Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Ngày nay, trong thanh niên đang hình thành lối sống ăn chơi đua đòi. Họ chạy theo những thị hiếu nhất thời, những màu sắc lòe loẹt lạ mắt của nếp sống xô bồ mà lầm tưởng là hiện đại. Họ quên đi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ thường đánh giá con người bằng vẻ bề ngoài mà không nghĩ đến phẩm chất tâm hồn bên trong. Để nhắc nhở cháu con biết sống đẹp, các bậc cao niên ở Thủ đô ta thường hay nói tới câu ca dao xưa với vẻ rất tự hào:
Chẳng thơm củng thể hoa nhài.
Dẫu không thanh lịch củng người Tràng An,
Nói rằng “chẳng thơm”, nói rằng “không thanh lịch” chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người Thủ đô Thăng Long – Hà Nội: nét thanh lịch…
Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc, với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng, và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức nồng nàn mà chỉ thoang thoảng, nhưng lâu bền.
Còn Tràng An, vốn là kinh đô của muời hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kinh kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi tụ hội kết tinh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kinh kì; được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kinh kì, kinh đô nói chung của các nước vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ “người Tràng An” trong câu ca có nghĩa là nói kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối song rất tao nhã, thanh cao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lối sống đó đã trở thành bản sắc; dù có đi xuôi về ngược, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu nguời ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa “rừng hương”, ở đất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục thanh nhã, dáng đi nhẹ nhàng, ăn nói dịu dàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang dịu hiền mà vẫn lanh lợi tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém.
Ngày nay, tiếp thu nhiều luồng ánh sáng văn minh trên thế giới, người Hà Nội đích thực vẫn vừa thanh lịch vừa thông minh, sắc sảo hơn.
Nhưng trong quá trình “mở cửa” cũng không ít những sản phẩm văn hóa đồi trụy du nhập vào Thủ đô ta, làm xuất hiện không ít những lối sống kém văn hóa, xóa đi nét đẹp của con người kinh thành.
Vậy để gìn giữ những truyền thông tốt đẹp mà ông cha ta để lại mỗi chúng ta phải làm gì?
Điều này tùy thuộc vào bản thân mỗi người, tùy thuộc vào sự cố gắng để trở thành người Tràng An thanh lịch. Trong gia đình, chúng ta cần kính trọng người trên, nhường nhịn kẻ dưới. Trong quan hệ với hàng xóm, láng giềng, mỗi người đều cần tôn trọng lẫn nhau, cần cư xử đúng mực ăn nói, hành động lịch sự, nhã nhặn. Có việc gì xích mích xảy ra cũng phải bình tĩnh giải quyết không nên cãi cọ, chửi bới, ẩu đả. Ra ngoài thì ăn mặc sao cho đứng đắn. Đi làm, đi học thì nên mặc theo quy định cua cơ quan nhà trường. Ngày nghỉ, đi chơi, đi dự lễ hội hoặc theo lễ phục dân tộc, hoặc theo y phục mới cũ cần lựa chọn thích hợp với dáng người, với lứa tuổi… tránh đua đòi.
Ăn chơi theo mẫu mốt không thích hợp thực ra cũng không đẹp.
Tóm lại và hơn thế nữa là giữ gìn những truyền thống, phong tục tốt đẹp, không để chúng phôi pha dần theo ngày tháng. Chúng ta cần cố gắng tự rèn luyện để đất nước có thể tự hào với truyền thống mà qua chặng đường lịch sử lâu dài vẫn giữ được và lấy đó làm cơ sở để xây dựng một xã hội tươi đẹp, hạnh phúc và có thể sánh vai với các cường quốc năm châu
Tục ngữ có câu:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Em hãy giải thích và bình luận câu tục ngữ trên.
MB:
– Khái quát về kinh đô Thăng Long xưa với những truyền thống thanh lịch.
– Nêu vấn đề: nét đẹp của người kinh đô là thanh lịch.
TB:
1. Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ.
– Hoa nhài là loài hoa trắng, không rực rỡ nhưng hương thơm bền.
– Giá trị của hương thơm với vẻ đẹp phẩm chất.
– Người Tràng An: người kinh đô.
– Vẻ đẹp của người kinh đô cũng là vẻ đẹp bên trong: nếp sống thanh lịch, nhã nhặn, trong sáng, lịch sự,..
2. Giá trị của câu tục ngữ xưa trong cuộc sống thủ đô ngày nay.
– Vẫn giữ nguyên tính đúng đắn và cần được phát huy.
– Những quan niệm sai lệch hiện nay cần phê phán.
3. Suy nghĩ về việc giữ gìn truyền thống thanh lịch của người thủ đô.
– Vì sao ngày nay càng phải nhớ câu tục ngữ này?
– Muốn giữ gìn và phát huy truyền thống thanh lịch, chúng ta phải làm gì?
KB:
– Nhấn mạnh bản sắc văn hóa Việt Nam trong nếp sống thanh lịch truyền thống.
– Vai trò của nếp sống thanh lịch trong xây dựng thủ đô.
+Nói rằng “chẳng thơm”, nói rằng “không thanh lịch” chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người Thủ đô Thăng Long – Hà Nội: nét thanh lịch…
+Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc, với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng, và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức nồng nàn mà chỉ thoang thoảng, nhưng lâu bền.
+Còn Tràng An, vốn là kinh đô của muời hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kinh kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi tụ hội kết tinh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kinh kì; được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kinh kì, kinh đô nói chung của các nước vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ “người Tràng An” trong câu ca có nghĩa là nói kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối song rất tao nhã, thanh cao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lối sống đó đã trở thành bản sắc; dù có đi xuôi về ngược, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu nguời ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa “rừng hương”, ở đất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục thanh nhã, dáng đi nhẹ nhàng, ăn nói dịu dàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang dịu hiền mà vẫn lanh lợi tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém.
Có lẽ, đa số chúng ta đều dễ dàng hiểu được thông điệp ngữ nghĩa được ngụ ý trong câu ca dao này: Dù không có vị thơm (như thường có) thì cũng là loài hoa thuộc dòng hoa lài (hoa nhài). Và dù không được “lịch" (lịch lãm, từng trải) thì cũng đang mang danh là người Tràng An (theo quan niệm xưa, được hiểu là người thuộc xứ kinh kỳ).
Câu ca dao nói lên một nét đẹp đặc trưng, tinh tế và đó là niềm tự hào của mỗi công dân đã và đang sống trên mảnh đất Thăng Long từ xa xưa cho đến bây giờ. Bởi lẽ giàu có, phú quý thì nơi nơi nhiều người có, nhưng hiểu biết, lịch lãm thì không phải cứ nhiều tiền là có được. Đồng thời, câu này cũng gián tiếp nhắc nhở những con người của “Hà Nội ngàn năm văn hiến” cần phải có ý thức, bổn phận về việc trau dồi phẩm chất, sao cho xứng đáng với truyền thống đã có và đang có, với niềm tin yêu, kỳ vọng của mọi người.
Điều tôi muốn nói ở đây là bây giờ, đa số câu thứ hai trong câu ca dao trên được đọc là “Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Về ngữ nghĩa, cấu trúc này không khác, thậm chí tường minh hơn (dẫu là không được thanh lịch song dù sao cũng đang được tiếng là người Tràng An - những người được tôn vinh vốn dĩ là có nét đẹp về phẩm chất (thanh nhã, lịch lãm, lịch sự…). Tuy nhiên, từ xa xưa, câu này vẫn được truyền tụng là “Chẳng thơm cũng thể hoa lài/Chẳng lịch cũng thể là người Tràng An”. Theo tôi, đây mới là nguyên gốc của câu ca dao. Nó còn lưu giữ trong khá nhiều tài liệu và bản thân tôi đã đọc trong sách giáo khoa thuở nhỏ.
Trước hết, hai câu lục bát trên có sự tương đồng về cú pháp, lặp cấu trúc “chẳng x cũng thể A = không có phẩm chất x cũng vẫn là A”. Chuyện song hành cú pháp như vậy trong văn chương không hiếm. Chẳng hạn: Cơm ăn một bát sao no/Ruộng cày một vụ sao cho đành lòng (ca dao); Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng/Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương/Nếu là mây tôi sẽ là một vừng mây ấm/Là người, ta sẽ chết cho quê hương… (bài hát Tự nguyện của nhạc sĩ Trương Quốc Khánh). Phép lặp kép diễn ra trong các câu kế tiếp nhau tạo nên hướng lập luận và làm cho thông điệp rõ ràng, thuyết phục hơn.
“Chẳng x cũng thể A” là một cấu trúc không quen thuộc của tiếng Việt. Cấu trúc lạ này vẫn được hiểu (và không bị hiểu sai) khi nó được đặt trong hai phát ngôn mà hướng lập luận là như nhau. Lài (nhài) là một loại cây nhỡ, là hình bầu dục, hoa màu trắng mọc thành cụm, nở về đêm, có vị thơm thanh mát (Hoa đào chưa thắm đã phai/Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu). Đây là “vật chứng” quan trọng được đưa ra làm xuất phát điểm cho lập luận.
Tương tự với nét đẹp của hoa lài, người Thăng Long - Hà Nội được coi là những người có tính cách riêng, tiêu biểu cho cư dân vùng kinh thành: đẹp, lịch sự, tế nhị, từng trải, biết cách cư xử đúng mực. Chữ LỊCH ở đây nghĩa rộng hơn nhiều (lịch duyệt, lịch lãm, lịch sự, lịch thiệp…) so với thanh lịch, vốn chỉ là một nét phẩm chất (thanh nhã và lịch sự). Do đó, theo tôi, khi trích dẫn, cần phải trả câu ca dao trên về dạng “nguyên sơ” của nó, vừa thống nhất, chặt chẽ về cấu trúc, vừa hàm súc và giàu sức liên tưởng về ngữ nghĩa:
Chẳng thơm cũng thể hoa lài
Chẳng lịch cũng thể là người Tràng An.
Bạn tham khảo, chúc bạn học tốt!![]()
Cứu 1 mạng người hơn xây bảy tháp phù đồ" - nếu đem so sánh bình thường thì đây chì là một cách so sánh thôi; nhưng nếu đặt vào tình cảnh của xã hội khi mà ai cũng đua tranh cúng dường đóng góp chùa lớn, chùa mới chỉ để mục đích khoe khoang "công đức", trong khi bên ngoài phố vẫn còn người ăn xin chết đói thì câu này lại có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc.
Cũng tương tự như chuyện Taliban phá hủy tượng Phật ở Bamiyan trước đây; tại vùng này có rất nhiều người tị nạn trong cảnh đói khát mà chính quyền Taliban kêu gọi Liên Hiệp Quốc, các xứ Tây Phương cùng Phật giáo đóng góp giúp đở họ. Qua nhiều năm chẳng ai cho đồng xu vì lý do nhân đạo này. Khi họ tuyên bố phá hủy tượng Phật thì thế giới lại đổ tiền "cứu trợ" bức tượng; điều này đã làm họ tức giận không lay chuyển quyết định phá tượng. Họ tuyên bố là họ chỉ phá những "đống đá vô trì" mà thôi... Họ cho việc khóc tượng là điều giả dối.
DẪU XÂY CHÍN ĐỢT PHÙ ĐỒ
Từ lâu chúng ta đã nghe câu ca dao : “ Dẫu xây chín đợt phù đồ , không bằng làm phúc cứu cho một người ”. Chúng ta phân tích về câu nói này. Trước hết ta tra tự điển không thấy chữ “ phù đồ ” mà từ này bắt nguồn từ tiếng Ấn Độ là Phật Đà. Phù Đồ có nghĩa là xây chùa tháp để thờ Phật. Khi một người dùng từ phù đồ có nghĩa là người đó có thể là nhà Sư hay là người có sự am hiểu tôn trọng về đạo Phật. Tuy nhiên vì sao họ nói dù xây chín lần chùa tháp cũng không bằng làm phúc cứu cho một người. Chín đợt phù đồ là xây tháp thờ Phật cao 9 tầng hoặc chúng ta có 9 lần xây chùa với 9 ngôi chùa khác nhau . Khi nói câu này có nghĩa công đức mà chúng ta dồn vào xây dựng chùa chiền tín ngưỡng rất là lớn.
Trong cuộc đời một người mà phát tâm bỏ tiền của ra xây dựng một ngôi chùa đã là việc lớn lao rồi. Khi ngôi chùa đó được bá tánh Phật tử tới lui nghe pháp tu học , có những vị Thầy tới giảng dạy giáo hóa thì công đức của người đó rất lớn. Còn trong câu này nói một người làm ra đến 9 ngôi chùa thì công đức không thể nghĩ bàn.
Người đó giành hết tâm huyết , giành hết cuộc đời cho tín ngưỡng nhưng ông bà ta nói công đức xây chùa đó là thua kém công đức mà chúng ta ra ân cứu một người khỏi cơn hoạn nạn nguy biến. Chúng ta thường thấy hiếm có người nào bỏ tiền của ra xây một ngôi chùa mà không có sự hùn phước của nhiều người đóng góp tịnh tài cho công việc đó.
Chúng ta phân tích khách quan để thấy câu ca dao này rất thâm thúy và đúng với đạo lý nhà Phật. Người nói câu này là người hiểu đạo Phật sâu sắc , hiểu tới gốc rễ của đạo Phật. Còn người hiểu cạn sẽ buồn nói mình mộ đạo nên việc xây chùa là tốt , chứ sao nói công đức không bằng cứu người. Thoạt nghe qua chúng ta cứ tưởng như bác đạo Phật.
Chúng ta biết rằng cứu một người qua cơn nguy biến thì phước đức rất lớn . Thứ nữa người cứu người khác thường họ có tâm từ bi thương người , sẳn lòng dấn thân giúp đỡ , thậm chí có thể hy sinh cả tính mạng để cứu người. Thí dụ : Một người dám lao ra đoàn tàu lửa đang lao vùn vụt tới để cứu một em bé đi lạc trên đường ray , hay lính cứu hỏa sẳn sàng lao vào căn nhà đang bốc cháy ngùn ngụt để cứu người bị nạn , hoặc một người bị lật thuyền rớt xuống sông kêu cứu được ta bơi ra cứu giúp mang vào bờ , cứu người trong thiên tai bão lụt v.v…như thế không những ta cứu mạng người , tránh những sự mất mát đau buồn cho người thân của nạn nhân , còn mang niềm vui đến cho những người thân , bà con xóm giềng sau biến cố đó. Công đức cứu người đó cộng hưởng nhiều mặt nên là rất lớn.
Khi chúng ta làm việc phúc chẳng hạn như cho một người nào đó 100 ngàn VNĐ , đi xin việc làm cho ai đó , tài trợ tiền học phí cho những đứa trẻ nghèo , mua sách vỡ tặng học sinh nghèo , xây cây cầu cho dân làng và trẻ em qua lại học hành sinh hoạt , hiến một miếng đất mấy sào để xây bệnh viện , trường học v.v… khi ta làm việc nào chỉ thấy một việc , chứ nào biết ảnh hưởng rất lớn là mọi người xung quanh được hưởng lợi ích , có hệ quả lây lan đến mọi người.
Khi xây cất một cái chùa thì có Phật Tử , Tăng Ni đến tu học , rồi giáo hóa nhờ đó mà đạo lý của Phật lan tỏa vào cuộc đời. Khi lời Phật dạy rớt vào tâm người thì giúp bá tánh có thiện căn lành từ kiếp này sang kiếp khác.
Việc cứu giúp người công đức cũng rất lớn. Vậy sau câu ca dao này có vẻ thiên vị về công đức cứu người con người hơn cả việc xây dựng chùa tháp.
Chúng ta biết mục tiêu của đạo Phật là cứu giúp con người và tất cả giáo lý của đạo Phật là nhằm mục tiêu cứu khổ ban vui. Chúng ta cứu người là áp dụng lời Phật dạy vào thực tiễn cuộc đời.
Chúng ta không phải là dồn hết tâm lực của mình vào tâm linh tín ngưỡng mà quay lưng bỏ quên cuộc đời.
Người hiểu đạo là người có công đức thực tế với cuộc đời. Ta không thể thuộc làu kinh điển mà thực tế luôn vị kỷ cho mình , không biết giúp đỡ ai.
Khi ta hiểu Đạo sâu sắc rồi thì đạo nằm trong từng chiếc lá rơi , trong từng mầm xanh vươn lên , đạo nằm trong tiếng chim hót lúc ban mai, đạo nằm trong tiếng khóc của đứa trẻ bên làng, đạo nằm ở một người phụ nữ gánh rau ra chợ bán buổi sáng, đạo nằm ở bà cụ già đang quẩy gánh đi về nhà trong buổi chiều hoàng hôn, , đạo nằm ở đứa bé bán lạc rang trong xóm với tiếng rao vang , đạo nằm nơi đứa trẻ và con trâu đang cày dưới đồng ruộng yên bình, đạo nằm nơi đứa bé đứng trông mẹ đi chợ về v.v…và đạo nằm trong tất cả những điều mà người ta đau khổ hay hạnh phúc.
Một người hiểu đạo không lệ thuộc đạo ở chùa chiền hay đạo ở trong tâm mình nữa mà mỗi bửa sáng khi mở cửa ra nhìn thấy cuộc đời thì tất cả tràn ngập đạo lý và tất cả đều kêu gọi bổn phận của chúng ta bước đến với cuộc đời để làm một việc gì đó có ý nghĩa , mang lại lợi ích cho mọi người. Khi nào tình thương yêu chúng ta gửi đến từng thân phận con người , từng niềm vui nỗi khổ của con người , có tình thương và trách nhiệm với con người thì đó chính là Đạo.
Người chưa hiểu đạo thì thấy đạo chỉ nằm ở chùa , còn khi về nhà thì vẫn tham sân si như thường. Người bắt đầu hiểu đạo thì thấy đạo trong tâm luôn giữ không phạm điều sai lầm. Còn người hiểu đạo sâu sắc , không còn phạm sai lầm nữa , tình thương yêu lan tỏa ra khắp nơi trong cuộc sống thì thấy nơi nào cũng là đạo , nơi nào cũng là để ta thương yêu đến từng lá cây , ngọn cỏ , từng người già , em bé v.v…Khi gặp gỡ mọi người trong cuộc sống này ta luôn bị thôi thúc muốn làm một cái gì đó cho mọi người vui vẻ lợi ích an lạc , thì đó chính là Đạo. Hiểu đạo đến mức độ như vậy là chúng ta đã ngộ đạo ở tầm cao , còn nếu ta chỉ vị kỷ cá nhân không quan tâm đến mọi người , không cứu giúp ai thì ta phải tu còn nhiều lắm.
Câu ca dao chúng ta nghe có vẻ công đức tách đôi ra , một công đức thuộc về tôn giáo tín ngưỡng là xây chùa tháp. Một công đức thuộc về cứu giúp con người ở bên ngoài xã hội làm chúng ta cứ tưởng công đức giành cho đạo không bằng công đức giành cho đời. Thật sự công đức nằm trong cuộc sống mà đạo cũng nằm trong cuộc sống , trong tất cả mọi người mọi chúng sinh.
Đạo là gì ? Đức Phật ra đời để làm gì ? chính là để cứu độ chúng sanh , để chúng sinh sống đúng đạo lý , được an vui và giải thoát.
Câu ca dao này còn có ý nghĩa là đừng nghĩ đây là công đức xây chùa tháp , còn kia là công đức cứu giúp người mà công đức chính là bắt nguồn từ cuộc sống. Cho dù có xây chín bậc phù đồ mà không đem lại lợi ích thực tế cho con người thì không phải là công đức chân thật. Nếu chùa đó không lan tỏa được đạo lý vào cuộc đời thì thật là phí phạm.
Câu ca dao này cảnh báo công đức thật sự nằm trong cuộc sống , còn chùa là hệ quả phát sinh tự nhiên của công đức chứ không phải nền của công đức. Ai chưa biết thương yêu con người , ý các Ngài cảnh báo là phải biết yêu thương cứu giúp con người trước , rồi hãy làm việc xây chùa tháp. Quan điểm này thật chuẩn xác đối với đạo Phật. Căn bản là chúng ta thương yêu giúp đỡ con người trước , vì nếu không như thế chúng ta chỉ cầu quả báo vị kỷ cho bản thân khi đóng góp xây chùa tháp.
Có hai điều cực đoan mà chúng ta cần tránh : Cực đoan thứ nhất cho là tôi không cần tu , không cần đạo , chỉ cần thực tế là lo cho con người , lo cho cuộc đời. Đó là một cực đoan vì không biết đến đạo lý , sẽ không phát triển trí tuệ tâm linh. Cực đoan thứ hai là chỉ biết đến tu tập tâm linh tín ngưỡng nhưng không bao giờ biết đến một việc làm từ thiện trong cuộc sống , quay lưng với nỗi khổ niềm đau của nhân thế. Đó cũng là một cực đoan vì không có lòng từ.
Con người phải phát triển trí tuệ , tiến dần từ phàm lên Thánh , chứ không sẽ luẩn quẩn đọa lạc mãi trong luân hồi sanh tử.
Những người thích tu tập nhưng không có những công đức trong xã hội thì giống như xây tòa tháp không có nền móng.
Chúng ta thấy gốc của câu ca dao trên là dựng lại một trung đạo. Việc cứu người là chính yếu ưu tiên hàng đầu , cứu người là công đức lớn.
Có 3 trường hợp cứu người :
•Thứ nhất là chúng ta cứu người trong nguy cấp như : người ta đang bị tai nạn , đang bị thương tật , đang bị hỏa hoạn , bị côn đồ đánh đập cướp của v.v… đây là ưu tiên số một.
•Thứ hai là giúp người nghèo đói , bệnh tật , những mảnh đời cơ nhỡ bất hạnh xung quanh ta. Đây là trường hợp có thời gian để chúng ta thực hiện.
•Thứ ba là giúp con người khỏi u tối mê lầm , để người ta có đạo lý , tránh điều tội biết làm phúc , tăng trưởng phẩm giá đạo hạnh của người ta lên. Điều này khó làm nhưng có giá trị lợi ích lâu dài vì khi đạo lý rớt vào tâm rồi thì dù người đó có già mất đi thì đạo lý trong tâm vẫn còn tồn tại đến những kiếp sau. Chúng ta phải có đức độ , có duyên lành mới làm được điều này.
Chúng ta nói chuyện với nhau về câu ca dao : “ Dù xây chín đợt phù đồ , không bằng làm phúc cứu cho một người ” là để tránh sự cực đoan và thấy rằng gốc rễ của Đạo nằm trong cuộc sống. Chúng ta cần thương yêu giúp đỡ nhau trong cuộc sống thực tế làm nền , rồi chúng ta mới tu tập thăng tiến về tâm linh được. Chúng ta không thể làm một phàm phu mãi mãi mà phải tiến dần lên thành một vị Thánh trong đạo Phật.
| Văn miêu tả | Văn biểu cảm |
| Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt. | Biểu cảm là bộc lộ tình cảm chủ quan của bản thân trước sự vật, sự việc, hiện tượng, con người trong đời sống. |
Nếu người Pháp tự hào về một đất nước có dòng sông Seni xanh biếc lững lờ trôi, nếu người Trung Hoa mến yêu xứ sở có đỉnh Tân Cương cao vời vợi, có những Trường Giang, Hoàng Hà cuồn cuộn sóng dâng… thì em cũng gắn bó trái tim mình với một mảnh đất đẹp núi, đẹp sông, đẹp lòng người nhân hậu. Việt Nam, quê hương em, xứ sở của những cánh đồng xanh xanh lúa mới, trắng muốt những cánh cò bay, cánh cò chở nắng qua sông, cánh cò mang theo tiếng hát lời ca của người dân lao động… Đấy là những vần điệu ca dao, những câu hò, điệu lý… vẳng lên trong những cung bậc tình cảm lúc bổng, khi trầm…
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, từ thuở mang gươm đi mở nước, người Việt Nam đã đổ bao mồ hôi xương máu để tô màu xanh sự sống lên mảnh đất quê hương. Từng oe oe cất tiếng khóc chào đời trên đất Việt, từng bao phen quyết chiến với giặc ngoại xâm, từng vui với niềm vui, buồn với nỗi buồn quê Việt, có người Việt Nam nào chẳng yêu mến quê hương? Tình yêu nước chứa chan quyện vào bức tranh Tây Hồ buổi sớm:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mờ khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Người nghệ sĩ dân gian khéo léo đan cài họa phẩm Tây Hồ cả hai không gian động tĩnh. Mệt cành trúc la đà mềm mại, một hồi chuông trầm ngân xa, một thoáng khói sương huyền ảo cùng nhịp chày giã giấy nhịp nhàng. Và mặt nước Hồ Tây phẳng lặng trong trẻo như một tấm gương, tất cả quyện lại thành bức tranh của một góc Thăng Long ngàn năm văn vật… Rồi miền Bắc, ta bước chân vào xứ Nghệ miền Trung:
Đường vô xứ nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Đường vào xứ Nghệ có sơn thuỷ hữu tình, nước nước, non non nhuộm màu xanh tươi mát, còn đường vào miền Nam là sông nước mở rộng mênh mang:
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Hai nhánh sông Nhà Bè dẫn ta xuôi về những mảnh đất mới màu mỡ hứa hẹn những vụ lúa bội thu… Mỗi địa danh, mỗi dòng sông, mỗi cánh đổng, ngọn núi đã in đậm bóng hình trong trái tim người Việt. Người dân lao động gẮn bó với quê hương bằng một tình yêu thiết tha, sâu đậm, nồng nàn mà ca dao ca ngợi cảnh Đẹp đất nước như bức thông điệp chứa chan tình yêu tha thiết ấy.
Tâm hồn Việt Nam ẩn chứa trong những vần ca dao đâu chỉ đẹp bởi tình yêu quê hương, đất nước. Tâm hồn Việt Nam, đấy là tâm hồn lạc quan, yêu cuộc sống, yêu con người. Một bống trăng thanh bên cầu ao cũng trở nên thơ mộng, tươi mát:
Hỡi cô tát nước bèn đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Một buổi cấy lúa trên đồng cũng hoá nhộn nhịp bởi lòng người phấn khởi vui tươi:
Rủ nhau đi cấy, đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Tiếng hát lạc quan, yêu đời, tiếng hát ước mơ, hi vọng đã điểm nụ cười trên môi người lao động, xoá tan những vất vả, nhọc nhằn, tô thêm màu xanh trên ruộng lúa, nương dâu, bãi ngô, bãi sắn…
Tâm hồn Việt Nam qua khúc ca dao là một cung đàn với những nốt nhạc bổng trầm, tượng trưng cho những sắc thái tình cảm muôn màu, muôn vẻ. Phải chăng trong những cung bậc ấy, tình yêu giữa người với người là âm điệu âm vang nhất, lắng sâu và tha thiết nhất?
Từ thuở nằm võng, nằm nôi, mỗi chúng ta đều yên giấc trong lời ru của bà, của mẹ. Lời ru man mác hoà với nhịp võng kéo cà kẽo kẹt, ngân dài theo những làn gió mát dịu mùa thu:
Gió mùa thu … mẹ ru con ngủ…ơ… ngủ năm canh chày…ơ…năm canh chày, thức đủ vừa năm.
Con người có cố có ông
Như cây có cội, như sông có nguồn.
Lòng biết ơn công lao dưỡng dục sinh thành của cha, của mẹ đã trở thành nét đẹp truyền thống trong tâm hồn Việt Nam:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Bắt nguồn từ tình cảm gia đình gần gũi, thân thuộc, tâm hồn Vỉệt Nam mở rộng, người Việt Nam yêu đồng bào, yêu những người cùng chung nòi giống Lạc Rồng:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Tinh thần đoàn kết, tương trợ tương thân là mối dây tình cảm thắt chặt mối quan hệ anh em của những người dân đất Việt. Trải qua bao chuyến đò thời gian, câu ca dao cùng tình đoàn kết, gắn bó vẫn sáng mãi trong tâm hồn Việt Nam, không dòng chảy nào ngăn lại được. Người lao động còn yêu cả bạn bè cùng cảnh ngộ.
Đôi ta là bạn chăn trâu
Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng.
Tâm hồn người bình dân mộc mạc quá, trong sáng! Tâm hồn ấy như chuyến đò ngang chở đầy tâm tư, tình cảm: tình mẹ con, chồng vợ, tình bè bạn, tình đôi lứa yêu nhau… Lời tỏ tình thường xuất phát từ những cái cớ nho nhỏ, đáng yêu hàng ngày:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà…
Mới kể chuyện tát nước đầu đình đấy, mới kể chuyện bỏ quên chiếc áo đấy, anh con trai đã khéo léo lái sang chuyện thắt buộc người ta giữ làm tin rồi. Anh chàng tế nhị mà cũng táo bạo quá! Cái tế nhị và táo bạo duyên dáng đáng yêu!
Tình yêu đồng hành cùng nỗi ngớ:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đổng lửa như ngồi đống than.
Nỗi nhớ khi cháy bỏng, thiết tha làm lòng dạ xốn xang, bối rối là thế, khi lại mênh mang, toả rộng cùng trời cùng mây:
Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện chăng tơ
Nhện ở, nhện hỡi, nhện chờ mối ai? …
Cả sao trời, cả không gian và vũ trụ như chùng xuống, như thấu hiểu tâm tình kẻ đang yêu, đang mang trong tim nỗi nhớ thương da diết… Tâm hồn chàng trai khi ngỏ ý, tâm hồn cô gái lúc nhớ thương… Tất cả là tâm hồn Việt Nam yêu có thuỷ có chung, sống có tình có nghĩa:
Trăm năm dù lỗi hẹn hò
Cây đa bến nước, con đò vẫn đưa.
Hoăc:
Đem vàng đem nghĩa mà cân
Vàng thì nặng bảy, ái ân nặng mười.
Chuyến đò chở tâm hồn người dân đất Việt sẽ theo dòng thời gian trôi mải đến ngày mai, ngày mai nữa để các thế hiện hôm nay và mai sau mãi ấp ủ, nâng niu những làn điệu ca dao – dân ca trữ tình sâu lắng, mãi yêu quê hương xứ sở, yêu con người, cảnh vật Việt Nam. Cảm ơn ca dao lời ru quê mẹ, lời ru tha thiết mênh mông.
Dẫu con đi hết cuộc đời
Cũng không đi hết những lời mẹ ru.
(Thơ Xuân Quỳnh)
Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã viết rất hay: Mẹ ru con bên nôi, trai gái tự tình bên cối gạo, những người chống đò hát với đêm trăng, họ đã truyền từ đời này qua đời khác các câu thơ tuyệt vời của họ. Biết bao thế hệ qua đi, thời gian tàn phá hết, nhưng những câu hát ấy không có gì phá vỡ nổi vì ngôn ngữ nó quả thật trong veo như ngọc, và trong khối ngọc ấy đã hiện lên cái bóng của con người Việt Nam. Đúng như vậy, trong khối ngọc ấy hiện lên tâm hồn người Việt Nam trong veo như ngọc.
Ai bưng bầu rượu đến đó phải chịu khó bưng về
Em đang ở hầu thầy mẹ cho trọn bề hiếu trung
177 người thích
Thích
![]()
Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc,
Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không.
38 người thích
Thích
![]()
- Ai đi bờ đất một mình,
Phất phơ chéo áo giống hình trò Ba?
Trò Ba đi học trường xa,
Cơm canh ai nấu, cửa nhà ai lo?
- Cửa nhà đã có con Ba,
Cơm canh con Bốn, rượu trà con Năm,
Một trăm chìa khóa con Sáu cầm,
Giang sơn con Bảy giữ, tảo tần con Tám lo…
16 người thích
Thích
![]()
Ai làm cho chuối không cành,
Cho anh không vợ cắn quanh mẹ già.
Mẹ già như mẹ người ta,
Thì anh có vợ trong nhà đã lâu.
Mẹ anh ác nghiệt cơ cầu,
Cho nên anh chịu âu sầu đến nay.
18 người thích
Thích
![]()
Ai ơi chồng dữ thì lo,
Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao.
149 người thích
Thích
![]()
Ai ơi giữ chí cho bền,
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.
Xin đừng làm, nói đơn sai,
Tin mình đừng sợ những lời dèm pha.
Anh em một họ một nhà,
Thương nhau chân thật đường xa cũng gần.
117 người thích
Thích
![]()
Ai về tôi gửi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
9 người thích
Thích
![]()
Anh đi làm mướn nuôi ai,
Cho áo anh rách, cho vai anh mòn?
Anh đi làm mướn nuôi con,
Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai.
128 người thích
Thích
![]()
Anh em chín họ mười đời,
Hai người cùng có, chẳng rời nhau ra.
Chị em cùng khúc ruột rà,
Kẻ giàu, người khó, họ xa tám đời.
123 người thích
Thích
![]()
Anh em cốt nhục đồng bào,
Vợ chồng là nghĩa lẽ nào không thương.
110 người thích
Thích
![]()
Anh em hiền thật là hiền,
Bởi một đồng tiền làm mất lòng nhau.
123 người thích
Thích
![]()
Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.
161 người thích
Thích
![]()
Anh em như chân như tay,
Vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa.
105 người thích
Thích
![]()
Anh ơi! em bảo anh này,
Công cha nghĩa mẹ cao dày chớ quên.
12 người thích
Thích
![]()
Anh về Bình Định thăm cha,
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em.
3 người thích
Thích
![]()
Ba bà đi chợ với nhau
Một bà đi trước kể chuyện nàng dâu
Một bà đi sau tu tu lên khóc
Nhà bà có phúc cưới được dâu hiền,
Nhà tôi vô duyên cưới cô dâu dại
Việc làm thì rái, chỉ tưởng những ăn
Hễ bảo quét sân đánh chết ba gà
Bảo đi quét nhà, đánh chết ba cho
Có mâm giỗ, họ miếng ra miếng vào
Rửa bát cầu ao liếm dĩa quèn quẹt
Đi chợ quên thúng quên quan tiền
Về nhà quên ngõ đâm xiêng vào chùa
Vo chùa thấy hai ông Hộ Pháp mới tô
Nó nghĩ khách tới đầy nhà nhà tôi
Trở ra nó mỉm miệng nó cười
Thằng chồng nó đánh một hồi cẳng chân
Bà đi giữa nghe chuyện phân vân
Rằng dâu tôi cũng không đần không khôn
Mẹ chồng có nói đến con
Thì con tôi chỉ cười dòn nói đưa!
6 người thích
Thích
![]()
Bao giờ cá lý hóa long,
Đền ơn cha mẹ ẵm bồng xưa nay.
108 người thích
Thích
![]()
Bảo vâng, gọi dạ, con ơi,
Vâng lời sau trước, con thời chớ quên.
Công cha, nghĩa mẹ, khôn đền,
Vào thưa, ra gửi, mới nên con người.
17 người thích
Thích
![]()
Bồng bềnh giữa chốn giang tân,
Bên tình bên nghĩa biết phân bên nào.
Em ơi, nhất lê nhì lựu tam đào,
Bên tình bên nghĩa, bên nào cũng thương.
87 người thích
Thích
![]()
Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp mật, như đường mía lau.
150 người thích
Thích
![]()
Cá không ăn muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
128 người thích
Thích
![]()
Cái ngủ, mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con giếc, con trê,
Cầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn.
91 người thích
Thích
![]()
Cha mẹ để của bằng non,
Không bằng để đức cho con ở đời.
6 người thích
Thích
![]()
Cha mẹ là biển là trời,
Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha.
23 người thích
Thích
Tham khảo:
1. Mở bài
Ca dao tục ngữ một thể loại rất đặc trưng của dân tộc VN, xuất hiện lâu đờiNội dung phản ánh chân thực, thơ bay bổng, không gò bó trong quy tắc, một phần trong đời sống dân ta xưaBài ca dao Cày đồng đang buổi ban trưa…dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” đã trở nên bất hủ.2. Thân bài
Xúc tích chỉ có vỏn vẹn bốn dòng.Nỗi vất vả của người dân nước ta, quanh năm gắn bó với ruộng đồng, một nắng hai sương để làm ra hạt gạoTrong hai câu đầu tiên:Tả bức tranh chân thực sự cần cù lao động, sự cực nhọc của người dân trên những thửa ruộng dài xa tít tắp, rộng.Thời tiết nước ta lại vốn khá khắc nghiệt lúc mưa dầm, lũ ngập, lúc nắng gắt…. người làm nông nghiệp còn khổ gấp nhiều lầnThứ giúp sức cho người làm nông là cái cày và con trâu , tô đậm con người lên giữa không gian.Đều đặn sáng tinh mơ, những ngày mùa, người ta còn phải làm việc quên giờ giấc làm đất rồi phải gieo mạ, rồi cấy…Hình ảnh so sánh cụ thể, từ tượng thanh “thánh thót” rất nhiều, rất nhanh, việc khó khăn, tốn sức khỏe nhấtDùng cách nói cường điệu, sự xót xa, thương cảm cho người dân lao độngTrong hai câu tiếp theo:Lời nhắc nhở đầy ẩn ý sâu sắc.Khi thiên tai ập đến, những nỗi lo, miếng cơm manh áo của mình đang ở trên đồng, hi sinh sức lực của mình để chống hạn, chống ngập…Bát cơm đầy, những hạt gạo trắng đó mang công sức của người làm ra nó bằng bao mồ hôi, cả mệt mỏi, nước mắtSống có tình người, có đạo đức. Được thành quả phải luôn biết nhớ người làm ra nó. là đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”3. Kết bài
Câu chuyện về vấn đề “uống nước nhớ nguồn” vẫn đang được diễn ra hàng ngày.Biểu hiện cụ thể là sự trân trọng và biết ơn sâu sắc, biết bảo vệ, phát huy giá trị cao quý, những hành động đi ngược lại thì bị lên án và phê phán, nâng cao trách nhiệm giáo dục.
Đất nước ta nay đang trong thời kì mở cửa, những đổi mới do sự giao lưu văn hoá rộng rãi đã đem lại bao không khí mới cho cuộc sống. Song mở cửa ắt gió lùa. Không ít những nếp sống vốn là nét đẹp riêng của dân tộc đang lung lay trước cơn gió lùa của thời mở cửa. Không ít người sa vào con đường tội ác, họ quên đi gốc rễ, đánh mất bản thân. Muốn tìm lại được mình thì phải trả bằng không ít đớn đau. Đáng trách hơn có kẻ lại còn cho rằng nền nếp văn hoá lâu đời là cổ hủ, phong kiến. Hà Nội mến yêu của ta, Thủ đô mến yêu của ta cũng không là ngoại lệ. Vậy câu:
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ”
có còn chỗ đứng nữa không? Làm sáng tỏ điều đó không chỉ là trách nhiệm của, riêng bạn hay riêng tôi mà là của tất cả chúng ta.
Đọc câu ca dao mà không ít người ngơ ngác: Sao bảo đó là câu ca nói về người thủ đô Thăng Long – Hà Nội? Chắc họ ngạc nhiên với cái tên Tràng An? Vâng, Tràng An xưa kia vốn là tên kinh đô của Trung Quốc, là đất đế đô của nhiều thế kỉ của nhiều triều đại phong kiến nên tập trung nhiều nét đặc sắc của văn minh Trung Hoa. Người Tràng An có những nét văn minh, thanh lịch mà nơi khác không có hoặc có mà không đậm nét bằng. Lâu dần, “Tràng An” trở thành tên chung, tượng trưng cho những vùng đất kinh đô và nói “người Tràng An” là chỉ chung những người sống ở kinh kì của một nước, không cứ là kinh kì của Trung Hoa. Bởi thế, ca dao cổ Việt Nam cũng gọi người kinh đô của mình là “người Tràng An”.
Nói “không” (không thơm, không thanh lịch) cũng chỉ là cách nói thậm xưng (ngoa dụ) vậy thôi, chính là nhằm để khẳng định, để ca tụng: hoa nhài có hương thơm đặc biệt, hoa khác không dễ gì có được, cũng như người Hà Nội có nếp thanh lịch đặc biệt, nơi khác không dễ gì sánh được. Và vì nó có vẻ riêng biệt nên nói “không” hay đúng hơn, nói “ít” cũng là so với cái hương thơm, cái thanh lịch không giống với cái hương thơm và nét thanh lịch của chính nó đó thôi.
Có người lại cho rằng, người Hà Nội thường là xinh đẹp, là trai thanh gái tú. Họ không chấp nhận người lao động lam lũ là thanh lịch, và không hề băn khoăn khi vội vàng khẳng định một chàng trai đẹp, mũi dọc dừa, mắt sáng là một con người thanh lịch. Sai hết, sai cơ bản vì thanh lịch là tính cách của con người. Câu ca dao ấy nói rằng người Tràng An là người thanh lịch, vì vậy không thơm nồng nàn đắm đuối như hoa hồng mà nhẹ nhàng ngát hương như hoa nhài, dẫu thế nào cũng được tiếng thơm là người Thăng Long – Hà Nội.
Vậy thế nào là người thanh lịch? Người thanh lịch là con người trong sáng (thanh) và lịch sự (lịch). Con người đó không nhỏ nhen tầm thường, biết ứng xử tốt, biết nói hai từ “cảm ơn” và “xin lỗi” đúng nơi, đúng lúc.
Tại sao người Hà Nội lại được tiếng là thanh lịch? Vì nước Đại Việt ta từ ngàn năm trước, nơi đâu có trường học lớn nhất? – Thăng Long. Nơi đâu như có ánh sáng, có khí thiêng sông núi kết tinh như Bấc Đẩu rạng rỡ chiếu khắp giang sơn đất nước? – Thăng Long. Chính vì thế mà nhắc tới Thăng Long – Hà Nội, nhắc tới người Hà Nội, mọi người như nhắc tới một nơi đẹp đẽ cao cả, nhắc tới người thông minh, thanh lịch.
Thật diễm phúc cho ai được sinh ra và lớn lên trên đất Hà Nội, để trở thành người Hà Nội. Nhưng Hà Nội ngày hôm nay đã khác với Hà Nội ngày xưa. Chưa nói tới Hà Nội của thời câu ca dao ra đời, chỉ xin so với Hà Nội những năm khói lửa chống đế quốc Mĩ thôi, đã thấy Hà Nội nay mất đi không ít những nét đáng quý của con người Hà Nội. Người Hà Nội thuở ấy không sợ đạn bom, sẵn sàng hi sinh vì người khác. Họ đối xử với nhau thật đẹp, mộc mạc nhưng chân tình, ấm áp; chỉ cần gặp nhau một lần thôi, thoáng chốc thôi nhưng dư âm thì mãi mãi. Và giữa một thời bom dội, họ luôn đứng thẳng, từ nơi sâu thẳm trong trái tim tràn ngập một niềm tin: “Chân ta bước lòng ung dung tự hào, kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao!”. Vì vậy, Hà Nội trở thành “niềm tin yêu hi vọng của núi sông hôm nay và mai sau”. Còn ngày nay? Người Hà Nội ngày nay khá phức tạp. Có những người sống vì bạo lực và cũng vì bạo lực mà bỏ phí mạng sống của mình. Có kẻ suốt ngày thác loạn trong ánh đèn mờ ảo của vũ trường,.. .Song, cũng còn rất nhiều người giữ và đang phát huy được “nếp xưa”: họ sống chân thành, chăm chỉ làm việc để dựng xây gia đình và xã hội,…Nhờ họ mà nếp sống người Hà Nội, đất Hà Nội vẫn giữ được vẻ đẹp riêng.
Không thể có một đất nước hạnh phúc khi không có cuộc sống an ninh ổn định trên đất nước ấy. Mà cơ sở làm nên sự an ninh ấy là cuộc sống có văn hoá. Cuộc sống văn hoá mới không thể cắt lìa với cội nguồn. Có lẽ vì thế mà những năm gần đây, nhà trường và xã hội đều quan tâm giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá dân tộc. Thủ đô ta cũng trong trào lưu đó. Chúng ta quan tâm giữ gìn và phát huy nếp sống thanh lịch của người Hà Nội. Bởi thế, chúng ta thường nghe nhắc nhiều đến câu ca dao xưa, vốn là niềm tự hào của thủ đô:
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.
#tham khảo #
học tốt