2.chỉ ra những chi tiết thể hiện tâm trạng của nhóm Lữ khi đốt sách vở...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

23 tháng 3

Câu 2. Những chi tiết thể hiện tâm trạng của nhóm Lữ là vừa bâng khuâng, tiếc nuối khi đốt đi sách vở và nhật ký, vừa có sự dứt khoát, trưởng thành khi rời bỏ quá khứ học trò, xen lẫn cảm giác trống trải, suy tư về chặng đường phía trước

Câu 3. Cách xây dựng nhân vật qua đối thoại giúp nhân vật Lữ tự bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc một cách tự nhiên, chân thực, làm cho hình ảnh nhân vật trở nên sống động, gần gũi và giúp người đọc hiểu rõ hơn về nội tâm, quá trình trưởng thành của nhân vật

Câu 4. Việc sử dụng ngôn ngữ thân mật tạo cảm giác gần gũi, tự nhiên như lời trò chuyện, giúp tăng tính chân thực và truyền tải cảm xúc một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, đồng thời làm nổi bật tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật

Câu 5. Suy ngẫm của Lữ gợi cho em hiểu rằng những kiến thức trong sách vở tuy cần thiết nhưng chưa đủ để giúp con người trưởng thành, chỉ khi trải qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, con người mới rút ra được những bài học quý giá và hình thành niềm tin vững chắc, vì vậy cần biết trân trọng trải nghiệm thực tế, dám đối mặt với thử thách để hoàn thiện bản thân và sống ý nghĩa hơn

17 tháng 9 2025

câu 1

Nhân vật bé Em trong truyện "Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư là một hình ảnh tiêu biểu cho sự ngây thơ, trong sáng nhưng cũng đầy sâu sắc và tình cảm. Bé Em, một cô bé khoảng 10 tuổi, sống cùng bà trong một ngôi nhà nghèo khó ở miền Tây Nam Bộ. Dù hoàn cảnh khó khăn, bé Em luôn giữ trong mình niềm vui và hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chiếc áo Tết mới không chỉ là một món quà vật chất mà còn là biểu tượng của những ước mơ giản dị nhưng đầy ý nghĩa của em. Bé Em rất yêu quý chiếc áo này, không chỉ vì nó đẹp mà còn vì đó là món quà duy nhất mà bà có thể tặng.

Tính cách của bé Em được thể hiện qua sự nhạy cảm và tinh tế trong cách em đối xử với mọi người xung quanh. Em luôn quan tâm, chăm sóc bà, hiểu được nỗi khổ của bà và không phàn nàn về hoàn cảnh khó khăn. Tình bạn chân thành của bé Em với Bích cũng là một điểm sáng trong truyện. Dù hoàn cảnh gia đình khác nhau, bé Em luôn quan tâm và chia sẻ với bạn, không khoe khoang về những bộ đồ mới của mình khi biết Bích chỉ có một bộ đồ mới cho Tết.

Những hành động nhỏ nhưng đầy ý nghĩa của bé Em thể hiện sự cảm thông sâu sắc và lòng yêu thương vô bờ bến. Em luôn cố gắng làm cho bạn cảm thấy vui vẻ và không bị tự ti về hoàn cảnh của mình. Qua nhân vật bé Em, Nguyễn Ngọc Tư đã truyền tải một thông điệp sâu sắc về tình cảm gia đình, sự hy sinh và lòng yêu thương, đồng thời khắc họa một hình ảnh tuổi thơ trong sáng nhưng cũng đầy nghị lực và hy vọng.

câu 2

Từ truyện ngắn "Áo Tết", chúng ta học được rằng tình bạn và sự đồng cảm còn quý hơn vật chất. Nhân vật bé Em đã cho thấy sự trưởng thành khi nhận ra giá trị tinh thần này, nhắc nhở mỗi người cần biết cân bằng giữa nhu cầu vật chất và giá trị tinh thần, đặt tình cảm, sự sẻ chia lên trên vật chất phù phiếm. Để xây dựng lối sống hài hòa, ta cần rèn luyện lòng nhân ái, thực hành sẻ chia từ việc nhỏ, tham gia các hoạt động cộng đồng và xây dựng môi trường giáo dục đề cao giá trị tinh thần. 
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Nhân vật “em” trong văn bản Áo Tết hiện lên là một cô bé hồn nhiên, giàu cảm xúc và có sự trưởng thành trong nhận thức. Ban đầu, “em” mang tâm lí rất tự nhiên của tuổi thơ: háo hức, mong chờ chiếc áo Tết mới như một niềm vui vật chất cụ thể, gắn với ước mơ được bằng bạn bằng bè. Khi không có được chiếc áo như mong muốn, “em” buồn tủi, chạnh lòng, thậm chí có phần tủi thân trước bạn bè. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh ấy, “em” đã có sự chuyển biến quan trọng trong suy nghĩ. Qua tình bạn chân thành, sự quan tâm và chia sẻ mộc mạc của bạn bè, “em” nhận ra rằng niềm vui tinh thần, sự yêu thương và gắn bó mới là điều đáng trân trọng. Nhân vật “em” vì thế không chỉ đáng yêu mà còn đáng quý ở khả năng tự nhận thức và lớn lên trong tâm hồn. Hình ảnh “em” góp phần làm nổi bật thông điệp nhân văn của tác phẩm: giá trị tinh thần bền vững hơn những niềm vui vật chất nhất thời.

Câu 2.

Trong văn bản Áo Tết, nhân vật “em” đã nhận ra rằng tình bạn chân thành quý giá hơn chiếc áo đầm mới. Câu chuyện giản dị ấy gợi ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống hiện đại: làm thế nào để xây dựng lối sống hài hòa, cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

Không thể phủ nhận vai trò của vật chất trong cuộc sống. Vật chất đáp ứng những nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, học tập, giúp con người sống thuận tiện và an toàn hơn. Đối với tuổi trẻ, những mong muốn về trang phục đẹp, đồ dùng mới hay tiện nghi hiện đại là điều hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, khi con người quá đề cao vật chất, dễ rơi vào lối sống chạy theo hình thức, so sánh hơn thua, từ đó đánh mất niềm vui giản dị và các mối quan hệ chân thành.

Giá trị tinh thần, ngược lại, là nền tảng bền vững nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đó là tình bạn, tình thân, lòng nhân ái, sự sẻ chia và cảm giác được yêu thương. Những giá trị này không thể đo đếm bằng tiền bạc nhưng lại quyết định hạnh phúc lâu dài của mỗi người. Câu chuyện trong Áo Tết cho thấy khi “em” nhận được sự cảm thông và tình bạn chân thành, nỗi buồn vì thiếu thốn vật chất dần được xoa dịu. Điều đó chứng tỏ đời sống tinh thần có sức mạnh lớn lao trong việc giúp con người vượt qua khó khăn.

Để xây dựng lối sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, trước hết mỗi người cần biết đủ. Biết trân trọng những gì mình có sẽ giúp ta không bị cuốn vào vòng xoáy chạy theo vật chất. Bên cạnh đó, cần rèn luyện thói quen quan tâm đến người khác: lắng nghe, chia sẻ, giúp đỡ khi có thể. Chính những hành động nhỏ ấy nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Ngoài ra, việc tham gia các hoạt động tập thể, đọc sách, rèn luyện thể thao, sống gần gũi với gia đình cũng giúp con người cân bằng giữa nhu cầu vật chất và đời sống nội tâm.

Đặc biệt với học sinh, việc cân bằng này càng quan trọng. Không nên đánh giá bản thân hay bạn bè qua quần áo, đồ dùng, mà cần coi trọng nhân cách, sự chân thành và nỗ lực trong học tập. Khi biết đặt giá trị tinh thần song hành với vật chất, con người sẽ sống nhẹ nhàng, nhân ái và hạnh phúc hơn.

Tóm lại, câu chuyện Áo Tết gửi gắm bài học sâu sắc: vật chất cần thiết nhưng không phải là tất cả. Một lối sống hài hòa, biết trân trọng cả giá trị vật chất lẫn tinh thần chính là con đường giúp con người đạt tới hạnh phúc bền lâu.


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
14 tháng 2

quân1

19 tháng 9 2025

Câu 1. (2,0 điểm)

Đoạn văn khoảng 200 chữ:

Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.


Câu 2. (4,0 điểm)

Bài văn khoảng 600 chữ:

Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.

Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.

Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.

Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.

Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.

21 tháng 12 2025

Zjkizox

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

45
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,     Cây đàn sum họp đứt từng dây.     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...     Có lần tôi thấy hai cô bé,     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.     Hai bóng chung lưng thành một bóng,     “− Đường về nhà chị...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

      NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,
     Cây đàn sum họp đứt từng dây.
     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,
     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...

     Có lần tôi thấy hai cô bé,
     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.
     Hai bóng chung lưng thành một bóng,
     “− Đường về nhà chị chắc xa xôi?”

     Có lần tôi thấy một người yêu,
     Tiễn một người yêu một buổi chiều,
     Ở một ga nào xa vắng lắm!
     Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

     Hai chàng tôi thấy tiễn chân nhau,
     Kẻ ở sân toa, kẻ dưới tàu,
     Họ giục nhau về ba bốn bận,
     Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

     Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
     Thèn thẹn đưa nhau, bóng chạy dài,
     Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
     “− Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”

     Có lần tôi thấy một bà già,
     Đưa tiễn con đi trấn ải xa.
     Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,
     Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

     Có lần tôi thấy một người đi,
     Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì!
     Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,
     Một mình làm cả cuộc phân ly.

     Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,
     Những bàn tay vẫy những bàn tay,
     Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
     Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                  (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Theo em, yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ này như thế nào? Hãy phân tích tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ.

45
15 tháng 12 2025

!!

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ: Thơ bảy chữ

Câu 2:

Vần: Vần "ay" (bay - tay).

Kiểu vần: Vần chân, vần liền.

Câu 3:


Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".

• Tác dụng:

• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.

• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.

• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.

Câu 4:


-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.

-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.

Câu 5:


-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....

- Tác dụng:

+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.

+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".