Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Mùa thu được bắt đầu vào tháng 6 âm lịch, cái nắng của mùa hạ lúc đó như khép hờ nhường chỗ cho nắng vàng hoe cùng những cơn gió mát nhẹ nhàng. Bầu trời mùa thu thật đẹp, nó trong xanh và cao vời vợi, những đám mây cũng trở nên rực rỡ hơn với màu xanh, màu vàng, màu hồng,…nhìn như những chú chim phượng hoàng trong các bức tranh sơn mài. Cây cối bắt đầu thay lá, khoác lên mình là một màu vàng rực rỡ, nhưng chỉ cần một cơn gió nhẹ có thể khiến cây chỉ còn trơ lại những cành khẳng khiu. Và chúng ta sẽ bắt đầu đón những cơn mưa nhẹ như sương mỗi buổi sáng sớm thay cho những trận mưa rào như trút của mùa hè, kéo theo đó là cái se se lạnh thật thích. Và mùa thu cũng là mùa những bác nông dân đi thu hoạch lúa, mùi lúa chín thơm vàng óng. Không khí trở nên tươi vui như trẩy hội bởi từng đoàn người đang hò reo đi tuốt lúa, tiếng xe tiếng người cứ hòa vào nhau. Lũ trẻ thi nhau chơi trốn tìm sau những đống rơm đã được tút, hoặc lên đồi chơi thả diều khi cơn gió nổi lên. Khung cảnh thật lãng mạn nên thơ biết bao nhiêu.
1)Quê hương có một vị trí quan trọng trong lòng mỗi người. Mỗi người dân Việt Nam đều có tình cảm thiêng liêng gắn bó với quê hương xứ sở của mình.
- Nắng lên: Mặt trời làm hồng bầu trời, rót nắng chan hoà mặt đất. Chim hót líu lo. Màu mây, màu núi sậm hơn: núi xanh thẫm, mây ửng nắng hồng, vòm trời cao, xanh, rộng mênh mông. Sương tan, giọt sương đọng lại trên cỏ, sáng lấp lánh.
- Trưa: Bóng cây tròn nắng, nước biếc hơn, lá thẫm màu hơn, mây trắng bồng bềnh trôi.
- Chiều tà: Ông mặt trời gác núi để lại chút ánh sáng trên ngọn cây như những cây nến khổng lồ.
- Hoàng hôn đến với vài ánh đom đóm lập loè.
Bức tranh thiên nhiên từ xưa đến nay luôn là nguồn đề tài, cảm hứng của biết bao nhà thơ. Thanh Hải và Hữu Thỉnh cũng góp vào thơ Việt Nam hai tác phẩm đặc sắc làm phong phú cho nền văn học nước nhà là bài Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải ) và Sang thu (Hữu Thỉnh ). Bài thơ của Thanh Hải thể hiện lòng yêu mùa xuân thiên nhiên tha thiết, còn Hữu Thỉnh thì thể hiện sự cảm nhận tinh tế về những chuyển biến lúc đất trời từ cuối hạ sang đầu thu.
Mở đầu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là hình ảnh của mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
Bức tranh mùa xuân được nhà thơ chọn lọc qua hai hình ảnh “dòng sông xanh “ và “bông hoa tím biếc. Hai màu ‘xanh” và “tím biếc” thật hài hòa, dịu mát và tràn đầy sức sống. Màu tím phải chăng đó là biểu tượng của xứ Huế mộng mơ quê hương của nhà thơ? Động từ “mọc” đặt ở đầu câu tạo nên phép đảo ngữ nhấn mạnh sức sống bền bỉ của bông hoa giữa bốn bề sông nước. Bức tranh mùa xuân còn có cả âm thanh rộn ràng của tiếng chim chiền chiện.
Tiếng hót trong vắt của chú chim chiền chiện làm xao động cả không gian đem đến cho mùa xuân niềm vui rạo rực. Từ cảm “Ơi”, “chi mà” nghe sao thân thương trìu mến, nhà thơ như ngỡ ngàng thích thú và nhà thơ như trách yêu tiếng chim chiền chiện vì đã làm cho tâm hồn nhà thơ rạo rực trước hình ảnh mùa xuân tươi đẹp.
Tiếng chim đang vang xa bỗng lại gần:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
Hai câu thơ sử dụng nghệ thuật chuyển đổi cảm giác thật tài tình: Từ thính giác sang thị giác rồi sang xúc giác. Tiếng chim như kết tinh thành những giọt sương long lanh sắc màu rơi xuống và nhà thơ đón nhận bằng tất cả các giác quan. Sự chuyển đổi ấy đã thể hiện cảm xúc nhà thơ trước cảnh đất trời thiên nhiên xứ Huế vào mùa xuân.
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao”
Ở khổ hai, hình ảnh mùa xuân đất nước được nhà thơ thể hiện qua hai hình ảnh “người cầm súng”, “người ra đồng”. Tượng trưng cho người với nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ đất nước và người nông dân với nhiệm vụ sản xuất xây dựng quê hương. Đó là hai nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nước ta lúc bấy giờ. “Lộc” là chồi non, cành lá non, “lộc” còn có ý nghĩa tượng trưng cho sự may mắn và tốt đẹp cho niềm tin và chiến thắng. “Lộc” đi theo chân người lính đi đến mọi miền đem lại sự bình yên cho mọi nhà, còn “lộc” của người nông dân là nương mạ xanh rờn hứa hẹn một mùa bội thu đem lại cuộc sống ấm no cho mọi người.
Bốn câu thơ với kết cấu đối xứng và điệp ngữ “tất cả như” đã thể hiện được mọi người cùng chung ý nghĩ và hành động để bảo vệ xây dựng quê hương đất nước. Từ láy “hối hả”, “xôn xao” đã thể hiện được không khí khẩn trương hối hả nhộn nhịp vui tươi. Từ mùa xuân thiên nhiên đất nước nhà thơ suy nghĩ về lịch sử dân tộc đầy tự hào:
“Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.”
Cụm từ “bốn ngàn năm” mộc mạc, giản dị nhưng có sức khái quát được bề dày lịch sử của dân tộc. Không tự hào làm sao được khi đất nước có bốn ngàn năm văn hiến. Niềm tự hào ấy ta cũng đã bắt gặp được trong bài “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
Từ “vất vả gian lao” thật giàu sức gợi tả tái hiện được hành trình đầy gian khổ, thăng trầm của đất nước. Trong 4000 năm ấy, dân tộc ta không lúc nào ngừng nghỉ tiếng súng gươm để đương đầu với giặc ngoại xâm và chống chọi với thiên nhiên. Hình ảnh so sánh đất nước như “vì sao” thật gợi cảm. “Vì sao” ấy có phải chăng là biểu tượng của lá cờ tổ quốc? Luôn tung bay tự hào trước bạn bè thế giới. Cụm từ “cứ đi lên” như khẳng định không có thể ngăn cản được nước Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.
Khát vọng được hòa nhập, dâng hiến cho đời của nhà thơ:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.”
Điệp ngữ “ta làm” có tác dụng nhấn mạnh tấm lòng chân thành tự nguyện của nhà thơ. Ước nguyện của Thanh Hải thật nhỏ bé đơn sơ nhưng lại vô cùng có ích cho đời. Nhà thơ ước nguyện được làm con chim cành hoa để cùng với muôn ngàn tiếng chim, muôn ngàn sắc hoa để góp vào mùa xuân của đất nước làm đẹp thêm cho cuộc đời. Và thật khiêm nhường khi nhà thơ chỉ ước nguyện được làm một nốt trầm trong bản hòa ca chứ không phải là một nốt cao vút nổi trội. Nhà thơ xưng “tôi” ở khổ thơ đầu nhưng đến khổ thơ này nhà thơ xưng “ta”, “ta” ở đây vừa là nhà thơ vừa là để chỉ mọi người. Khát vọng hòa nhập của Thanh Hải thật cao đẹp và cảm động biết bao.
Khổ thơ tiếp theo nhà thơ vẫn thể hiện rõ khát vọng dâng hiến cho đời:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
Hình ảnh ẩn dụ “mùa xuân nho nhỏ” thật độc đáo và gợi cảm. Nhà thơ như muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng cuộc đời của mỗi người chúng ta là hữu hạn, chỉ là mùa xuân nho nhỏ phải biết góp vào mùa xuân lớn của đất nước. Và thái độ của nhà thơ thật đáng trân trọng khi chỉ “lặng lẽ dâng cho đời”. Cụm từ “ lặng lẽ’ thể hiện thái độ cống hiến âm thầm, không phải phô trương, không cần mọi người biết đến. Đó là sự cho đi mà không cần đền đáp.
Và cuối cùng là lời ca ngợi quê hương xứ Huế:
“Mùa xuân – ta xin hát
Câu Nam ai, Nam Bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.”
Ta có cảm giác như nhà thơ vừa làm thơ vừa hát ngân nga những câu thơ của mình. Đó là những lời thủ thỉ tâm tình nồng ấm nghĩa tình quê hương. Kết thúc bài thơ là những âm thanh rộn ràng của “nhịp phách tiền” đất Huế ta có cảm giác nhà thơ đang mỉm cười trước lúc ra. Còn Hữu Thỉnh Mở đầu bài thơ đã khắc họa bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa thật sinh động và tinh tế.
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.”
“Bỗng nhận ra hương ổi” thể hiện trạng thái bất ngờ, đột ngột. Nhà thơ đã nhận ra tín hiệu mùa thu đó chính là “hương ổi”, cái mùi hương mộc mạc dân dã của làng quê chứ không phải là hình ảnh “lá vàng, trời xanh” như các nhà thơ xưa vần thường đề cập đến:
“Em không nghe mùa Thu
Thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”
(Tiếng thu – Lưu Trọng Lư)
Đưa hình ảnh “hương ổi” vào trong bài thơ đó là sự sáng tạo, mới mẻ của Hữu Thỉnh. Động từ “phả” thật hay, nói diễn tả mùi hương ổi lan tỏa trong không gian như sánh lại. Mùi hương ổi như “phả” vào đất trời, “phả” vào cả hồn người. Nhà thơ không chỉ cảm nhận tín hiệu mùa thu bằng khứu giác mà còn bằng cả xúc giác “gió se” cảm nhận được cái không khí lạnh của “gió se”.
Mùa Thu miền Bắc đã bắt đầu chớm lạnh, đó là đặc trưng của đất trời lúc vào Thu. Ngoài ra nhà thơ còn cảm nhận tín hiệu mùa Thu qua thị giác: “Sương chùng chình qua ngõ”. Sương Thu được nhân hóa “chùng chình qua ngõ”, như một nàng thu áo trắng cố ý đi chầm chậm qua “ngõ”. Từ “ngõ” vừa có nghĩa là cửa ngõ của đường làng, vừa là cửa ngõ của thời gian từ Hạ sang Thu. Tất cả điều đó làm nhà thơ thốt lên: “Hình như Thu đã về”. Từ “hình như” là từ tình thái thể hiện tâm trạng bâng khuâng.
Từ ấy như muốn ám chỉ nhà thơ vừa thầm hỏi vừa thể hiện sự mong đời sự chuyển giao này sao lại đến bất ngờ như vậy. Qua khổ thơ đầu ta có thể thấy được tâm trạng và cảm xúc của nhà thơ về thời điểm giao mùa. Hữu Thỉnh đã cảm nhận tín hiệu của mùa thu bằng tất cả giác quan nhạy bén của một nghệ sĩ yêu thiên nhiên tha thiết.
Hình ảnh mùa thu được mở rộng theo không gian:
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
Sự vận động của thời điểm giao mùa được miêu tả cụ thể bằng sự đổi thay của mọi vật. Hình ảnh nhân hóa dòng “sông được lúc dềnh dàng” thật sinh động. Khi sang thu dòng sông có vẻ nhàn hạ thông thả ung dung sau những ngày mùa hạ mệt mỏi vì đã chảy mạnh, chảy xiết trong ba tháng hè. Cho nên sang thu có lẽ là lúc dòng sông được nghỉ ngơi và dòng sông giờ đây thật êm đềm thơ mộng.
Đối lập với dòng sông hiền hòa ấy thì những chú “chim bắt đầu vội vã”. Có phải chăng chúng vội vã vì cảm nhận được tuyết trời lành lạnh của mùa thu và để chuẩn bị tránh rét khi đông về. Phải tinh tế lắm thì Hữu Thỉnh mới cảm nhận được bầy chim chỉ mới “bắt đầu vội vã” chứ không phải là đang vội vã. Bức tranh mùa thu có thể nói thật độc đáo và đặc sắc ở hai câu kế:
“Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.”
Đám mây mùa hạ nhưng phân nữa đã là mùa thu hay nói cách khác đám mây mùa thu vẫn còn lưu luyến nắng hạ chưa muốn chia tay với mùa hạ. Động từ “vắt” thật độc đáo, tác giả không dùng từ “lơ lửng” hay “bồng bềnh” mà lại dùng từ “vắt” rất giàu sức gợi đám mây như một tấm vải lụa mềm mại. “ Vắt” ngang bầu trời phân chia phân chia rạch ròi hai mùa hạ-thu. Hình ảnh được nhà thơ miêu tả theo không gian từ thấp lên cao từ gần ra xa hướng vào không gian bát ngát. Mùa thu đến thật cả rồi, đến khắp mọi nơi trong vạn vật và cả trong lòng nhà thơ.
Ở khổ thơ cuối là những cảm nhận và suy ngẫm của nhà thơ khi nhìn cảnh vật trong những ngày đầu thu:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”.
Ở khổ thơ này vẻ đẹp của mùa thu không còn được miêu tả trực tiếp như ở hai khổ thơ đầu mà được khẳng định bằng những suy ngẫm của nhà thơ. Những hiện tiện thiên nhiên như nắng, mưa, sấm chớp như mùa hạ nhưng khi sang mùa thu thì m...
Sự gắn bó, gần gũi của họ hàng nhà tre chúng tôi được thể hiện ở chỗ đi bất cứ nơi đâu, đồng bằng hay miền núi thì bạn cũng đều thấy chúng tôi nghiêng mình trên những con đường hay trong những cánh rừng bát ngát. Họ nhà tre chúng tôi rất đông đúc, nào là: Tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, rồi dang, rồi hóp và cả luỹ tre thân thuộc đầu làng…
Khác với các loài cây khác, từ khi mới bắt đầu sinh ra, chúng tôi đã thể hiện sự ngay thẳng, điều đó các bạn có thể thấy ngay khi nhìn những mầm tre mọc thẳng tắp và dù trong bất cứ môi trường nào chúng tôi cũng vẫn vươn lên để sống mạnh mẽ và xanh tốt. Thân của chúng tôi thường dài nghêu nhưng mộc mạc, giản dị, thân quen. Và mỗi loại lại khoác một màu khác nhau có loài áo màu xanh, có loại màu tro, có loại lại màu vàng, nhưng tựu chung đều giản dị, dễ nhớ.
Một điểm tiếp theo cho thấy sự gần gũi của chúng tôi đối với tất cả mọi người đó là chúng tôi luôn cùng con người đấu tranh cho độc lập, tự do. Chẳng thế mà từ lâu, người Việt đã ví chúng tôi với phẩm chất quật khởi của dân tộc ngàn đời.
Những ngày đất nước Việt Nam còn sơ khai, chúng tôi đã giúp ông Gióng diệt lũ giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Rồi trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chính chúng tôi đã dìm chết bao tàu chiến của địch khiến cho chúng khiếp sợ phải thua cuộc. Thủa đất nước còn chưa có vũ khí hiện đại như bây giờ, chúng tôi là vũ khí mạnh nhất được dùng để tiêu diệt quân thù.
Và trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, chúng tôi cũng tích cực tham gia kháng chiến bằng cách góp một phần bé nhỏ cơ thể mình để làm ra những cây chông nhọn hoắt sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù. Bởi vững vàng trong chiến đấu mà họ mà tre tôi đã được phong danh hiệu anh hùng bất khuất. Không chỉ trong đánh giặc giữ nước, loài tre nhà chúng tôi còn rất có ích trong cuộc sống hàng ngày.
Mỗi khi về thăm một thôn xóm, một bản làng nào bạn cũng sẽ thấy vòng tay của chúng tôi dang rộng, ôm trọn và toả bóng mát cho cả dân làng. Trong vòng tay của chúng tôi, những ngôi nhà trở nên mát mẻ, những chú trâu mới có bóng râm để nhởn nhơ gặp cỏ. Những trưa hè, chúng tôi thật hạnh phúc khi được ngắm những khuôn mặt trẻ thơ say nồng giấc ngủ trong tiếng võng kẽo kẹt dưới khóm tre.
Hơn thế chúng tôi còn là những vật liệu để bà con dựng nhà, những ngôi nhà được làm từ tre rất mát mẻ và sạch sẽ. Dưới bóng chúng tôi là cả một nền văn hoá lâu đời đang từng ngày được nâng niu và gìn giữ.
Trong đời sống sinh hoạt, chúng tôi còn làm ra những đồ dùng thân thuộc với mỗi người: đó là đôi đũa, là chiếc chõng tre, chiếc giường tre. Đối với mỗi gia đình nông dân, tre tôi là người bạn vô cùng thân thiết. Ngoài ra cây danh, nứa, một trong những họ nhà trẻ còn giúp con người chẻ lạt buộc nhà, nứa giúp cắm sào làm giàn cho bầu bí leo quấn quýt vào nhau. Tre còn gắn với tuổi già, cho họ chiếc ống điếu hút thuốc làm vui.
Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn có thể làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích. Dưới những bãi đất rộng, được chúng tôi che hết ánh nắng oi ả của mùa hè, các bạn tha hồ chơi đùa thoả thích. Các bạn nữ còn trò gì thú vị hơn ngồi đánh chuyền với những que chắt bằng tre. Còn các bạn nam lại chạy nhảy reo hò theo tiếng sáo vi vút trên chiếc diều cũng được làm ra từ tre. Những cánh diều đó sẽ đem ước mơ của các bạn về nơi xa.
Tre chúng tôi còn làm nên những tiếng nhạc réo rắt từ những cây sáo tre, sáo trúc, làm vơi đi bao nỗi vất vả nhọc nhằn của người nông dân chân lấm tay bùn.
Ngày nay loài tre của chúng tôi còn vươn xa hơn nữa. Có một giáo sư là Việt Kiều sống ở Pháp đã đưa anh em chúng tôi sang trồng thử trên đất Pháp.Thế mà ở xứ lạ, chúng tôi vẫn sống vững vàng. Ngày sau, dẫu nước mình có hiện đại hơn, loài tre chúng tôi cũng vẫn sẽ ngay thẳng, thuỷ chung và can đảm để ngày càng tôn lên những đức tính của người hiền – đức tính Việt Nam.
thông điệp tác muốn gửi đến là vẻ đẹp của thiên nhiên đối với con người
(mình học ngu văn
)
1.Tác giả là Cao Duy Sơn
2.PTBD:Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm
3.Vì Ò Khìn nghe được câu chuyện mắc sai lầm của Dế Vần trong khóa khứ , nên Ò Khìn đã rút ra bài học cho mình . Nếu mà Ò Khìn bắt chích bông con thì sẽ khiến cho chích bông mẹ cảm thấy như đã mất đi 1 thứ quý báu gì đó , như câu chuyện của Pa Dế Vần.
4.Truyện muốn nhắn gửi đến người đọc là hãy luôn yêu thương và đừng làm hại đến các con động vật .
5.
Tham khảo:
Chim non tung cánh bay về trời và cất tiếng hót líu lo như cảm ơn bố con cậu bé. Ò Khìn ngước nhìn theo, khóe miệng xinh xinh của cậu bé mỉm cười và chúc chim non sớm tìm thấy gia đình của nó. Dế Vần cũng nở nụ cười hiền nhìn theo cánh chim non đang khuất dần sau những đám mây xốp, có lẽ anh đã cảm thấy thoải mái hơn và không còn dằn vặt về chuyện trong quá khứ nữa.
Trong bài thơ trên , em thấy ở dưới đất gió thì thầm cùng cây , ngoài ra gió còn thì thầm với hoa và ong bướm , nó đang thì thầm gì ấy nhỉ ? Trên cao thì có sao thì thầm với biển trời mênh mông , không chỉ vậy trên cao ấy những ngôi sao củng đang thì thầm một điều gì đấy với nhau .
Đây là cảm nhận của mình thôi , còn bạn muốn thêm bớt cho hay thế nào thì tùy bạn ^^