3. Phân tích hình tượng nhân vật Đàm Thân. Tác giả thể hiện thái độ, tình cảm như thế...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Nhân vật Đàm Thân: 

- Cô là một người chiến sĩ dũng cảm không tiếc mình hi sinh cho nhân dân, đất nước.

- Cô yêu hết mình và rất chung thủy với người yêu.

- Khi không còn tình yêu bên cạnh cô quyết tâm không sống vì bản thân mình nữa mà sống vì đời, giúp đời. 

Thái độ, tình cảm của tác giả đối với nhân vật chính - Đàm Thân là thái độ tôn trọng và yêu mến. Điều này được thể hiện qua một số chi tiết như:

+ Nhân vật tôi luôn coi Đàm Thân như vị "bồ tát" nhân từ.

+ Chi tiết "Nhìn bóng Đàm Thân khuất sau... tôi chợt nhớ lời nhà sư nói về sự linh ứng của kinh Pháp hoa, và cứ mường tượng như thể mình đã nhìn thấy hoa của lòng người."

30 tháng 1 2024

Những câu thơ này cho ta thấy, tình cảm của hai nhân vật là tình cảm dâng trào mãnh liệt, đó là tình cảm thuần phác, trong lành, mạnh mẽ như thiên nhiên.

21 tháng 7 2017

Tình huống truyện độc đáo:

- Mở đầu với tình huống nhầm lẫn của cặp đôi người Pháp trong chuyến tàu điện ngầm

+ Nhìn người An Nam (nhân vật tôi) và nghĩ đó là vua Khải Định

+ Tình huống ngỡ như nhầm lẫn, vô lí nhưng thực chất lại có lí: người Tây không phân biệt được người da vàng

+ Tình huống nhầm lẫn vừa lột tả khách quan vừa hài hước, sâu cay khiến nhân vật tôi hiểu nhiều điều qua câu chuyện thầm tinh quái của họ.

+ Vua Khải Định xuất hiện trong truyện như sự tình cờ, ngẫu nhiên nhưng truyện dựng được chân dung hình ảnh y cụ thể, châm biếm

31 tháng 1 2024

* Các chi tiết thể hiện dòng sông có tính cách, tình cảm riêng:

- “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại.”

→ Dòng sông mang nét nữ tính hoang dại, phóng khoáng. Hình ảnh so sánh cho thấy vẻ đẹp của sự tươi mới, thanh thuần của thiên nhiên, không hề vướng bụi tạp chất; một tâm hồn trong sáng, tự do, bản lĩnh.

...đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại.

→ Lúc này, dòng sông đối lập với dáng vẻ man dại khi trước. Dòng sông khoác lên dáng vẻ yểu điệu, dịu dàng như thiếu nữ đang say ngủ. Cảnh vật thơ mộng khiến dòng sông thay bằng một dáng vẻ mới đầy trữ tình, xinh đẹp.

“Sông Hương tươi vui hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long.”

→ Đó là cảm xúc của người con đi xa đợi được ngày trở về chốn quê cũ. Cảnh vật quen thuộc khiến cảm xúc phấn chấn, vui vẻ hẳn lên.

- Sông Hương khi thì là một con người con gái đẹp ngủ mơ màng, khi là người con gái dịu dàng của đất nước, khi là người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở với một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ.

⇒ Sông Hương được nhà văn miêu tả như một cô gái với tính cách phong phú, và một nét thống nhất chung là sự nữ tính đầy duyên dáng.

30 tháng 1 2024

Thái độ và tình cảm của tác giả: Sự phẫn nộ và tinh thần đấu tranh của tác giả trước những sự việc người da đen bị phân biệt đối xử. Từ đó, tác giả thể hiện niềm mong ước tự do bình đẳng cho người da đen.

31 tháng 1 2024

Thái độ và tình cảm yêu mến của người viết thể hiện khá rõ trong nhiều câu, đoạn văn. Chẳng hạn: “Chúng ta còn nhớ, dạo ấy, Bộ trưởng Bộ Nội vụ là đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đẹp biết bao thế hệ trí thức thời mở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, “Cái thuở ban đầu Dân quốc ấy / Nghìn năm chưa dễ đã ai quên”.

Hoặc đoạn sau:

Ngày 6-3-1948, giữa rừng xanh Việt Bắc, đã phát hành cuốn sách của Giáo sư Tạ Quang Bửu: Sống. Tên sách thật ngắn, song gợi lên bao suy nghĩ sâu xa. Hơn nửa thế kỉ sau, giờ đây ngồi đọc lại cuốn sách mỏng in trên giấy dó đó, tôi ngạc nhiên nhận thấy, ngay từ dạo ấy, trên nhà sàn nơi bản vắng chiến khu, nhà thông thái của chúng ta đã có thể vận dụng những phát minh mới nhất trong vật lí lượng tử để giải thích sự sống, trình bày cấu trúc phân tử của gen, sự di truyền và biến dị, tính trội và tính lặn, các tác nhân gây đột biến,...”.

30 tháng 7 2023

Tham khảo!

 

Nhân vật tôi là một người giỏi quan sát, từng trải qua nhiều biến động của thời cuộc, biết trân trọng giá trị văn hóa và biết quý trọng những con người có bản lĩnh văn hóa. Đồng thờ, ông cũng là một người lính, một người bình thường trong cuộc đời.

+ Ông vui khi Hà Nội được giải phóng. ‘Tôi” rất yêu Hà Nội, am hiểu sâu sắc về Hà Nội.  Với ông, tình yêu Hà Nội, niềm say mê lớn nhất với Hà Nội là những con người Hà Nội hào hoa, có bản lĩnh văn hoá, những người “mặc cái áo quá chật”, lớn nhanh hơn thời đại khiến “miếng đất sinh ra họ trở nên chật chội”, tiêu biểu cho bản sắc văn hoá Hà Nội. (nhân vật cô Hiền).

+ Đối với cô Hiền, ông trân trọng khâm phục lối sống, suy nghĩ, bản lĩnh văn hóa của bà.

+ Ông không hài lòng, buồn phiền khó chịu với thái độ hời hợt, thô lỗ, ích kỉ, làm xấu đi diện mạo và văn hóa của người Hà Nội ở một số người.

Qua lời căn dặn người yêu em thấy chàng trai là người lãng mạn, gắn bó thủy chung với người mình yêu. Trong giờ phút chia tay không muốn rời xa người mình yêu: 

"Xin hãy cho anh kề vóc mảnh,

Quấn quanh vai ủ lấy hương người". 

Chàng trai còn là người trọng tình nghĩa và dành tất cả sự trân trọng của mình cho người con gái anh yêu ngay cả khi cô đã có con với người chồng mình không yêu thương: 

"Con nhỏ hãy đưa anh ẵm,

Bé xinh hãy đưa anh bồng,

Cho anh bế con dòng, đừng ngượng,

Nựng con rồng, con phượng, đừng buồn."

 

27 tháng 8 2023

- Các câu văn trong phần 2 như:

+ "nhà thông thái của chúng ta....": Thể hiện sự kính trọng của tác giả với Giáo sư Tạ Quang Bửu.

+ "Giáo sư Tạ Quang Bửu đột ngột ngừng làm việc": Thay vì dùng từ ngã bệnh, tác giả đã dùng biện pháp nói giảm nói tránh. 

→ Tác giả thể hiện sự kính trọng với Giáo sư Tạ Quang Bửu vì những thành tựu mà giáo sư tạo ra. Đồng thời thể hiện niềm tiếc nuối với sự ra đi của giáo sư Tạ Quang Bửu.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0