K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

14 tháng 1 2018

 Tình yêu tiếng Việt in sâu vào tâm khảm mỗi người từ những ngày bé thơ khi tập đọc ê a từng con chữ đầu lòng. Nhưng một tình yêu đầu đời hết sức đơn giản đến vậy đâu có dễ để nói thành lời, như nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã từng thốt lên trong những rung động cảm xúc chân thành: “…Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ/Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn/Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá/Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình…”.

Tự hào tiếng Việt

Cuối tuần, được “giao nhiệm vụ” đón cô em họ tên Vy đang học mẫu giáo chuẩn bị lên cấp một, tôi mới chợt nhớ ra một thứ gì đó thật đẹp đẽ trong buổi học chữ cái ở “tuổi học” vốn còn rất ngây thơ này. Cô bé bình thường vốn nghịch ngợm, nhưng hết giờ lại lọt thỏm ở một góc, ngồi xếp bộ đồ chơi bằng chữ in đủ các loại mầu sắc sặc sỡ. Cô giáo bảo Vy đã biết gì về phát âm, đánh vần đâu, nhưng vẫn cứ khăng khăng “chung thủy” với trò xếp hình chữ cái mấy hôm nay. Tôi gạn hỏi tLang quehì con bé kể: “Em muốn xếp tên con Xù để tặng nó, nó bị ốm cả tuần nay rồi ạ”. Hóa ra những chữ cái đó sẽ là món quà “chữa bệnh” của Vy dành đến chú mèo con ở nhà. Và món quà đấy thật sự đáng trân trọng khi cô bé đã biết yêu và cảm nhận từ những con chữ, từ những cái tên của sự vật, con người thân thuộc.

Phải chăng, đó là một thứ tình yêu mang tên tiếng Việt đã in sâu và ngày một lớn dần trong mỗi người chúng ta ngay từ thời thơ bé, những ngày mà sự thơ ngây và trong sáng vẫn ngự trị trong tâm trí để diễn đạt những điều tốt đẹp một cách giản dị nhất.

Tô Hoài Quỳnh Châu, sinh viên năm thứ ba khoa Ngữ văn Anh, Ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đang làm một công việc mà nghe chừng thật nhiều người bất ngờ. Cứ chiều thứ năm và chủ nhật hằng tuần, lớp học tiếng Việt miễn phí cho người nước ngoài do Châu “đứng lớp” tại quán cà-phê sách trên đường Lê Duẩn, quận 1 lại “tấp nập” học sinh ngoại quốc. Ý tưởng của bạn được nhiều người đón nhận bởi sự mới mẻ, và cả sự cần thiết cho những người nước ngoài muốn sống lâu dài tại Việt Nam. Châu  chọn cái tên giản đơn cho dự án của mình: “Tôi yêu tiếng Việt”. Tình yêu với ngôn ngữ quê hương không chỉ là việc tôn trọng việc học tập, sử dụng tiếng Việt mà với Quỳnh Châu và các bạn đồng hành, giờ đây chỉ tâm niệm một mong muốn đưa tiếng Việt ra thế giới. Với mỗi người mang trong mình dòng máu Việt Nam, tiếng Việt như một thước đo tình yêu với quê hương, bản xứ.

Tình cảm đó lại càng đúng đắn với một người Việt Nam xa quê hương, nhưng luôn tự hào về nguồn cội. Sang Cộng Hòa Liên Bang Ðức từ năm hai tuổi, nay đã 25 tuổi, cô gái trẻ Nghiêm Thu Trang vẫn nói tiếng Việt một cách tròn trịa và đầy quen thuộc. Có lẽ không mấy ai biết đến Trang nếu như cô không là một nghệ sĩ vi-ô-lông đầy triển vọng cũng như là tác giả câu nói đầy tinh thần Việt Nam lan truyền trong cộng đồng người Việt ở Ðức: “Tiếng Việt là một bản nhạc có dấu, khác hẳn mọi ngôn ngữ khác. Tôi là người chơi nhạc và biết học, biết yêu tiếng Việt như là cơ hội để tự hoàn thiện về khả năng cảm thụ âm nhạc”. Tiếng Việt thật sự là một phần cuộc sống không thể thiếu của Thu Trang. Có nó, Trang có cả một thế giới đầy tình thương yêu, trìu mến của cha mẹ, của anh chị em họ hàng và quan trọng hơn là văn hóa bản xứ, văn hóa dân tộc. Nghệ sĩ vi-ô-lông Nghiêm Thu Trang có thể giao tiếp thành thạo các ngôn ngữ Anh, Pháp, Ðức, nhưng điều tự hào lớn nhất mà Trang vẫn thường khoe với bạn bè chính là khả năng thành thạo tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ. Nghe có vẻ ngạc nhiên, nhưng không phải là điều lạ trong cộng đồng người Việt trẻ  kiều bào. Giờ đây, tình yêu tiếng Việt và khả năng học, sử dụng thành thạo tiếng Việt đã trở thành một nhu cầu, đồng thời là phương tiện hiệu quả lưu giữ tình yêu quê hương đất nước. Nghiêm Thu Trang là thế hệ thứ hai của người Việt tại Ðức và đối với cô, yêu tiếng Việt chính là tự hào về tiếng Việt.

14 tháng 1 2018

TIẾNG VIỆT 

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm 
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về 
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm 
Nghe xạc xào gió thổi giữa cầu tre. 

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng 
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya 
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng 
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê. 

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa 
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi 
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ 
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

"Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt..." 
Ði mòn đàng đứt cỏ đợi người thương 
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót 
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng. 

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói 
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ 
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa 
Óng tre ngà và mềm mại như tơ. 

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát 
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh 
Như gió nước không thể nào nắm bắt 
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh. 

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy 
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn 
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối 
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường. 

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng 
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta 
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất 
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già. 

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng 
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi 
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán 
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời. 

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng 
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi 
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người 
Như tiếng sáo, như dây đàn máu nhỏ. 

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ 
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay 
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay 
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt. 

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết 
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi 
Như vị muối chung lòng biển mặn 
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời. 

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất 
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu 
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt 
Ai người sau nói tiếp những lời yêu ? 

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển 
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya ? 
Ai ở phía bên kia cầm súng khác 
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về. 

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ 
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn 
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá 
Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình... 

Không phải ngẫu nhiên nhiều nhà phê bình văn học cho rằng bài thơ Tiếng Việt của nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ phải được chọn đưa vào chương trình Ngữ văn trung học. Tôi nghĩ, đây là ý kiến cần được quan tâm bởi Tiếng Việt là một trong những bài thơ hay viết về tiếng nói dân tộc. Nếu được chọn, bài thơ không những hội đủ các tiêu chí của một tác phẩm văn học có giá trị về nội dung và nghệ thuật mà còn có tính tích hợp cao với các phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn.

Đạo diễn, NSND Đào Trọng Khánh, một người bạn thân thiết của Lưu Quang Vũ đánh giá: “Lưu Quang Vũ là một trong số rất ít người làm nghệ thuật thể hiện được cái tình đậm đà, thắm thiết, đắng cay mà hồn hậu, nhân ái của Mẹ Việt Nam. Người làm thơ viết về quê hương thì rất nhiều, nhưng viết hay, thân thiết và xúc động như Lưu Quang Vũ trong bài Tiếng Việt thì rất ít”.

            Viết về tiếng Việt, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã không bắt đầu bằng những khái niệm trừu tượng mà dẫn nhập bằng những câu thơ có sức gợi để cho người đọc thấy được đời sống sinh hoạt, lao động của người Việt - nơi thai nghén, hình thành và nuôi dưỡng tiếng nói dân tộc. Một không gian văn hóa Việt được anh tạo dựng với những hình ảnh, âm thanh của làng quê Việt Nam thân thuộc, dấu yêu:

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về

Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm

Nghe xạc xào gió thổi giữa cầu tre. 

(…)

“Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”

Đi mòn đàng đứt cỏ đợi người thương

Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót

Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

            Vâng! Tiếng Việt được cất lên từ bờ tre, gốc rạ; từ cánh đồng xa, dòng sông vắng; từ sự lấm láp, nhọc nhằn, lam lũ của của đời sống lao động; từ những tâm tình ngọt ngào, sâu lắng của người Việt. Đó là âm thanh của “Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm”, “Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa”; âm thanh của tiếng “xạc xào gió thổi giữa cầu tre”, “Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê”, “Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ”; âm thanh của “Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng/ Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya/ Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng”…  Có thể nói, mọi mặt của đời sống dân tộc - về tự nhiên và xã hội, về vũ trụ và con người - đã làm nên hồn cốt của tiếng Việt.

Ngôn ngữ là một trong những nhân tố hợp thành quan trọng, góp phần làm nên cái nền tảng về giá trị, bản sắc, tinh hoa của nền văn hóa dân tộc. Tiếng Việt - "Thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc"(1) – là thứ tiếng “Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói” bởi nó liên quan đến ý thức xã hội, ứng xử và giao tiếp, cũng như các kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của người Việt.

Nhà thơ Lưu Quang Vũ đã rất tài hoa khi khái quát được đặc trưng tiếng nói của dân tộc trong hai câu thơ xuất thần: "Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ". Tác giả mượn những hình ảnh vừa gần gũi, thân thuộc vừa mang đậm bản sắc dân tộc như “đất cày”, “lụa”, “tre ngà”, tơ” để nói về tiếng Việt. Nhà thơ đã gợi cho người đọc cảm nhận được được tiếng nói dân tộc vừa có sự mộc mạc, chân chất, khỏe khoắn của “đất cày”; vừa có sự dịu dàng, mát mẻ của “lụa”; vừa có sự óng ả, thanh tao của “tre ngà”; vừa có sự mềm mại, uyển chuyển của “tơ”.

Như chúng ta đã biết với một hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, hệ thống các thanh điệu với những âm độ, âm vực, tiếng Việt có khả năng tạo ra nhiều giai điệu khác nhau: du dương trầm bổng, réo rắt, sâu lắng, thiết tha… Tiếng Việt giàu âm thanh, nhạc điệu “nói thường nghe như hát/ kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh”.

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy

Và như để chứng minh tiếng Việt là ngôn ngữ giàu hình tượng, nhà thơ đã dẫn ra một số tiếng nói quen thuộc mà có khả năng gợi nhiều liên tưởng:

Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn

Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối 

Tiếng heo may gợi nhớ những con đường. 

Nhà phê bình văn học Đặng Thai Mai cho rằng: “Tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử”(2). Không đi sâu phân tích hay luận bàn sự giàu đẹp của tiếng Việt, nhà thơ Lưu Quang Vũ mượn chính ngôn ngữ đậm chất thơ của dân tộc mình để nói về vai trò của người sáng tạo ra thứ ngôn ngữ đó.

Nhiều độc giả cho rằng tính nhân dân là hạt nhân tư tưởng của bài thơ. Nhân dân là những người đã lao động, sáng tạo, đổ mồ hôi, công sức, chịu đựng gian khổ, hi sinh vun đắp cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp và giữ cho tiếng Việt mãi là tiếng nói của một dân tộc có chủ quyền. Thần thái tiếng Việt chính là sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam cần cù, nhẫn nại; ân nghĩa, thủy chung; kiên cường, bất khuất.

Dẫu có sự cách trở về địa lí, tiếng Việt vẫn là thứ của cải riêng của dân tộc: “Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng/ Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta”. Trải qua bao biến cố của lịch sử, tiếng Việt vẫn tồn tại:“Tiếng chẳng mất khi loa thành đã mất/ Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già”. Đi qua những thăng trầm của đời người, tiếng Việt vẫn lấp lánh, sáng trong: “Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng/Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi/Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán/ Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời”.

            Tiếng Việt làm nên một dòng chảy văn hóa “Như vị muối chung lòng biển mặn /
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời”; gắn kết quá khứ với hiện tại: “Ai thuở trước nói những lời thứ nhất/ còn thô sơ như mảnh đá thay rìu/ Điều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt/ Ai người sau nói tiếp những lời yêu?”; kết nối lời yêu thương những người có chung tiếng nói, chung dòng máu Việt dù người đó đang “phiêu bạt nơi chân trơi góc biển” hay ở  “phía bên kia cầm súng khác”. Có thể nói, đây là những phát hiện mới mẻ của nhà thơ Lưu Quang Vũ về sức mạnh kì diệu của tiếng Việt. Nó là “dòng sông thương mến chảy muôn đời”, là biển lớn của tinh thần hoà hợp dân tộc.

            Với tất cả lòng yêu quý và trân trọng tiếng mẹ đẻ, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã tạo ra mạch nguồn cảm xúc lai láng, trào dâng, bất tận trong bài thơ Tiếng Việt. Mỗi khổ thơ là một cung bậc cảm xúc: có lúc chậm rãi, khoan thai, xa vắng; có khi dồn dập, sôi nổi, riết róng… nhưng cảm xúc chủ đạo vẫn là tha thiết, ân tình:                                   

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ

Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn

Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá

Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình…

            Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng ca ngợi công lao của đại thi hào Nguyễn Du trong việc giữ gìn và làm giàu đẹp tiếng Việt qua tuyệt tác Truyện Kiều: “Bạch Đằng anh là cắm cọc vào thời gian nước chảy/ Cho nghìn năm sau vầng trăng tiếng Việt mãi còn” (Nghĩ thêm về Nguyễn). Tôi thiết nghĩ, với bài thơ Tiếng Việt, nhà thơ Lưu Quang Vũ cũng đã “cắm cọc vào thời gian nước chảy”  và “vầng trăng tiếng Việt” trong thơ anh sẽ mãi sáng trên thi đàn văn học Việt Nam.

14 tháng 1 2018

Ai đã được tiếp xúc với “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ dù chỉ một lần đều không dễ quên. Bài thơ được rất nhiều người yêu mến thuộc lòng… 
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm 
...........................................
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá 
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình... 
(Lưu Quang Vũ-Thơ và Đời. NXB Văn hoá-Thông tin. H.1999.tr.322-325).

Bên cạnh việc sử dụng tiếng Việt để sáng tạo nên những tác phẩm văn hoá, văn học bất hủ, các nghệ sĩ của chúng ta luôn đến với tiếng nói của dân tộc như một nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn. "Họ (các nhà thơ mới-TQĐ) yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt" (Hoài Thanh). Có lẽ mọi nghệ sĩ đều có tình cảm tương tự đối với tiếng Việt. Đã có nhiều tác phẩm hay viết về tiếng Việt nhưng có một sáng tác đã đem lại cho tôi nhiều điều mới mẻ và xúc động nhất là bài thơ "Tiếng Việt" của nhà thơ, nhà viết kịch tài hoa bạc mệnh Lưu Quang Vũ. 
Nhà thơ đã sáng tạo nên một thế giới hình ảnh sinh động, gợi cảm để tái hiện cội nguồn lịch sử tiếng nói dân tộc. Tiếng Việt không phải là một khái niệm trừu tượng mà là tiếng mẹ gọi, tiếng cha dặn, tiếng kéo gỗ, tiếng gọi đò, là câu hát lời ru "rung rinh nhịp đập trái tim" ...nghĩa là tất cả những gì gần gũi, thân thiết, máu thịt nhất đối với mỗi người; là thứ tiếng lấm láp giọt mồ hôi mặn chát, những giọt nước mắt cay đắng và cả những tâm tình sâu lắng, ngọt ngào, say đắm. Tiếng Việt là thứ tiếng của Tình yêu và Lao động. 
Có thể xem hai câu thơ: "Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ" là những câu thơ hay nhất của bài thơ. Đó là một sự phát hiện, đúc kết sâu sắc về đặc trưng tiếng nói, bản sắc dân tộc: vừa mộc mạc, chân chất, khoẻ khoắn, vừa mềm mại, dịu dàng, mát mẻ, vừa cứng cỏi lại vừa óng ả, tinh tế, bay bổng...Những hình ảnh "đất cày", "lụa", "tre ngà", "tơ" đều gần gũi, quen thuộc, mang đậm bản sắc dân tộc. Hai câu thơ đẹp, lung linh sắc màu, càng đọc, càng suy ngẫm càng thấy thấm thía, xúc động. 
Lưu Quang Vũ đã có những phát hiện mới mẻ về sức mạnh kì diệu của tiếng Việt: là dòng sông chảy muôn đời lưu giữ truyền thống yêu nước, nhân ái của con người Việt Nam, là biển lớn của tinh thần hoà hợp dân tộc. Sức mạnh quân sự của kẻ thù có thể chia cắt đất nước về mặt ranh giới địa lí nhưng không thể chia cắt khối thống nhất vĩ đại của lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ dân tộc. Tiếng Việt trở thành sợi dây nối liền tâm hồn, tư tưởng của mọi thành viên trong cộng đồng cũng như những người con xa xứ, lưu lạc. Từ mối liên hệ với lịch sử, tác giả đã xem tiếng Việt như là một nhân tố tạo nên sự bền vững muôn đời của dân tộc. 
Tính nhân dân là hạt nhân tư tưởng của bài thơ. Tác phẩm thấm đẫm cảm xúc kính trọng, tự hào, yêu thương nhân dân. Nhân dân là những người đã lao động, sáng tạo, đã đổ mồ hôi, công sức vun đắp cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn và chịu đựng gian khổ, hi sinh, đổ máu để cho tiếng Việt mãi mãi là tiếng nói của một dân tộc có chủ quyền. Tiếng Việt là thứ tiếng cất lên từ bờ tre, mái rạ, từ trong cuộc sống lam lũ, khổ nghèo của những người kéo gỗ, chèo đò, dệt lụa, lặn ngòi ngoi nước, ăn cầu ngủ quán...trải qua những ngày chia cắt, giặc giã, khói lửa với những nỗ lực, hi sinh âm thầm của bao thế hệ con người. 
Điều kì diệu là tiếng Việt sản sinh trong cuộc sống lao động và chiến đấu ấy lại là một thứ tiếng ngọt ngào, đằm thắm, tha thiết, thấm đẫm yêu thương dịu dàng, trong trẻo "như dòng sông thương mến chảy muôn đời". Suy cho cùng thì vẻ đẹp, sự kì diệu của tiếng Việt cũng là vẻ đẹp, sự kì diệu của tâm hồn nhân dân, dân tộc. Bài thơ cũng phản ánh không khí của một thời, khi mà cả dân tộc đang phải vận dụng, phát huy tất cả nguồn sức mạnh tổng hợp để đối đầu với một kẻ thù hùng mạnh hơn gấp nhiều lần. 
"Tiếng Việt" thể hiện những nét đặc sắc trong bút pháp, phong cách nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ. Bài thơ "...đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hoà quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập" (Vũ Quần Phương- Lưu Quang Vũ-Thơ và Đời. NXB Văn hoá-Thông tin. H.1999.tr.52). Bên cạnh đó, độc giả còn bị chinh phục bởi tính nhạc phong phú, tinh tế. Thể thơ tám chữ với lối gieo vần phóng khoáng và cách ngặt nhịp biến hoá khiến cho bài thơ trở thành một bản nhạc không bao giờ dứt. Nhịp thơ khi trầm lắng, khoan thai, tha thiết, khi sôi nổi, dồn dập, mạnh mẽ...Nội dung tư tưởng lớn lao, sâu sắc được diễn tả bằng một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tài hoa. 
"Tiếng Việt" của Lưu Quang Vũ là một bài thơ hấp dẫn, vừa Đẹp, vừa Hay, có ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc. Ai đã được tiếp xúc với "Tiếng Việt" của Lưu Quang Vũ thì không dễ quên. Mặc dù bài thơ không có trong chương trình giáo dục phổ thông, song được rất nhiều người yêu mến thuộc lòng. 
Qua bài viết nhỏ này, chúng tôi kính mong các nhà quản lí giáo dục, các tác giả biên soạn SGK đưa bài thơ vào chương trình giảng dạy môn Ngữ văn trong trường phổ thông. Như vậy, bài thơ sẽ có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn, trở thành hành trang tinh thần cần thiết, quí giá cho thế hệ trẻ- những chủ nhân tương lai của đất nước. Trong thời đại bùng nổ thông tin và đang có không ít bạn trẻ thờ ơ với những giá trị văn hoá truyền thống, điều này càng có ý nghĩa. 
(Tạp chí "Dạy và học ngày nay" số tháng 7/2008).
MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA MỌI NGƯỜI
7 - phmduy71 (e-mail: phmduy71@gmail.com) - 10:19 07-04-2012Yêu nước chính là yêu và gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Là học sinh, cần sử dụng yêu cầu này khi cá em viết tập làm văn cũng như trong nói năng hàng ngày.Đó là thông điệp mà Lưu Quang Vũ muốn nhắn nhủ qua bài thơ trên.
35 - quevtnlevan (e-mail: quevtnlevan@gmail.com) - 11:02 12-04-2012Bài thơ thật hay , thể hiện sự trong sáng của tiếng việt , Nhưng cũng buồn thay cho lớp trẻ em chúng ta ngày nay nói năng , xưng hô và viết lách rất tùy tiện và thô tục và thiếu văn hóa vẫn diễn ra hàng ngày
10 - .nuong (e-mail: nuonghd@yahoo.com.vn) - 10:39 07-04-2012Tôi rát yêu thích bài thơ này. Tôi thường đọc nó cho các lứa học trò của mình nghe (nhất là mỗi khi dạy các em Truyện Kiều. Mỗi lần đọc, lại muốn rơi nước mắt. Chưa có ai viết về tiếng mẹ đẻ xúc động và sâu sắc thế.Cũng chưa ở đâu sự gần gũi, thân thuộc và thiêng liêng; vẻ đẹp bình dị, mộc mạc và sang trọng, tinh tế... của tiếng Việt được diễn tả hay đến thế! Tôi luôn mong ước có một lúc nào đó bài thơ này sẽ được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn THCS hoăc THPT.
17 - Nguyễn Tri Nam (e-mail: nguyentrinam@gmail.com) - 11:47 07-04-2012Bài thơ hay như thế này, giầu ý nghĩa tốt đẹp, giao dục học sinh yêu tiếng Việt đáng lẽ phải đưa vào sách giao khoa từ lâu mà đến bây giờ vẫn không đả động bài thơ này trong sách giáo khoa. Các nhà biên soạn sách, bộ giáo dục và đào tạo cần xem lại mình. Trân trọng và nghiên mình trước nhà thơ Lưu Quang Vũ - Người làm cho tôi yêu tiếng việt, đã dấn lối cho tôi tìm đọc nhiều tác phẩm bằng tiếng việt.
36 - Dung Dung (e-mail: dunghoang0108@gmail.com) - 09:09 17-04-2012Tôi từng có ý định "Nhất định mình sẽ định cư ở nước ngoài", nhưng thực sự sau khi đọc những vần thơ này, suy nghĩ ấy trong tôi lại lung lay. Những hình ảnh của tuổi thơ, những kỷ niệm dấu yêu tại mảnh đất này chợt hiện về trong tôi. Là tiếng mẹ gọi, là dòng sông bập bềnh những cánh bèo trôi, là cánh đồng bát ngát gió hè, là nắng vàng rực rỡ với rơm phơi.....Cảm ơn nhà thơ Lưu Quang Vũ đã nói hộ tiếng lòng của tôi cũng như của bao nhiêu người con đất Việt.
20 - Hoàng Mạnh Cường (e-mail: cuongyenkhanh@yahoo.com) - 15:37 07-04-2012Những vần thơ mộc mạc, giản dị mà sâu lắng quá. Mỗi vần thơ khi đọc lên ta như thấy đâu đây hình ảnh quê hương gợi về trong tâm tưởng... Mỗi vùng quê trên tổ quốc Việt Nam có những nét văn hóa riêng nhưng sao gần gũi, thân thương đến thế!Cảm ơn Nhà thơ Lưu Quang Vũ đã cho ta thưởng thức những vần thơ hay và nuôi dưỡng tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn của bao thế hệ người Việt.
24 - Vinh Thùy (e-mail: thuyvinh_85@yahoo.com) - 20:34 07-04-2012HỒN DÂN TỘC Trái đất rộng giàu sang thứ tiếng Cao quý âm thầm rực rỡ vui tươi Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay (Lưu Quang Vũ) Bóng hình dân tộc tìm ở nơi đâu khi con người đã dời ra nó. Bóng hình dân tộc tìm ở phương nào khi con người luôn ước mong trở lại đó. Hồn dân tộc chẳng ở đâu xa mà nó luôn tiềm ẩn và thổn thức trong tim mỗi chúng ta. Đó là thứ tiếng mà chúng ta đang nói, chúng ta đang cảm nhận và chúng ta đang sống nhờ nó. Chúng ta là những con dân đất Việt, chúng ta mang hơi thở của cộng đồng Việt và nói thứ tiếng Việt bình dị nhưng đầy ý nghĩa. Có điều dùng tiếng Việt nhưng nhiều khi chúng ta chưa hiểu sâu sắc về nó và nhiều khi chúng ta lại để nó “ngủ quên” sau những thứ tiếng xa lạ và hiện đại khác. Có lẽ cái ý nghĩa về thứ tiếng mẹ đẻ chúng ta sẽ chẳng nhận ra hết được nếu chúng ta chỉ sử dụng nó như một “phản xạ” của đời sống và rồi “lãng quên” tất cả như những thứ khác mà chúng ta đã quên. Đó là chưa kể chúng ta cần phải luôn so sánh và đối chiếu thứ tiếng của chúng ta với những thứ tiếng khác. Bởi chỉ qua so sánh, đối chiếu thì cái hay cũng như cái dở mới hiện hình. Tuy vậy, hay hay dở trong ngôn ngữ thì không nên lạm bàn bởi nó thuộc vào một phạm trù khác rộng hơn là văn hóa ngôn ngữ học. Hồn dân tộc đọng trong ngữ ngôn, trong lời. Có điều dường như người ta chỉ cảm nhận được nó khi người ta đã dời xa nó. Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện mà một người bạn xa xứ đã kể cho tôi khi anh ấy thèm được nghe một giọng Việt trong cộng đồng người Mỹ. Và cũng hiểu vì sao trên đường phố NewYork khách du lịch các nước vẫn thường bỏ tiền để nghe những ca sĩ đường phố hát những bài quốc ca của nước họ. Thứ tiếng dân tộc vang lên ở những vùng đất xa xôi thật linh thiêng và gần gũi biết bao. Chúng ta n...

14 tháng 1 2018

Mình chỉ cần viết 1 đoạn thôi

15 tháng 1 2018

cậu ơi cậu có xem thủ lĩnh thẻ bài không zợ

25 tháng 2 2017

tieng viet rat hay va nhieu cam xuc

Ý nghĩa của hình ảnh những cánh buồm trên biển buổi sớm mai sau trận mưa đêm. - Trong bài thơhình ảnh cánh buồm chứa đựng nhiều ý nghĩa: + Cánh buồm tượng trưng cho những ước mơ, khát vọng, hoài bão, … ... Đó là cánh buồm của con thuyền chở ước mơ của tuổi thơ đi đến những chân trời mới, cuộc sống mới, khát vọng mới.

"Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con”

Câu thơ cho ta thấy người cha vô cùng hạnh phúc khi tìm lại được bản thân của ngày nào qua hình ảnh con với bao khao khát, bao hoài bão và ước mơ. Những khát vọng của con bây giờ cũng là khát vọng của cha. Lòng cha vui mừng, tràn ngập niềm tin, hi vọng. Hi vọng con sẽ mang theo cánh buồm với những ước mơ vươn xa, vươn cao. 

Tình cảm cha dành cho con có những biểu hiện rất riêng. Nếu tình yêu của mẹ dành cho con chủ yếu thể hiện ở sự chăm sóc tỉ mỉ trong cuộc sống hằng ngày thì tình cảm của cha dành cho con thể hiện ở sự truyền thụ tri thức; nuôi dưỡng ý chí, khát vọng, phấn đấu biến ước mơ thành hiện thực; bản lĩnh sống mạnh mẽ, kiên cường.

4 tháng 3 2022

Những đêm hè

Khi ve ve đã ngủ

Tôi lắng nghe

Trên đường Trần Phú

Tiếng chổi tre

Xao xác hàng tre

Tiếng chổi tre

Đêm hè quét rác

Trong đêm khuya tĩnh mịch, nổi lên tiếng chổi soàn soạt trên mặt đường nhựa. Tiếng chổi như một âm thanh đều không dứt, tạo thành âm điệu chung cho cả bài thơ. Nó đặc tả sự vất vả, khó nhọc, kéo dài, không ngừng, không nghỉ:

Những đêm động

Khi cơn giông vừa tắt

Tôi đứng trông

Trên đường lặng ngắt

Chị lao công

Như sắt, như đồng

Chị lao công

Đêm đông

Quét rác.

Ở khổ thơ thứ nhất, mới nổi lên tiếng chổi tre xào xạc. Đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh chị công nhân quét rác được tác giả miêu tả với tình cảm thật trân trọng. Cái rét buốt của đêm đông, không gian vắng vẻ càng làm tôn vẻ đẹp của chị. Nhà thơ so sánh chị như bức tượng đồng thể hiện nét khỏe khoắn, đáng yêu của người phụ nữ lao động. Tấm lòng nhân ái của tác giả ẩn chứa sau từng câu, từng chữ.

Phố xá được dọn dẹp sạch sẽ từ ban đêm. Sáng hôm sau những gánh hoa từ các làng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp theo đường Trần Phú, Điện Biên Phủ xuôi về các chợ trong thành phố. Hoa hồng, hoa cúc ngát hương, thược dược, cam chướng rực rỡ... Gách hoa đi đến đâu, con đường như nở rộ đến đó:

Sáng mai ra

Gách hàng hoa

Xuống chợ

Hoa Ngọc Hà

Trên đường rực rỡ

Hương bay xa

Thơm ngát

Đường ta...

Những con đường sạch sẽ không một chút rác rưởi vây bẩn màu hoa, không chút hôi hám làm vẩn đục hương hoa tinh khiết. Cuộc đời đẹp biết bao nhiêu! Có ai biết, ai nhớ tới công lao của những nữ công nhân quét rác?

Nhà thơ nhắc nhở hoa:

Nhớ nghe hoa

Người quét rác

Đêm qua

Nhắc nhở các em nhỏ:

Nhớ nghe em

Tiếng chổi tre

Chị quét

Những đêm hè

Đêm đông

Gió rét...

Hãy luôn luôn nhớ để biết ơn, để kính trọng người lao động, từ đó có ý thức giữ gìn thành quả lao động, góp phần làm đẹp quê hương:

Giữ sạch lề,

Đẹp lối

Em nghe!

4 tháng 3 2022

Chào bạn, đây là một bài mẫu bạn có thể tham khảo nhé!

Bài làm

"Tiếng chổi tre" với những dòng thơ vài ba tiếng một, đã tạo nên một nhạc điệu đặc biệt, khó quên. "Tiếng chổi tre/ Xao xác/ Hàng me/ Tiếng chổi tre/ Đêm hè/ Quét rác...". Nhịp ngắt 3-2-2-3-2-2 này với âm điệu hầu hết thuộc thanh không và thanh sắc là những thanh cao, khiến em mường tượng như nghe thấy tiếng chổi tre quét từng nhát mau gọn, dứt khoát trên mặt đường nhựa, giữa đêm khuya thanh vắng. Qua cảm giác trực tiếp này, em thấy một không khí riêng, một cái gì khiến mình xúc động, nghe xao xác vọng mãi trong lòng.

Từ âm hưởng ấy, nhà thơ đã làm sống lại trong em chân dung chị lao công quét đường. Đó là một bức chân dung thầm lặng mà sắc nét, cần mẫn, kiên trì, hoạt động trong những đêm hè khuya khoắt. "Khi ve ve - đã ngủ", trong những đêm đông "Khi cơn giông vừa tắt". Công việc quét rác đêm khuya ấy, chị làm không ai biết, một mình chịu đựng bẩn thỉu, hôi hám, chịu giá rét, chống lại cơn buồn ngủ trĩu mí mắt; một mình tự nguyện xa rời sinh hoạt, hạnh phúc thường tình của sự nghỉ ngơi ban đêm với người thân thuộc, giữa chăn ấm nệm êm...

Em còn cảm nhận thấy hình như đây không chỉ là bức chân dung miêu tả ngoại hình động tác bên ngoài, mà còn cao hơn thế. Nhà thơ phải chăng đã lột tả được chân dung tinh thần của những người lao động bình thường, thầm lặng trong xã hội ta, vất vả mà người đời ít ai biết đến? Bức chân dung đơn giản mà rực sáng lên vẻ đẹp của hi sinh, vẻ đẹp của những hoạt động dọn đường, "giữ sạch lề - đẹp lối" trên phố phường cho bao người qua lại. Hơn nữa, ẩn ý tượng trưng của bài thơ còn bao hàm một nội dung sâu xa, với những nét thơ tạo hình, tạo thành cả một bức tượng toàn thân rắn rỏi, uy nghi.

"Trên đường lặng ngắt
Chị lao công
Như sắt
Như đồng"

Những dòng thơ trên khác nào những đường dao điêu khắc thật sắc gọn, thật khỏe khoắn đã tạo nên bức tượng đầy ý nghĩa: Người mở đường.

Chính những câu nhắc nhở trong bài đã khiến em liên tưởng đến ý nghĩa trên của hình tượng chị lao công. Không chỉ một lần, mà nhắc đi nhắc lại : "Nhớ nghe hoa - Người quét rác - Đêm qua", "Nhớ nghe em - Tiếng chổi tre - Chị quét".

Không chỉ nhắc đi nhắc lại tiếng quét, tác giả còn nhắc đi nhắc lại về bối cảnh quét rác: "Những đêm hè - Đêm đông gió rét", nhấn mạnh đến cái thời điểm gian khổ gay go. Rõ ràng, chị lao công ở đây không chỉ là chị lao công ngoài trời. Trong văn học xưa nay, bao giờ cũng mượn cái này để nói đến cái kia, nổi bụi tre nhưng thâm ý là nhè bụi chuối, hình tượng văn hóa nghệ thuật bao giờ cũng đa nghĩa. Nhà thơ ở đây vừa trực tiếp miêu tả, ca ngợi chị lao công quét rác; vừa nhân đó mà ghi công cho bao nhiêu chiến sĩ không tên, đã thầm lặng gánh vác lấy công việc dọn đường, mở đường cho cuộc sống có thể vui đó lấy "Hoa ngọc hà... thơm ngát đường ta".

Nếu như để khỏi phụ công những người quét rác đêm khuya, chúng ta phải "giữ sạch lề - đẹp lối" của phố phường mỗi ngày, thì để đền đáp công ơn những người đi trước mở đường cho Tổ quốc độc lập thống nhất, tiến lên hiện đại hóa hôm nay, chúng em càng cần phải giữ lấy nề nếp tốt đẹp của truyền thống dân tộc, giữ vững kỷ cương đạo lí tốt đẹp, quyết chống lại những tệ nạn xã hội như xì ke, ma túy đang cố tình xả rác độc hại vào con đường đi tới của Tổ quốc ta hiện nay.

Chúc bạn học tốt nhé!

28 tháng 10 2018

cảm nhận của e sau khi nghe bài làng tôi của nghệ sĩ Văn Cao là e thấy rấ vui nhộn,khi đang nghe có thể mk chìm đắm trong bài hát và e thấy được 1 người rất yêu quê hương của mk

2 tháng 1 2020

"Tre Việt Nam" là bài thơ kiệt tác của Nguyễn Duy được nhiều người yêu thích. Đây là một phần tiêu biểu của bài thơ ấy. Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát; trong đó câu lục đầu bài thơ được cắt thành hai dòng (2+4) và câu lục cuối bài được cắt thành ba dòng (2+2+2). Lời thơ mượt mà, có nhiều hình ảnh đẹp, giọng thơ du dương truyền cảm.

Ba dòng thơ đầu, nhà thơ ngạc nhiên hỏi về màu xanh của tre, liên tưởng đến "chuyện ngày xưa" - chuyện người anh hùng làng Gióng dùng gộc tre đánh đuổi giặc Ân. Qua đó, tác giả thể hiện rất hay sự gắn bó lâu đời giữa cây tre với đất nước và con người Việt Nam:

"Tre xanh,

Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh".

Cây tre được nhân hóa, tượng trưng cho bao phẩm chất cao quý của con nguời Việt Nam, của dân tộc Việt Nam

Cây tre, lũy tre tượng trưng cho tình thương yêu đồng loại, tinh thần đoàn kết dân tộc để vượt qua bão bùng, để làm nên lũy thành bền vững:

"Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau, tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người."

Nguyễn Duy có nhiều cách sáng tạo hình ảnh về cây tre, măng tre để thể hiện tính ngay thẳng, tinh thần bất khuất của nhân dân ta:

"Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm”.

hay:

"Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lự thường".

hay:

"Măng non là búp măng non

Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre".

Cây tre được nhân hóa, tượng trưng cho đức hi sinh, tình thương con bao la của người mẹ hiền:

"Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc, tre nhường cho con".

"Tre già măng mọc” là sự thật, là niềm tin về tuổi thơ, về thế hệ tương lai.

Ba chữ "xanh" trong câu cuối bài thơ cho thấy cách viết rất tài hoa của Nguyễn Duy khi ca ngợi vẻ đẹp của cây tre, ca ngợi cảnh sắc làng quê đất nước bển vững trong dòng chảy thời gian đến muôn đời mai sau:

"Mai sau,

Mai sau,

Mai sau,

Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh".

Đọc bài thơ "Tre Việt Nam", ta yêu thêm cây tre, lũy tre, yêu thêm vẻ đẹp quê hương đất nước, ta thêm tự hào về bao phẩm chất cao quý của con ngườ: Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.



Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/cam-nhan-cua-em-khi-doc-bai-tre-viet-nam-cua-nguyen-duy-c118a21198.html#ixzz6Bm0ScR6z

4 tháng 2 2023

Tre Việt Nam" là bài thơ kiệt tác của Nguyễn Duy được nhiều người yêu thích. Đây là một phần tiêu biểu của bài thơ ấy. Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát; trong đó câu lục đầu bài thơ được cắt thành hai dòng (2+4) và câu lục cuối bài được cắt thành ba dòng (2+2+2). Lời thơ mượt mà, có nhiều hình ảnhđẹp, giọng thơ du dương truyền cảm.

Ba dòng thơ đầu, nhà thơ ngạc nhiên hỏi về màu xanh của tre, liên tưởng đến "chuyện ngày xưa" - chuyện người anh hùng làng Gióng dùng gộc tre đánh đuổi giặc Ân. Qua đó, tác giả thể hiện rất hay sự gắn bó lâu đời giữa cây tre với đất nước và con người Việt Nam:

"Tre xanh,

Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh".

Cây tre được nhân hóa, tượng trưng cho bao phẩm chất cao quý của con nguời Việt Nam, của dân tộc Việt Nam

Cây tre, lũy tre tượng trưng cho tình thương yêu đồng loại, tinh thần đoàn kết dân tộc để vượt qua bão bùng, để làm nên lũy thành bền vững:

"Bão bủng thân bọc lấy thân

Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau, tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người."

Nguyễn Duy có nhiều cách sáng tạo hình ảnh về cây tre, măng tre để thể hiện tính ngay thẳng, tinh thần bất khuất của nhân dân ta:

"Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm”.

hay: "Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lự thường".

hay: "Măng non là búp măng non

Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre".

Cây tre được nhân hóa, tượng trưng cho đức hi sinh, tình thương con bao la của người mẹ hiền:

"Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc, tre nhường cho con".

"Tre già măng mọc” là sự thật, là niềm tin về tuổi thơ, về thế hệ tương lai.

Ba chữ "xanh" trong câu cuối bài thơ cho thấy cách viết rất tài hoa của Nguyễn Duy khi ca ngợi vẻ đẹp của cây tre, ca ngợi cảnh sắc làng quê đất nước bển vững trong dòng chảy thời gian đến muôn đời mai sau:

"Mai sau,

Mai sau,

Mai sau,

Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh".

Đọc bài thơ "Tre Việt Nam", ta yêu thêm cây tre, lũy tre, yêu thêm vẻ đẹp quê hương đất nước, ta thêm tự hào về bao phẩm chất cao quý của con ngườ: Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

15 tháng 2 2022

Tham khảo

Khi được nghe tin lượm hi sinhnhà thơ nghẹn ngào không nói lên lời. Lúc đó, tác giả chỉ còn biết gọi tên cậu bé dũng cảm vì đã hi sinh cho nước nhà. Câu thơ cũng nói lên sự ngưỡng mộ, nể phục của nhà thơ với đồng chí liên lạc nhỏ nhưng vô cùng anh dũng.