K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

26 tháng 12 2024

C5 k bt

26 tháng 12 2024

C5 khó lém

22 tháng 8 2025

Câu 1. 

Thể thơ: Lục bát.

Câu 2. 

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.  

Câu 3. 

– Em xác định được một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ: Liệt kê (lu nước, bờ ao, vườn ổi), điệp từ (thăm).

– Em phân tích được tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ:

+ Liệt kê: Khắc họa chi tiết, sinh động những sự vật mà người bà quan tâm.

+ Điệp từ: Góp phần làm tăng thêm tính nhạc cho bài thơ, thể hiện sự quan tâm, săn sóc của người bà dành cho những sự vật trong ngôi nhà.

Câu 4. 

– Cảm nhận, suy nghĩ về hai dòng thơ. Người bà dù đã ra đi mãi mãi, dù đang ở nơi xa nhưng bà vẫn sẽ luôn có cách ở bên cháu. Điều này cho thấy tình yêu, sự quan tâm mà bà dành cho cháu cũng như tình yêu, lòng biết ơn mà cháu dành người bà thân yêu của mình.

Câu 5. 

– Em rút ra được bài học cho bản thân.

+ Biết yêu thương, quan tâm bà hơn.

+ Cần dành nhiều thời gian bên bà hơn.    

Câu 6. 

– Em bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của mình về nội dung của bài thơ, sau đây là một số gợi ý:

+ Bài thơ là sự chiêm nghiệm của người cháu về người bà dấu yêu:

   ++ Người cháu có một giấc mơ đẹp về bà: Trong giấc mơ bà hiện lên với những hành động gắn với những sự vật nhỏ bé, thân thuộc, bình dị trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vì có bà gian bếp mới lại trở nên ấm áp, lại nồng khói bay.

   ++ Bên cạnh việc thăm nom những sự vật thân thuộc, bà còn dặn dò cháu một cách rất dịu dàng và đầy yêu thương: ngoại về nắm lấy bàn tay/ dặn tôi ở thế giới này phải ngoan…

   ++ Dù bà đã đi xa nhưng bà vẫn sẽ luôn ở cạnh bên cháu: “từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con.”

=> Bài thơ thể hiện nỗi nhớ và tình yêu mà người cháu dành cho bà. Trong giấc mơ, nỗi nhớ của cháu, người bà hiện lên một cách dịu dàng và đầy yêu thương dành cho cháu.

15 tháng 12 2025

1. Xác định thể thơ của văn bản. Thể thơ: Lục bát

2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong văn bản. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Văn bản bộc lộ trực tiếp những cảm xúc, tình cảm nhớ thương, biết ơn sâu sắc của người cháu dành cho người ngoại đã khuất, thông qua các hình ảnh ký ức tuổi thơ.

3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau: ngoại thăm lu nước, bờ ao/ thăm vườn ối đã cây nào ra bông. Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (điệp từ "ngoại thăm"). Tác dụng: Nhấn mạnh hành động và sự quan tâm chu đáo của người ngoại đối với mọi vật thân thuộc trong gia đình, từ những điều nhỏ nhặt nhất như "lu nước, bờ ao" đến "vườn ối". Tô đậm hình ảnh người ngoại tần tảo, gắn bó với cuộc sống đời thường, đồng thời thể hiện nỗi nhớ da diết và sự hiện diện sống động của ngoại trong tâm trí người cháu, dù ngoại đã không còn ở bên cạnh. 4. Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ: "từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con." Hai dòng thơ mang ý nghĩa sâu sắc về sự hiện diện tinh thần vĩnh cửu của người ngoại. "Thiên Đàng" chỉ nơi ngoại đang yên nghỉ sau khi mất, nhưng tình yêu thương của ngoại thì không mất đi. Ngoại vẫn luôn dõi theo, che chở và truyền sức mạnh một cách "dịu dàng" cho người cháu từ một thế giới khác, giúp người cháu cảm thấy bình yên và được vỗ về giữa cuộc sống. 5. Qua bài thơ, em rút ra được bài học gì? Qua bài thơ, chúng ta có thể rút ra được bài học quý giá về tình thân gia đình, đặc biệt là tình cảm giữa người cháu và người ngoại. Bài học nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng những giây phút được ở bên cạnh người thân khi họ còn sống, và luôn khắc ghi tình yêu thương, lòng biết ơn đối với những người đã khuất, bởi họ vẫn luôn sống mãi trong ký ức và trái tim ta. 6. Hãy chia sẻ cảm nhận, suy nghĩ của em về nội dung của bài thơ trên bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 dòng). Đoạn trích "Thưa ngoại con mới về" chạm đến trái tim người đọc bởi sự chân thành và giản dị trong việc thể hiện nỗi nhớ thương vô hạn dành cho người ngoại. Tác giả Lam đã tái hiện thành công hình ảnh người bà tần tảo, ấm áp qua những chi tiết quen thuộc của cuộc sống làng quê Việt Nam như "trồng ngọn rau", "lu nước, bờ ao", "chái bếp". Thông qua giấc mơ, ngoại không chỉ hiện về mà còn gửi gắm lời dặn dò "phải ngoan", thể hiện sự quan tâm, lo lắng ngay cả khi đã ở "Thiên Đàng". Bài thơ là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về tình thân thiêng liêng, là điểm tựa tinh thần vững chắc giúp mỗi người vượt qua những lo toan, vất vả trong cuộc sống hiện tại.

26 tháng 12 2025

1 Bài thơ trên được viết theo thể thơ lục bát


27 tháng 12 2025

Ko

28 tháng 12 2025

Câu 1 Thể thơ lục bát

28 tháng 12 2025

câu 1: thể thơ trong văn bản là thơ lục bát

câu 2: tự xử

28 tháng 12 2025

Bài thơ gợi cho em cảm xúc, sự ấm áp về tình cảm của người bà danh cho cháu.Hinh ảnh bờ ao,khu vườn gắn liền với bà ngoại đã khắc sâu trong ký ức của người cháu.Tin

28 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ của văn bản là lục bát

28 tháng 12 2025

Thơ lục bát

Tự sự

Không biết

Không biết

28 tháng 12 2025

BÀI LÀM Câu 1. Thể thơ của văn bản là thơ tự do. Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm. Câu 3. Hai dòng thơ sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá. Tác dụng: làm nổi bật hình ảnh người ngoại cần cù, gắn bó với thiên nhiên, qua đó thể hiện tình yêu thương và sự kính trọng của tác giả đối với ngoại. Câu 4. Hai dòng thơ cho thấy dù ở nơi xa hay đã khuất, ngoại vẫn luôn yêu thương, chở che và dịu dàng bên con cháu. Câu 5. Qua bài thơ, em rút ra bài học: cần biết yêu thương, kính trọng và trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là đối với ông bà. Câu 6. Bài thơ Thưa ngoại con mới về gợi cho em nhiều cảm xúc xúc động. Hình ảnh người ngoại hiện lên giản dị, hiền hậu và giàu yêu thương. Dù ngoại không còn bên cạnh, tình cảm của ngoại vẫn luôn hiện hữu trong tâm hồn con cháu. Bài thơ giúp em thêm yêu và trân trọng những người thân trong gia đình mình.

31 tháng 12 2025

Câu 1. Số tiếng: Các câu thơ chủ yếu là 6 chữ và 8 chữ, đúng với khuôn khổ cơ bản của thơ lục bát (ví dụ: “đêm qua trong giấc mơ hồng” - 6 chữ; “tôi mơ thấy ngoại về trồng ngọn rau” - 8 chữ).Vần điệu: Có sự gieo vần chân (vần lưng) theo quy luật lục bát (ví dụ: “hồng” - “trồng”; “ao” - nào”; “bay” - “tay”). Tuy nhiên, số chữ trong mỗi dòng không hoàn toàn tuân thủ nghiêm ngặt nhịp điệu truyền thống (ví dụ: câu “ở trong chái bếp lại nồng khói bay” là 8 chữ nhưng nhịp điệu có thể linh hoạt hơn).

Câu 2.

Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là Tự sự kết hợp với Biểu cảm.

- Tự sự (Kể chuyện): Bài thơ kể lại một chuỗi sự việc diễn ra trong giấc mơ của nhân vật trữ tình (người cháu) về việc người ngoại (bà) từ “Thiên Đàng” trở về thăm.

- Biểu cảm (Bộc lộ tình cảm): Xuyên suốt bài thơ là dòng cảm xúc nhớ thương, yêu kính, ấm áp mà người cháu dành cho người ngoại, đặc biệt là qua lời dặn dò và sự hiện diện dịu dàng của ngoại.

Câu 3. là ngoại thăm lu nước, bờ ao/ thăm vườn ổi đã cây nào ra bông.Biện pháp tu từ nổi bật trong hai câu này là liệt kê và nhân hóa (ngầm).

Câu 4.

“Từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con.Hai dòng thơ này thể hiện một niềm tin rất đẹp và sâu sắc của người cháu về thế giới tâm linh, về tình yêu thương vĩnh cửu: 1. Thiên Đàng không phải là nơi chia cắt: Dù ngoại đã về “Thiên Đàng” (nơi được cho là chốn vĩnh hằng, xa cách), tình cảm thương yêu không hề bị ngăn cách bởi không gian hay ranh giới sinh tử.

2. Tình yêu thương vượt lên trên cõi giới: “Cách dịu dàng bên con” ám chỉ rằng tình cảm của người ngoại vẫn luôn hiện diện, dõi theo, bảo bọc người cháu bằng sự quan tâm, che chở vô hình, thông qua những giấc mơ, những kỷ niệm hay sự thôi thúc từ nội tâm. 3. Niềm an ủi tinh thần: Đối với người cháu, sự hiện diện dịu dàng này là nguồn động viên lớn lao, giúp người cháu vượt qua khó khăn (“thế giới này phải ngoan…”) và cảm thấy không cô đơn.

Câu 5.Qua bài thơ, em rút ra được bài học về giá trị của tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm với người đã khuất, và sự trân trọng hiện tại:

- Tình yêu thương là vĩnh cửu: Tình cảm gia đình, nhất là tình thương của ông bà/ngoại dành cho con cháu, là điều không thể bị thời gian hay cái chết chia lìa. Nó luôn dõi theo và là điểm tựa tinh thần cho chúng ta.

- Sống tốt và trân trọng: Lời dặn “ở thế giới này phải ngoan” nhắc nhở chúng ta cần sống có trách nhiệm, ngoan ngoãn, trân trọng những gì mình đang có, vì đó là cách tốt nhất để đáp lại tình yêu thương của những người thương yêu mình.

Câu 6. Bài thơ “Thưa ngoại con mới về” của Lam đã khơi gợi trong em những rung cảm thật đỗi xúc động và ấm áp về tình cảm gia đình. Giấc mơ về người ngoại từ “Thiên Đàng” trở về thăm cháu, thăm những hình ảnh rất đỗi thân quen như lu nước, vườn ổi, không chỉ là một giấc mơ đẹp mà còn là sự hiện diện của tình thương yêu vượt qua mọi ranh giới. Hai câu thơ cuối như một lời khẳng định: dù ở nơi đâu, tình yêu thương chân thành vẫn luôn là sợi dây vô hình kết nối. Bài thơ nhắc nhở em phải sống ngoan ngoãn, tốt đẹp hơn để không phụ lòng mong mỏi của những người thân yêu thương mình nhất. Đó là một bài học sâu sắc về sự tri ân và lòng biết ơn.


Câu 1:

Đây là thể thơ lục bát.

Câu 2:

PTBĐC là: biểu cảm

Câu 3:

Đây là biện pháp tu từ điệp ngữ.

Tác dụng: tạo nhịp điệu cho câu thơ nhấn mạnh hành động và sự hiện diện của ngoại trong tâm trí người cháu. Thể hiện sự quan tâm,chăm sóc quen thuộc, bình dị của ngoại với vật dụng cảnh vật thân thuộc trong gia đình.

Câu 4:

Hai dòng thơ thể hiện niềm tin,sự an ủi và tình cảm thiêng liêng.

Câu 5:

Qua bài thơ em rút ra được bài học là cần phải biết trân trọng những giây phút được ở bên người thân khi còn sống, giữ gìn những kỷ niệm đẹp về họ. Tình cảm gia đình là vĩnh cửu, dù người thân đã mất thì tình yêu thương vẫn còn mãi.

Câu 6:

Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" của Lam chạm đến trái tim người đọc bởi tình cảm chân thành, sâu lắng của người cháu dành cho bà ngoại đã khuất. Thông qua giấc mơ, hình bóng ngoại hiện lên thật bình dị, gần gũi với những hành động quen thuộc như trồng rau, thăm lu nước, bờ ao. Nỗi nhớ của người cháu không chỉ là sự tiếc nuối mà còn là niềm tin mãnh liệt rằng tình thương yêu của ngoại. Bài thơ nhắc nhở chúng ta trân trọng tình cảm gia đình và giữ những ký ức đẹp về người thân.

 


khi thaybviUIughbsuhj

Câu 1: Thể thơ của văn bản là thể thơ tự doCâu 2: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảmCâu 3: Phân tích tác dụng biện pháp tu từ trong hai dòng thơ:

"ngoại thăm lu nước, bờ ao thăm vườn ổi đã cây nào ra bông"

  • Biện pháp tu từ: Liệt kê ("lu nước", "bờ ao", "vườn ổi") kết hợp với điệp từ ("thăm").
  • Tác dụng: Gợi lên hình ảnh người bà tần tảo, luôn quan tâm, lo lắng cho từng gốc cây, góc sân trong nhà. Qua đó, thể hiện sự gắn bó mật thiết và tình yêu thương vô bờ bến của bà dành cho gia đình, quê hương.

Câu 4: Cách hiểu về hai dòng thơ:

"từ nơi được gọi Thiên Đàng ngoại luôn có cách dịu dàng bên con"

  • Hai dòng thơ khẳng định rằng dù bà đã không còn ở cõi tạm, nhưng tình yêu thương và sự che chở của bà vẫn luôn hiện hữu, dõi theo con cháu một cách vô hình nhưng đầy ấm áp.

Câu 5: Bài học rút ra: Phải biết yêu thương, trân trọng người thân khi họ còn bên cạnh và luôn khắc ghi những đức tính tốt đẹp, tình cảm của cha ông để sống tốt hơn.

Câu 6 (Đoạn văn cảm nhận): Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" là một dòng hồi tưởng đầy xúc động về người bà kính yêu. Qua giấc mơ, tác giả đã tái hiện hình ảnh bà với những cử chỉ chăm sóc thân thuộc như thăm lu nước, vườn ổi, hay nhóm lại ngọn lửa hồng trong bếp. Những hình ảnh ấy không chỉ gợi lên sự tần tảo của bà mà còn là biểu tượng của hơi ấm gia đình. Lời dặn dò "phải ngoan" của ngoại ở cuối bài chính là hành trang tinh thần vô giá cho cháu. Dù ngoại đã đi xa về nơi "Thiên Đàng", nhưng tình cảm dịu dàng ấy vẫn luôn là điểm tựa vững chắc nhất cho tâm hồn mỗi người con, người cháu.

1- thể thơ lục ba

29 tháng 1

Câu 1

thơ lục bát Thể thơ của văn bản là thơ lục bát, dấu hiệu nhận biết là sự luân phiên của các dòng thơ sáu chữ và tám chữ.

Câu 2

biểu cảm Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là biểu cảm, nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người cháu đối với người bà đã khuất.


Câu 3

biện pháp tu từ nhân hóa Trong hai dòng thơ "ngoại thăm lu nước, bờ ao/ thăm vườn ổi đã cây nào ra bông", tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa (qua hành động "thăm" của ngoại và "ngỡ ngàng" của sự vật trong các khổ thơ khác). Tác dụng: Thể hiện sự gắn bó sâu sắc của ngoại với những vật dụng, cảnh vật đời thường trong gia đình. Diễn tả nỗi nhớ thương da diết của người cháu, cảm giác như ngoại vẫn còn hiện hữu, chăm sóc mọi thứ. Tạo nên hình ảnh thơ gần gũi, ấm áp và giàu sức gợi cảm.

Câu 4

nghĩa của hai dòng thơ Hai dòng thơ "từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con" thể hiện: Niềm tin của người cháu rằng ngoại đã về thế giới bên kia (Thiên Đàng). Tình cảm sâu đậm, sự hiện diện tinh thần vĩnh cửu của ngoại trong tâm trí người cháu. Dù không còn sống bên cạnh, ngoại vẫn dõi theo, che chở và là điểm tựa tinh thần dịu dàng cho con (người cháu).

Câu 5

bài học về tình thân Qua bài thơ, em rút ra được bài học về sự trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu. Chúng ta cần biết ơn, yêu thương và dành thời gian cho những người thân yêu khi họ còn sống.

Câu 6

cảm nhận về bài thơ Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" là một tác phẩm đầy xúc động về tình bà cháu. Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát truyền thống cùng những hình ảnh mộc mạc, giản dị để bộc lộ nỗi nhớ thương da diết dành cho người bà đã khuất. Bài thơ không chỉ là lời tự sự của người cháu khi trở về thăm nhà mà còn là sự thức tỉnh về giá trị của tình thân. Nó nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng những khoảnh khắc bên gia đình, bởi khi mất đi rồi, những ký ức đẹp đẽ ấy sẽ trở thành niềm an ủi, vỗ về tâm hồn.


Thơ lục bát