng biết có hay không”

Cách “nhập đề” lạ, một sự “hư cấu” nghệ thuật.

Nó là cớ để nhân vật bộc lộ được cảm xúc trong “cõi mộng”

- Cách vào đề gợi được sự thích thú, tò mò, dường như rất có duyên đối với người đọc