Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Gọi số p , số e , số n trong S lần lượt là p ; e ; n
Ta có nguyên tử khối = số p + số n
\(\Rightarrow\) p + n = 32 ( 1 )
Do trong nguyên tử lưu huỳnh , số hạt mang điện tích gấp đôi số hạt không mang điện nên ta có :
p + e = 2n
Lại có trong nguyên tử số p = số e
Ta được : 2p = 2n
\(\Rightarrow\) p = n ( 2 )
Từ (1) và (2) ta có : p = n = 16
Mà p = e
Vậy tổng số hạt trong nguyên tử lưu huỳnh là :
16 + 16 + 16 = 48 ( hạt )
a)
Chiều cao từ mặt thoáng của thủy ngân xuống đáy ống là:
100−0,94=99,06(m)
Áp suất của thủy ngân lên đáy ống là:
136000.99,06=13472160(Pa)
Vậy áp suất của thủy ngân lên đáy ống là 13472160 Pa.
Theo đề ra ta có :
p + e + n = 52
Mà n = 12
=> p + e = 52 - 12
=> p + e = 40
Mà p = e => 2p = 40
=> p = e = 20
=> Tên nguyên tố x là : Canxi; kí hiệu : Ca
Hok tốt nha bn!!
câu 1 một bình chứa 33,6 lít khí oxi (điều kiện tiêu chuẩn) với thể tích này có thể đốt cháy:
a) bao nhiêu game cacbon và tạo ra bao nhiêu lít cacbon dioxit
b) bao nhiêu gam lưu huỳnh và tạo ra bao nhiêu lít lưu huỳnh dioxit
c) bao nhiêu gam P và tạo ra bao nhiêu gam diphotpho pentaoxit
Bài 1 :
a) Theo đề bài ta có : p + e + n = 40 ( vì p = e)
=> 2p + n = 40 (1)
Mặt khác ta có : p + e - n = 12
=> 2p - n = 12 => n = 2p - 12 (2)
Thay (2) vào (1) ta được : 2p + 2p - 12 = 40
=> 4p- 12 = 40
=> 4p = 52
=> p = 13
Thay vào (2) ta lại có :
n = 2.13 - 12 = 14
Vậy p = e = 13 , n = 14
=> X = p + n = 13 + 14 = 27 => X là nguyên tố nhôm ( kí hiệu : Al)
Bài 2 : Nguyên tử khối của O là MO = 16
Gọi x là nguyên tử khối cần tìm cùa nguyên tử X
Theo đề bài ta có : x = 2.MO = 2.16 = 32
=> x là lưu huỳnh ( S)
Theo đề ra ta có: p + n + e = 60
Vì số hạt mang điện nhiều gấp đôi số hạt ko mang điện => p+e = 2n
mà số p = số e => 2p = 2n
=> p = e = n
=> 3p = 60
=> p = 20
Vậy p = e = n = 20
=> Nguyên tử A là Canxi; kí hiệu : Ca ; NTK : 40
Bài 2:
2 cái gạch đầu tiên là tính chất vật lí
Còn cái gạch chân cuối là tính chất hóa hok
P/s: Mk ko chắc
1. Lớp nền (Thủy tinh) Đây là phần chiếm diện tích lớn nhất. Thủy tinh được chọn làm lớp nền vì nó phẳng, cứng, trong suốt và không bị biến dạng theo thời gian. Tuy nhiên, bản thân thủy tinh không phản xạ ánh sáng tốt, nó chỉ đóng vai trò là "giá đỡ" cho các lớp vật liệu tiếp theo. 2. Lớp phản xạ (Kim loại) Đây chính là "linh hồn" của chiếc gương. Để tạo ra bề mặt phản chiếu, người ta phủ một lớp kim loại cực mỏng lên mặt sau của tấm thủy tinh. Bạc (Silver): Là chất liệu phổ biến nhất cho các loại gương chất lượng cao vì bạc phản xạ tới khoảng 95% ánh sáng. Nhôm (Aluminum): Thường dùng cho các loại gương giá rẻ hơn hoặc gương chuyên dụng. Quy trình: Người ta dùng phương pháp mạ hóa học (với bạc) hoặc bay hơi trong chân không (với nhôm) để lớp kim loại bám chặt và đều tăm tắp trên bề mặt thủy tinh. 3. Lớp sơn bảo vệ Vì lớp bạc hoặc nhôm rất mỏng và dễ bị oxy hóa (xỉn màu) hoặc trầy xước khi tiếp xúc với không khí và độ ẩm, người ta sẽ phủ thêm một hoặc nhiều lớp sơn bảo vệ ở mặt sau cùng. Lớp sơn này thường có màu xám hoặc xanh đậm mà bạn vẫn thấy khi nhìn vào mặt sau của gương. Sự thật thú vị: Trong quá khứ, tổ tiên chúng ta từng dùng đá núi lửa (obsidian) đánh bóng hoặc đồng thiếc để soi gương. Sau này, người ta còn dùng hỗn hợp thủy ngân và thiếc, nhưng vì thủy ngân rất độc hại nên phương pháp mạ bạc hiện đại đã thay thế hoàn toà