Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
rong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp gian lao, lẽ đương nhiên, hình ảnh những người lính, những anh bộ đội sẽ trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hi vọng của cả dân tộc. Mở đầu bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã nhìn nhận, đã đi sâu vào cả xuất thân của những người lính:
Quê hương anh đất mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Sinh ra ở một đất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa. Đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốc và nhân dân đứng dưới một tròng áp bức. Anh và tôi, hai người bạn mới quen, đều xuất thân từ những vùng quê nghèo khó. hai câu thơ vừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của những người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họ tạm biệt người thân, tạm biệt xóm làng, tạm biệt những bãi mía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu, họ ra đi chiến đấu để tìm lại, giành lại linh hồn cho Tố quốc. Những khó khăn ấy dường như không thể làm cho những người lính chùn bước:
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
1:
Vở kịch Tôi và chúng ta phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa những con người có tư tưởng tiến bộ, muốn thay đổi mạnh mẻ phương thức quản lí, tổ chức và lề lối hoạt động sản xuất với những kẻ bảo thủ, xu nịnh, mượn danh bảo vệ truyền thống ở xí nghiệp Thắng Lợi.
Trong giai đoạn khó khăn của đất nước, để phát triển sản xuất cần phải thay đổi các nguyên tắc, quy chế, các phương thức sản xuất cũ, lạc hậu, tức là cần phải thay đổi tư duy. Đổi mới trỏ thành yêu cầu có tính tất yếu trong thơi kì này của đất nước. Cuộc đấu tranh giữa hai phái cũ và mới thật gay gắt nhưng chiến thắng sẽ thuộc về những con người mơi.
Ở hai cảnh trước, Lưu Quang Vũ đã hé mở tình huống mâu thuẫn, tính cách của nhân vật chính. Đến cảnh ha này là cuộc đối đầu gay gắt công khai đầu liên giữa hai tuyên nhân vật diễn ra trong phòng làm việc của Giám đốc Hoàng Việt.
2:
Mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Tôi và chúng ta là mâu thuẫn giữa suy nghĩ và cách làm ăn mới vơi suy nghĩ và cách làm ăn cũ kĩ, lỗi thời. Đây là một vấn đề đã diễn ra ơ mọi nơi, mọi lúc, nó có ý nghĩa lớn lao. Không thể cứ khư khư giữ lấy các nguyên tắc, cơ chế cứng nhắc, lạc hậu mà phải mạnh dạn thay đổi phương thức tổ chức, quản lí để thúc đẩy sản xuất phát triển; không chạy theo chủ nghĩa hình thức mà cần coi trọng thực tiễn, coi trọng hiệu quả thiết thực của công việc; có như thê mơi kích thích được lòng nhiệt tinh, sự đóng góp công sức của mọi người vào sự nghiệp chung. Không có thứ chủ nghĩa tập thể chung chung. Cái "chúng ta" được tạo thành từ những cái "tôi" cụ thể. Vì thế, cần quan tâm một cách thiết thực đến cuộc sống, quyền lợi của mỗi cá nhân con người. Đặt trong tình hình đất nươc ta những năm bấy giờ, vỡ kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, cấp thiết xuất phát từ thực tế cuộc sống, xã hội và có ý nghĩa trực tiếp đối với sự phát triển của đất nước.
Việc dùng từ Hán Việt làm phong phú và sâu sắc thêm ngôn ngữ tiếng Việt, giúp thể hiện sắc thái nghĩa trừu tượng, khái quát hóa các sự vật, sự việc, và tạo ra sắc thái trang trọng, lịch sự, hoặc cổ kính phù hợp với các ngữ cảnh như văn bản khoa học, chính luận, và hành chính
- Điệp ngữ
– “Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi”, “Chín mươi triệu”, “Sóng”
Tác dụng: Nhấn mạnh hình ảnh Tổ quốc thiêng liêng, khắc sâu ý thức cộng đồng dân tộc; tạo nhịp điệu dồn dập, cảm xúc mạnh, thể hiện sự đồng lòng của cả dân tộc trước vận mệnh đất nước. - Nhân hóa
– “Tổ quốc gọi tên mình”, “Sóng quặn đỏ máu”, “Sóng chẳng bình yên dẫn lối”
Tác dụng: Làm cho Tổ quốc và thiên nhiên trở nên có hồn, gần gũi như con người; qua đó khơi dậy tình cảm sâu nặng, thiêng liêng của con người với đất nước. - Ẩn dụ
– “Ngọn đuốc Hòa bình”, “máu nhuộm mặn sóng biển Đông”
Tác dụng: “Ngọn đuốc Hòa bình” tượng trưng cho khát vọng hòa bình, chính nghĩa; “máu nhuộm mặn sóng biển Đông” gợi sự hi sinh, mất mát lớn lao của bao thế hệ để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. - Hoán dụ
– “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”
Tác dụng: Lấy bộ phận “môi người” để chỉ con người Việt Nam, nhấn mạnh sự đồng lòng, cùng chung tiếng nói, chung tình yêu và trách nhiệm với đất nước. - Phóng đại
– “Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau”
Tác dụng: Làm nổi bật nỗi đau lớn lao khi chủ quyền Tổ quốc bị xâm phạm, khẳng định mỗi phần lãnh thổ đều vô giá.
b) Nghị luận: Cảm nghĩ khi nghe hai tiếng “Việt Nam”
Hai tiếng “Việt Nam” vang lên trong đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là tên gọi của một quốc gia, mà còn là tiếng gọi thiêng liêng của lịch sử, của máu xương và khát vọng hòa bình. Khi đọc đến câu thơ “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”, tôi cảm nhận rõ ràng một sự rung động sâu xa trong lòng, như thể cả dân tộc đang cùng thở chung một nhịp.
“Việt Nam” trước hết là kết tinh của bốn nghìn năm lịch sử không ngơi nghỉ. Đó là chiều dài của những cuộc đấu tranh bền bỉ để giữ đất, giữ biển, giữ lấy bản sắc và quyền được sống trong tự do. Hai tiếng ấy gợi nhắc đến biết bao thế hệ đã ngã xuống, để hôm nay đất nước được đứng vững giữa trời xanh. Khi nghe “Việt Nam”, ta không thể không nghĩ đến sự hi sinh thầm lặng của cha ông, những con người đã lấy thân mình chở che Tổ quốc, đổi máu xương lấy hòa bình.
“Việt Nam” còn là biểu tượng của sự đoàn kết. Chín mươi triệu con người, dù ở miền núi hay đồng bằng, dù nơi hải đảo xa xôi hay thành phố nhộn nhịp, đều chung một tiếng gọi. Trong những thời khắc khó khăn, hai tiếng “Việt Nam” có sức mạnh gắn kết kỳ lạ, khiến con người xích lại gần nhau hơn, sẵn sàng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Đó chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam đứng vững trước mọi thử thách.
Không chỉ mang ý nghĩa của quá khứ, “Việt Nam” còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của hiện tại và tương lai. Nghe Tổ quốc gọi tên mình, mỗi người trẻ hiểu rằng yêu nước không chỉ là cảm xúc, mà còn là hành động cụ thể. Đó là học tập nghiêm túc, sống tử tế, tôn trọng pháp luật, biết bảo vệ chủ quyền và danh dự dân tộc bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh, bằng những đóng góp nhỏ bé nhưng bền bỉ mỗi ngày.
Trong đoạn thơ, hình ảnh “ngọn đuốc Hòa bình” cho thấy khát vọng lớn lao của dân tộc Việt Nam: kiên quyết bảo vệ Tổ quốc nhưng luôn hướng tới hòa bình. Hai tiếng “Việt Nam” vì thế không gắn với hận thù, mà gắn với chính nghĩa, với mong muốn được sống yên bình trên chính mảnh đất của mình.
Đối với tôi, khi nghe hai tiếng “Việt Nam”, đó là niềm tự hào xen lẫn trách nhiệm. Tự hào vì được sinh ra trong một dân tộc kiên cường; trách nhiệm vì phải sống sao cho xứng đáng với những hi sinh đã có. “Việt Nam” không chỉ là tên gọi, mà là lời nhắc nhở mỗi người: Tổ quốc luôn ở trong tim, và Tổ quốc cần được gìn giữ bằng cả trái tim và hành động của chúng ta hôm nay.
chuẩn form này 10 đ bạn né
- Chỉ ra các sự vật, hiện tượng… không có tên gọi trong các phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân
+ Nhút (món ăn làm bằng xơ mít muối trộn với một vài thức khác, được dùng phổ biến ở một số vùng Nghệ - Tĩnh)
+ Bồn bồn (một loại thân mềm, số ở nước, có thể làm dưa hoặc xào nấu, phổ biến ở một số vùng Tây nam Bộ)
- Đồng nghĩa nhưng khác về âm
|
Phương ngữ Bắc
|
Phương ngữ Trung
|
Phương ngữ Nam
|
|
Cá quả Lợn Ngã Mẹ Bố |
Cá tràu Heo Bổ Mạ Bọ |
Cá lóc Heo Té Má Tía, ba |
- Đồng âm khác về nghĩa
|
Phương ngữ Bắc
|
Phương ngữ Trung
|
Phương ngữ Nam
|
|
ốm: bị bệnh hòm: chỉ thứ đồ đựng, hình hộp, thường bằng gỗ hay kim loại mỏng, có nắp đậy.
|
ốm: gầy hòm: chỉ áo quan (dùng khâm niệm người chết) |
ốm: gầy hòm: chỉ áo quan (dùng khâm niệm người chết) |
Chỉ ra các sự vật, hiện tượng… không có tên gọi trong các phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân
+ Nhút (món ăn làm bằng xơ mít muối trộn với một vài thức khác, được dùng phổ biến ở một số vùng Nghệ - Tĩnh)
+ Bồn bồn (một loại thân mềm, số ở nước, có thể làm dưa hoặc xào nấu, phổ biến ở một số vùng Tây nam Bộ)
- Đồng nghĩa nhưng khác về âm
|
Phương ngữ Bắc
|
Phương ngữ Trung
|
Phương ngữ Nam
|
|
Cá quả Lợn Ngã Mẹ Bố |
Cá tràu Heo Bổ Mạ Bọ |
Cá lóc Heo Té Má Tía, ba |
- Đồng âm khác về nghĩa
|
Phương ngữ Bắc
|
Phương ngữ Trung
|
Phương ngữ Nam
|
|
ốm: bị bệnh hòm: chỉ thứ đồ đựng, hình hộp, thường bằng gỗ hay kim loại mỏng, có nắp đậy.
|
ốm: gầy hòm: chỉ áo quan (dùng khâm niệm người chết) |
ốm: gầy hòm: chỉ áo quan (dùng khâm niệm người chết) |
Từ có yếu tố Hán Việt **“quang”** mang nghĩa là **ánh sáng** là:
👉 **Quang học**, **Quang phổ**, **Quang minh**
---
### ✅ Giải thích:
* **Quang** (光) trong Hán Việt nghĩa là **ánh sáng**.
* Phân tích các từ:
| Từ | Nghĩa của "quang" | Giải thích |
| -------------- | ----------------- | ------------------------------------------------ |
| **Quang minh** | Ánh sáng | Chỉ sự sáng sủa, trong sáng (nghĩa bóng và đen). |
| **Vinh quang** | Vẻ vang, danh dự | "Quang" ở đây không còn nghĩa ánh sáng → ❌ |
| **Quang học** | Ánh sáng | Ngành học về ánh sáng. → ✅ |
| **Quang phổ** | Ánh sáng | Phổ ánh sáng (trong vật lý). → ✅ |
---
### ✅ Đáp án đúng là:
$$
\boxed{\text{Quang minh, Quang học, Quang phổ}}
$$
Nếu đề yêu cầu chọn **nhiều từ**, thì bạn chọn cả **ba từ này**.
Nếu chỉ được chọn **một từ**, thì **“Quang học”** là rõ nghĩa ánh sáng nhất.
Tk




Chọn đáp án: D.