Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tuyên ngôn độc lập là văn bản tuyên bố sự độc lập của một quốc gia, thường là ra đời để khẳng định chủ quyền của quốc gia vừa giành lại từ tay ngoại bang. Có văn bản không mang tên như vậy, nhưng có ý nghĩa tương tự, cũng được coi là tuyên ngôn độc lập.
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Bài thơ trên có ý nghĩa là khẳng định chử quyền dân tộc nên gọi là bài tuyên ngôn độc lập và nó được ra đời trước bản tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ nên ta có thể nói nó là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên
Sử học Việt Nam hiện nay coi là Việt Nam có cả thảy 3 bản tuyên ngôn độc lập:
1. Bài thơ Nam quốc sơn hà: là tác phẩm được sử dụng trong kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (Lê Hoàn) và lần thứ 2 (Lý Thường Kiệt) nhằm mục đích khẳng định chủ quyền dân tộc, khích lệ ba quân tướng sĩ và uy hiếp tinh thần giặc Tống.
2. Bình Ngô đại cáo: Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thay lời Bình Định vương Lê Lợi năm Đinh Mùi (1427), tuyên bố bình định giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
3. Bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh viết, sau đó đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tuyên bố Việt Nam độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lòng yêu nước trong Nam quốc sơn hà thể hiện qua việc khẳng định chủ quyền dân tộc, khẳng định đó là chân lí hiển nhiên tất yếu do "sách trời" định ra, không thể thay đổi được.
Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc trong Phò giá về kinh thể hiện qua âm hưởng và khí thế sục sôi khi giành được chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử. Đây là âm hưởng hào khí Đông A đầy hào sảng của thời đại nhà Trần.
gia đình là mái ấm hạnh phúc lớn nhất mà ta từng có , nơi đó ta được bố mẹ yêu thương chăm sóc , lo lắng , hạnh phúc gia đình là thứ quí giá nhất trong cuộc sống , không có nó ta không thể nào sống và lớn lên được , gia đình là nơi bảo vệ ta và giúp ta trong lúc khó khăn và chia sẽ những nỗi niềm buồn vui , bạn đừng làm rạng nức đi một thứ tình cảm ấy vì nếu gia đình tan vỡ bạn sẽ cảm thấy cô đơn buồn bã và chán nãn tuy ngoài gia đình ta còn có bạn bè nhưng văn học nước ngoài nói rằng " Gia đình, gia đình còn hơn là bạn bè " hãy biết trân trọng những gì mình đang có vì trên đời này ko có gì là quí giá và cũng ko có gì là hoàn hảo và mãi mãi . Vì một khi đã làm mất thì lúc suy nghĩ lại mới biết rằng hối hận , vì thế hãy biết trân trọng những gì mình đang có bạn nhé .
Trên đời này ai chả có bạn, nhưng để có một người bạn tốt và hiểu mình thì thật là khó. Có tình bạn chỉ thoáng qua như hương thơm của mùa hạ, nhưng cũng có tình bạn lâu bền gắn bó với nhau suốt đời. Tình bạn đẹp khi những người bạn hiểu nhau. Người bạn tốt là người mà bạn không ngại ngùng khi biểu lộ cảm xúc trước mặt ta. Là người dù ở xa, vẫn luôn gởi đến một lá thư, một bưu thiếp để mừng sinh nhật ta, hay chỉ đơn giản để cho ta biết ta đang hiện diện trong lòng họ. Tình bạn mang nhiều vẻ đẹp, đặc biệt là về tinh thần. Tình bạn cho ta một sức mạnh thần kì. Khó có thể dùng lời để diễn tả cái sự thần kì đó, nhưng nói chung, tình bạn đã giúp đỡ ta rất nhiều rất nhiều...Tình bạn cũng giống như một mầm non, nếu ta biêt nâng niu, mầm non - tình bạn sẽ vươn lên một tầng cao mới. Và ngược lại, mầm non đó sẽ luôn tàn úa, sẽ không bao giờ đẹp được.
Tình bạn tốt đẹp là mơ ước của nhiều người. nếu ta đang có một tình bạn, xin hãy giữ lấy nó và đừng để tuột mất tình bạn cao quý, tiêng liêng đó!
Trong đêm trường nô lệ của nghìn năm Bắc thuộc, ngọn lửa yêu nước vẫn âm ỉ cháy, nên liên tiếp có những cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm bùng lên. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thù nhà nợ nước chất cao, vào năm 40 Hai Bà phất cờ khởi nghĩa, được nhân dân khắp nơi nhất tề hưởng ứng.
Sau khi quét sạch quân Hán, Trưng Trắc lên ngôi, triều đình đóng đô ở Mê Linh. Tuy Hai Bà Trưng chỉ đem lại độc lập cho đất nước được hai nước, nhưng cuộc khởi nghĩa đã góp phần hun đúc tinh thần yêu nước bất khuất của dân tộc. Noi gương Hai Bà, biết bao cuộc khởi nghĩa khác lại liên tiếp nổ ra. Trong đó có cuộc khởi nghĩa đã đem lại độc lập dài nhất cho dân ta thời ấy, đó là cuộc khởi nghĩa của Lí Bôn nổ ra ở Thái Bình. Vào năm 542, Lí Bôn lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa tháng lợi, lên ngôi Hoàng đế năm 544, nhà vua trị vì đất nước đến năm 602. Tuy sau đó thất bại, nhưng ông đã giữ được nền độc lập cho đất nước 58 năm.
Trong nghìn năm Bắc thuộc, giặc phương Bắc chỉ chiếm được đất của ta, chưa bao giờ chúng tiêu diệt được lòng yêu nước của dân ta. "Thất bại là mẹ thành công", dân tộc ta không ngừng đấu tranh, cho đến năm 937 - 938, Ngô Quyền gánh vác sự nghiệp tự chủ của họ Khúc, lãnh đạo nhân dân, đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành độc lập cho non sông, chấm dứt nghìn năm đô hộ của giặc phương Bắc, đất nước bước vào thời phong kiến tự chủ.
Sau khi giành được độc lập, tinh thần yêu nước của dân tộc ta càng được khích lệ, phát triển mạnh mẽ, khiến dân ta dưới triều đại nhà Lí, vừa xây dựng đất nước vững mạnh vừa đánh thắng hơn 10 vạn quân Tống (thế kỉ XI). Đến thế kỉ XIII, quân Mông Nguyên, một đạo quân hùng mạnh bậc nhất thế giới thời đó, ba lần kéo quân xâm lược nước Đại Việt ta, cả ba lần đều thất bại! Dân tộc ta đã lập bao chiến công hiển hách, điển hình nhất, lại vẫn là chiến thắng trên sông Bạch Đằng lịch sử.
Ba lần chiến thắng quân Mông Nguyên hùng cường, dân tộc ta đã khẳng định tinh thần yêu nước của ta là vô địch! Lòng yêu nước lại trào sôi mãnh liệt khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, "nhân dân bốn cõi một nhà" đồng lòng đánh tan ách nô lệ của giặc Minh. Mười năm kháng chiến trường kì (1418 - 1427) đã dẫn đến thắng lợi vẻ vang. Nhưng phong kiến phương Bắc vẫn không từ bỏ mộng xâm lăng mảnh đất phương Nam nhỏ bé này. Thế kỷ XVIII, nhà Thanh vẫn tiếp tục tham vọng đó, nhân chính sự triều Lê suy tàn mà chúng tràn sang nước ta. Nhân dân ta lại một lần nữa với dòng máu yêu nước nhất tề theo vua Quang Trung, chỉ trong mười ngày đánh đuổi 29 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi!
Thời nay dân ta lại được sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người anh hùng mà lòng yêu nước được biểu hiện ngay ở tên gọi: Nguyễn Ái Quốc, nổi tiếng khắp năm châu bốn biển - nên lòng yêu nước của dân ta càng như "một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ cướp nước và lũ bán nước". Nhờ vậy mà trong vòng ba mươi năm dân ta đánh đổ "hai đế quốc to" (lời Hồ Chủ tịch). Sau chín năm kháng chiến chống Pháp, ngày 7-5-1954, lá cờ Việt Nam phấp phới trên nóc hầm Đờ-cát, làm nên một Điện Biên "chấn động địa cầu". Giải phóng được miền Bắc, toàn dân tộc phát huy tinh thần yêu nước cao độ, dốc toàn sức lực cả hai miền Nam - Bắc, đánh đế quốc Mĩ. Và ngày 30-4-1975, lá cờ giải phóng lại tung bay trên dinh Độc lập, "Đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào" như lời Bác Hồ trước lúc đi xa đã kêu gọi, để "Bắc - Nam sum họp" như nguyện vọng thiết tha của Người. Bác Hồ vẫn cùng chúng ta hành quân khi chiến dịch quyết định vận mệnh non sông được mang tên Người - chiến dịch Hồ Chí Minh - đỉnh cao của lòng yêu nước.
Dân tộc ta là một dân tộc yêu nước, yêu nước thiết tha, nồng nàn. Chúng ta cũng rất yêu hòa bình, nhưng vì nền hòa bình muôn thuở, dân tộc ta quyết đem lòng yêu nước nồng nàn để đánh tan mọi kẻ thù, bảo vệ non sông gấm vóc. Điều đó đã được lịch sử chống ngoại xâm hàng ngàn năm của dân tộc ta khẳng định như một chân lí vững chắc. Lời tuyên ngôn bất hủ trong bài Sông núi nước Nam sang sảng trên sông Như Nguyệt cách đây một nghìn năm:
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng bay nhất định phải tan thây.
đã đúng, đang đúng và vĩnh viễn đúng trên bờ cõi Việt Nam này!
* Chúc bạn học tốt ạ *
Yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.Hơn 1000 năm qua,nhân dân ta đã anh dũng,hi sinh đánh giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi nước ta,để hôm nay cùng đoàn quân Chương Dương ,Hàm Tử tôi lấy làm tự hào khi được tham gia cuộc phò giá Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về kinh đô Thăng Long.Tôi rất hãnh diện khi được làm con dân đại việt-một dạng sơn oai hùng,với bao chiến công lịch sử huy hoàng,vang dội khắp 5 châu.Qua sự việc trên, ta thấy rằng mỗi chúng ta cần phải có trách nhiệm giữ gìn và xây dựng đất nước đại việt hùng mạnh.
*khái niệm:
-Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc.
-"Dân ca" là câu ca điệu hát, bài hát được lưu truyền trong dân gian mà không rõ nguồn gốc, tách giả. Người này nghe người kia hát thì nhớ và hát lại hay họ tự hát. Người khác thấy hay và học theo nên thành bài rồi lan truyền dần dần rộng ra.
Trong dân gian lưu truyền những tấm gương sáng về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ (Nhị thập tứ hiếu). Câu chuyện cảm động về nàng Thoại Khanh dắt mẹ đi ăn xin, gặp cảnh ngặt nghèo đã cắt thịt ở cánh tay mình để dâng mẹ ăn cho đỡ đói. Có lẽ người xưa đã dùng cách nói cường điệu để nêu gương hiếu thảo trong những tình huống đặc biệt. Còn trong cuộc sống hằng ngày, lòng biết ơn cha mẹ của con cái được thể hiện qua những lời nói và việc làm cụ thể.
Đó là cốc nước mát ân cần trao tận tay khi cha mẹ vừa đi làm về nắng nôi, mệt nhọc; là bát cháo nóng lúc cha mẹ ốm mệt; là sự cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của gia đình nên không đua đòi ăn diện quần nọ, áo kia… Quan trọng nhất là chúng ta phải phấn đấu học tập, rèn luyện để trở thành con ngoan, trò giỏi, thành niềm vui, niềm tự hào của cha mẹ.
Theo năm tháng, em ngày một trưởng thành và cha mẹ em sẽ ngày càng già yếu. Khi đó, dù đã có cuộc sống riêng, dù bận bịu công việc đến mấy, em vẫn nhớ tới bổn phận của mình là chăm sóc cha mẹ chu đáo và thực sự trở thành chỗ dựa của cha mẹ lúc tuổi già.
Kính yêu cha mẹ là tình cảm tự nhiên của con người. Bổn phận, trách nhiệm và lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ là thước do phẩm chất đạo đức của mỗi người. Câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn… được lưu truyền từ đời này sang đời khác và mãi mãi như một lời nhắc nhở con cái phải hiếu thảo với cha mẹ.
Chúc bạn học tốt!
Công cha nghĩa mẹ được nói đến nhiều trong ca dao. Bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn” hầu như em bé nào cũng đã “uống” qua lời ru ngọt ngào của mẹ, của bà ngay từ thuở còn nằm trong nôi. Còn có bài ca dao bốn câu sau đây hầu như ai cũng nhớ cũng thuộc:
“Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi
Câu thứ nhất nói về “công cha”. Công cha đã từng được so sánh với núi Thái Sơn, ở đây công cha lại được ví với “núi ngất trời", núi hùng vĩ, núi cao chót vót ,cao đến mấy tầng mây xanh, núi chọc trời. Câu thứ hai nói về “nghĩa mẹ”’ nghĩa mẹ bao la, mênh mông, không thể nào kể xiết. Nghĩa mẹ được so sánh với nước ở ngoài biển Đông. Nghệ thuật so sánh và đối xứng đã tạo nên hai hình ảnh kì vĩ, vừa cụ thể hóa, hình tượng hóa, vừa ca ngợi nghĩa mẹ cha với tình yêu sâu nặng. Tiếng thơ dân gian khẽ nhắc mỗi chúng ta hãy ngước lên nhìn núi cao, trời cao, hãy nhìn xa ra ngoài biển Đông, lắng tai nghe sóng reo sóng hát, thủy triều vỗ mà suy ngẫm về công cha nghĩa mẹ Thấm thía và rung động biết bao:
“Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông”
Hai câu cuối, giọng thơ cất lên thiết tha ngọt ngào. Tiếng cảm thán “con ơi !” là lời nhắn nhủ ân tình về đạo làm con phải biết "ghi lòng” tạc dạ công cha nghĩa mẹ:
“Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”
Câu trên là một ẩn dụ, nhắc lại, nhấn mạnh công cha nghĩa mẹ như “Núi cao biển rộng mênh mông”. Câu cuối bài ca dao, nhà thơ dân gian sử dụng cụm từ Hán Việt “cù lao chín chữ” để nói lên công ơn to lớn của cha mẹ như sinh thành nuôi dưỡng, cho bú mớm nâng niu, chăm sóc dạy bảo… con cái lớn khôn nên người, trải qua nhiều bề vất vả, khó nhọc. Có cha mẹ mới có con cái. Cha lo làm ăn, vất vả khó nhọc để nuôi con. Từ bát cơm, tấm áo đến ngọn đèn, quyển sách của con là do “công cha” và “nghĩa mẹ”. Mẹ mang nặng đẻ đau, như tục ngữ đã ghi lại: “Đứa con là hạt máu cắt đôi của mẹ”. Con thơ lớn lên bằng dòng sữa tiếng ru, tiếng hát, bằng sự vỗ về, âu yếm chở che của mẹ hiền. Mẹ theo dõi, mẹ vui sướng từng ngày, từng ngày: “Ba tháng con biết lẫy, bảy thảng con biết bò, chín tháng con lò dò biết đi”… Mẹ lo lắng, tóc mẹ bạc dần… khi con thơ ốm đau bệnh tật. Bát cháo, chén thuốc cho con chứa đựng biết bao tình thương của mẹ hiền. Và cái ngày con cắp sách đến trường vào học lớp Một, mẹ cha như trẻ lại, dào dạt sống trong niềm vui hạnh phúc và hi vọng. Đó là “cù lao chín chữ", đó là công ơn to lớn trời bể của mẹ cha, mà con cái phải biết “ghi lòng”. Có hiếu thảo thì con cái mới biết “ghi lòng” công cha nghĩa mẹ. Hai tiếng “con ơi " thật thấm thía, vần thơ như thấm sâu, lắng sâu vào tâm hồn ta.
Cái hay của bài ca dao là cách nói so sánh cụ thể, nên thơ. Cái đẹp của bài ca dao là thể hiện sự ca ngợi, nói lên lòng biết ơn công cha nghĩa mẹ vô cùng to lớn. Ý nghĩa bài ca dao vô cùng sâu sắc nó dạy chúng ta bài học về lòng hiếu thảo của đạo làm con.
1,Bài thơ này từng được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên vì bài này nói nên chủ quyền của 1 đất nước ko có 1 ai có thể xâm phạm được
2,ca dao , dân ca là những khái niệm tương đương , chỉ các thể loại trữ tình dân gian , kết hợp lời và nhạc , diễn tả đời sống nội tâm của con người.
- Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc , tức những câu hát dân gian trong diễn xướng
- Ca dao là lời thơ của dân ca
3, thơ đường luật:
-số câu số chữ: là thể thơ mỗi bài có 4 câu , mỗi câu 7 chữ
- hiệp vần : vần chân , vần bằng cuối các câu 1,2,4,6
- nhịp: thường là nhịp 3/4 hoặc 2/2/3
- đối : phần lớn là ko có đối nếu có thì
+ câu 1 , câu 2 đối nhau
+ câu 3 , câu 4 đối nhau
+ câu 2 , câu 3 đối nhau
\(\Rightarrow\) Đối thanh , đối ý , đối từ loại
- cấu trúc : 4 phần : khai , thừa , chuyển hợp
- Luật bằng trắc :
+ các chữ 1,2,5 (nhất , tam , ngũ ) bất luận
+ các chữ 2,4,5 ( nhị , tứ , lục ) phân minh
Bài thơ Nam quốc sơn hà: là tác phẩm được sử dụng trong kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (Lê Hoàn) và lần thứ 2 (Lý Thường Kiệt) nhằm mục đích khẳng định chủ quyền dân tộc, khích lệ ba quân tướng sĩ và uy hiếp tinh thần giặc Tống.
2. Bình Ngô đại cáo: Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thay lời Bình Định vương Lê Lợi năm Đinh Mùi (1427), tuyên bố bình định giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
3. Bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh viết, sau đó đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tuyên bố Việt Nam độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
tick nha bạn
Dân ca là những sáng tác kết hợp cả phần lời và nhạc tạo thành những câu hát dân gian
Ca dao là phần lời thơ của dân ca
Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ đời nhà Đường, Trung Quốc. Là một trong những dạng thơ Đường bên cạnh cổ thể (cổ phong), từ, thơ Đường luật đã phát triển mạnh mẽ tại chính quê hương của thể loại và lan tỏa ra nhiều quốc gia lân bang với tư cách thể loại tiêu biểu nhất của thơ Đường nói riêng và tinh hoa thi ca Trung Hoa nói chung. Thơ Đường luật còn được gọi với tên thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể vốn không theo cách luật ấy.
Thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc phức tạp được thể hiện ở 5 điều sau: Luật, Niêm, Vần, Đối và Bố cục. Về hình thức, thơ Đường luật có các dạng "thất ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn; biến thể có các dạng: "thất ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), "ngũ ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu năm chữ), "ngũ ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác. Người Việt Nam cũng tuân thủ hoàn toàn các quy tắc này.
- NHỮNG KIẾN THỨC BỔ TRỢ 1. Tri thức về thể loại Trong khung phân loại các thể loại văn học dân gian, hầu hết các thể loại thuộc phương thức tự sự, chỉ có ca dao là thể loại thuộc phương thức trữ tình. Chức năng cơ bản của thơ ca trữ tình dân gian là biểu đạt một cách trực tiếp những tư tưởng, tình cảm của con người. Đó chính là ưu thế nổi bật nhất của thơ ca trữ tình. Thơ ca dân gian là nơi biểu hiện tập trung nhất tâm hồn dân tộc. Thơ ca trữ tình dân gian của các dân tộc trên thế giới đều là cội nguồn sáng tạo của thơ ca trữ tình sau này. Hê-ghen, nhà triết học lớn của Đức đã nói : "Thơ ca dân gian họp thành một trong những dòng chính của thơ trữ tình". Nhà thơ Xuân Diệu có nhiều nhận xét rất hay và chính xác về ca dao dân tộc : “Những câu ca dao từ Nam chí Bắc như có đất, có nước, như có cát, có biển, như có mồ hôi người, chúng ta sẽ cảm thấy dần dần tụ lại nơi khoé mắt một giọt ướt sáng ngời. Đó là một giọt tinh tuý chắt ra từ ruột của non sông". Hay : "Thơ ca cổ điển có cái hay của thơ ca cổ điển, nhưng trong thơ ca cổ điển dễ gì có được cái chất tâm hồn người mới cày xới lên, còn tươi rói, bốc hơi, chảy máu". Để hiểu được thơ ca dân gian, phải chú ý đến bản chất trữ tình được bộc lộ một cách trực tiếp như thế nào và điều gì đã khiến thơ ca có thể đi vào trái tim hàng triệu con người trải qua hàng bao thế hệ. 2. Một số điểm cần lưu ý a) Đặc điểm diễn xướng và chức năng thể loại Như đã trình bày, khi phân tích ca dao, yếu tố quan trọng bậc nhất là yếu tố ngôn từ, song không thể không chú ý đặc trưng nguyên họp, biểu hiện ở đặc điểm diễn xướng và chức năng thực hành - sinh hoạt của ca dao. Nhân dân ta xưa không sáng tác ca dao để in hay đọc mà sáng tác ca dao để hát hò trong lao động, trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng như lễ hội hay trong các cuộc vui chơi tự do. Do vậy cần phải chú ý đến ba yếu tố gắn bó chặt chẽ trong đặc trưng nguyên hợp, đó là lời hát, lối hát, điệu hát. - Lời hát : Chính là yếu tố ngôn từ, là chất liệu quan trọng nhất tạo ra ý nghĩa đích thực của tác phẩm. - Lối hát : Tức là hình thức sinh hoạt, phương thức diễn xướng của ca dao. Ca dao có hai hình thức diễn xướng cơ bản là hát cuộc và hát lẻ, hát trong lễ hội và hát trong sinh hoạt đời thường, hát trơn và hát có nhạc khí kèm theo. - Điệu hát : Tức là làn điệu của lòi hát, yếu tố âm thanh, những tiếng đệm, đưa hơi, luyến láy để tạo thành nét âm nhạc và những nét âm nhạc đặc thù như dân ca Quan họ, hát Xoan Ghẹo Phú Thọ hay Lí Nam Bộ. Hoàn cảnh diễn xướng và chức năng sinh hoạt có mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng nhất định đến các yếu tố thi pháp của ngôn từ như thể thơ, cấu trúc, cách biểu đạt. Vì thế không thể nghiên cứu ngôn từ một cách biệt lập mà tuỳ từng trường họp, phải chú ý đến những yếu tố ngoài văn bản nhưng lại có tác động chi phối quan trọng đến nội dung, ý nghĩa và tính thẩm mĩ của tác phẩm. Ví dụ khi tìm hiểu nhũng bài hát ru, không thể tách lời hát ra khỏi chức năng diễn xướng của tác phẩm, không thể giảng tác phẩm giống như chức năng của các bài hát giao duyên, như các bài ca nghi lễ vì mỗi tiểu loại bài ca đảm nhiệm những chức năng riêng và chức năng ấy sẽ chi phối đến cấu trúc, thể thơ, thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Đặc điểm diễn xướng như tính chất đối đáp, trò chuyện trong lao động, trong các cuộc hát thử tài, chọn giọng yêu cầu người hát vừa phải có lưng vốn ca dao phong phú, dồi dào vừa phải có tài ứng đáp, sáng tạo khiến cho trong ca dao có sự tồn tại của hàng loạt các công thức truyền thống : các công thức truyền thống mở đầu bài ca, công thức miêu tả thiên nhiên, công thức miêu tả con người,... Ca dao là sáng tác tập thể, truyền miệng, được nhân dân sáng tạo, chọn lựa và nuôi dưỡng nên nó mang tính thẩm mĩ cộng đồng sâu sắc. b) Kết cấu của ca dao Kết cấu ca dao thường ngắn gọn, cô đọng, mang tính chất đối đáp, trò chuyện. Kết cấu đối đáp hai vế như kiểu “Bây giờ mận mới hỏi đào...”, “Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở...”,... chiếm một số lượng không lớn như kết cấu đối đáp một vê nhưng lại là dạng kết cấu đặc trưng của ca dao. Còn đa số ca dao tồn tại ở dạng một vế nhưng vẫn in rõ dấu ấn lối trò chuyện, đối đáp của nhân dân lao động: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Như trên đã trình bày, ở ca dao tồn tại một số kết cấu theo công thức truyền thống "Thân em như...", "Chiều chiều...", "Ngó lên...", "Người về...",... Khi tìm hiểu ca dao cần đặt chúng trong hệ thống lối nói, lối nghĩ, lối thể hiện để bài ca âm vang trong hệ thống. Nếu như hệ thống của truyện kể là các típ, môtíp thì hệ thống trong ca dao là các công thức mở đầu hoặc truyền thống tả cảnh, tả người. Văn học dân gian không mang tính cá thể hoá mà nặng về khái quát hoá nên sự tồn tại của các công thức truyền thống là điều dễ hiểu. Tìm hiểu ca dao trong hệ thống đó là tìm được mạch nguồn chung, tìm được tính thống nhất của chủ đề, của cảm hứng trữ tình song lại rất đa dạng, phong phú trong cách diễn tả. Ví dụ, cùng là tiếng hát than thân hoặc tiếng hát nghĩa tình, cùng mở đầu bàng "Thận em..." hay "Nhớ ai..." mà có bao nhiêu hình ảnh khác nhau : "giếng giữa đàng", "miếng cau khô", "tấm lụa đào",... Ca dao có một số dạng kết cấu phổ biến như kết cấu tưong đồng: Cây khô chưa dễ mọc chồi, Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta. Non xanh bao tuổi mà già, Bởi vì sưong tuyết hoá ra bạc đầu. Có kết cấu đối lập : Chồng ta áo rách ta thưong, Chồng người áo gấm xông hương mặc người. Có kết cấu tầng bậc, đi từ xa đến gần, đặc biệt phù hợp với lối nói bóng gió của ca dao giao duyên : "Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở,...", "Hôm qua tát nước đầu đình...",... c) Một số biện pháp nghệ thuật trong việc xây dựng hình ảnh - Biện pháp so sánh được sử dụng nhiều trong ca dao, tạo nên hai vế, cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Biện pháp so sánh tu từ giúp cho việc nhận thức đặc điểm các sự vật, hiện tượng, khắc hoạ một cách cụ thể các trạng thái tình cảm trừu tượng, khó đong đếm, khó diễn đạt như các trạng thái nhớ, thương yêu, giận hờn, trách móc : + Nhớ ai bổi hổi bồi hồi, Như đứng đống lửa, như ngồi đống than. + Thân em như giếng giữa đàng, Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. + Tình anh như nước dâng cao, Tình em như dải lụa đào tẩm hương. - Ẩn dụ nghệ thuật là sự so sánh ngầm dựa trên những nét tương đồng giữa các sự vật nhưng khác với biện pháp so sánh trực tiếp, cái được so sánh ở ẩn dụ ẩn kín đi, chỉ còn xuất hiện cái so sánh nên cách nói này tạo nên các trường nghĩa khác nhau, có nghĩa đen, nghĩa bóng và nghĩa bóng lại tiếp tục phái sinh trong các trường hợp ứng dụng cụ thể. Nếu như so sánh trực tiếp là sự cụ thể hoá đặc điểm các sự vật thì ẩn dụ lại có xu hướng khái quát hoá, mở rộng liên tưởng cho người tiếp nhận. Ca dao là thể loại thuộc phương thức trữ tình nên giá trị biểu cảm và giá trị thẩm mĩ của so sánh và ẩn dụ rất lớn. Có thể nói, những bài ca dao hay nhất trong kho tàng ca dao Việt Nam đã sử dụng thành công phép ẩn dụ nghệ thuật. Nếu như phép so sánh được sử dụng nhiều trong việc biểu đạt các trạng thái tình cảm có sắc thái điển hình rõ nét như nhớ thương, yêu đưong giữa vợ chồng, trai gái ít ra đã có lời ước hẹn thì ẩn dụ giúp con người biểu đạt những trạng thái tình cảm không dễ bày tỏ, không mấy rõ ràng. Đó là những lời trách móc, giận hờn, những tình yêu đon phương, lỡ dở, trái ngang: Tằm ơi say đắm nơi đâu, Mà tằm bỏ nghĩa nương dâu chẳng nhìn. Đã mang lấy cái thân tằm, Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ. - Biểu tượng : Ẩn dụ nghệ thuật được sử dụng lặp đi lặp lại, trở nên quen thuộc trong tín hiệu thẩm mĩ cộng đồng, mang tính kí hiệu, được gọi là các biểu tượng nghệ thuật. Biểu tượng nghệ thuật mang đặc điểm dân tộc rõ nét vì những vật biểu trưng bên cạnh tính ước lệ lấy từ các điển cố, điển tích trong văn học viết như rồng mây, trúc mai, loan phượng, hệ thống hình ảnh thường được lấy từ cảnh vật, đối tượng quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của dân tộc như con cò, con bống, cây đa, bến nước,... Ra đời trong xã hội cũ còn nhiều xót xa, cay đắng, bất công, những bài ca dao trữ tình là những tiếng hát than thân, yêu thương tình nghĩa của người bình dân cất lên sau luỹ tre làng, bên gốc đa, giếng nước, sân đình,... Sáu bài ca dao được phân tích dưới đây đều nói lên điều đó. II - PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1. Đặc điểm về nội dung Bài 1, 2: Ca dao là sản phẩm tinh thần của tập thể nhân dân, là tấm gương phản chiếu tâm hồn người lao động một cách sâu sắc. Tính chất “đồng sáng tạo” đó đã tạo ra trong ca dao nói riêng, trong văn học dân gian nói chung các công thức truyền thống mang tính thẩm mĩ cộng đồng trong sáng tạo nghệ thuật. Khi tìm hiểu ca dao cần đặt bài ca dao đó trong hệ thống công thức nghệ thuật truyền thống để chúng có thể âm vang trong nguồn mạch chung và thể hiện được sắc thái riêng độc đáo. Trong ca dao có niềm vui và nỗi buồn, có tiếng ca nghĩa tình và tiếng hát than thân. Khi nghĩ về thân phận của mình, người nông dân xưa kia thường cất lên tiếng ca chứa chất nỗi buồn tủi, đắng cay. Trong dòng mạch đó nổi lên rõ nhất là tiếng hát than thân về cuộc đời người phụ nữ mà hai bài ca dao mở đầu bằng hai tiếng "Thân em" là minh chứng. Cuộc đời người phụ nữ xưa kia có rất nhiều nỗi khổ cực, đắng cay. Nỗi khổ về vật chất, phải thức khuya dậy sớm dãi gió, dầm sương : Thân em như lá đài bi, Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương, Ngày ngày hai bữa cơm đèn, Lấy gì má phấn răng đen hỡi chàng. Nhưng nỗi khổ lớn nhất của họ vẫn là nỗi khổ tinh thần. Xã hội phong kiến xưa kia với những quan niệm bất công như "tam tòng" (ở nhà phải theo cha, lấy chồng phải theo chồng, chồng chết phải theo con) đã gây ra bao nỗi khổ cực cho người phụ nữ trong suốt cả cuộc đời. Họ không có quyền định đoạt hạnh phúc cũng như cuộc đòi mình. Chính vì thế, khi nghĩ về thân phận của mình, người phụ nữ thường cất lên tiếng hát than thân chứa chất nỗi buồn tủi, đắng cay. Nếu thống kê, ta sẽ thấy số bài ca mở đầu bằng cụm từ "Thân em như" chiếm số lượng khá lớn. Nỗi khổ về thân phận bị phụ thuộc ấy được thể hiện rõ nét qua biện pháp nghệ thuật so sánh quen thuộc của ca dao. Hai bài ca dao mang nét chung trong biện pháp nghệ thuật và nội dung ý nghĩa. Hai bài đều sử...
Mk chỉ biết từng này thôi nhé mong sẽ giúp được câu