K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

11 tháng 8 2017

1. Sử dụng chữ điệp âm đầu:

Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt
Lọc lừa, lươn lẹo lại lên lương

Tết tiếc túng tiền tiêu
Tính toán toan tìm tay tử tế

Cô kia còn kênh kiệu
Kỹ càng cố kén cậu căn cơ

Hội hè hòng hí hửng
Hỏi han hàng họ hẳn hay ho

Mới mẻ mừng mợ mạnh
Mỹ miều mà mở mặt môn mi

Aí ân êm ấm ấy
Ỡm ờ uốn éo ý yêu ai


2. Thay đối trật tự các chữ (hay nói ngược):

Vợ cả, vợ hai, (hai vợ) cả hai đều là vợ cả.
Thầy tu, thầy chùa, chùa thầy cứ việc thầy tu.


Câu đối của tri huyện Lê Kim Thằng và Xiển Bột:

Học trò là học trò con, tóc đỏ như son là con học trò.
Tri huyện là tri huyện Thằng, ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện.


3. Đưa các chữ cùng một đối tượng, một khái niệm vào trong câu đối

Tập trung các chữ chỉ mùa và hướng:

Chợ Đồng Xuân bán bánh trung thu, đông thì đông, nhưng không bán hạ
Người miền Đông làm nhà đất Bắc, Tây thì Tây, vẫn dựng kiểu Nam.


Tập trung nhiều tên cây:

Thầy Bá Bưởi đi xuống cầu Chanh, đồ đề chi mà bưng bồng kín mít.
Cô Tư hồng ở làng cầu Cậy, nhân duyên gì mà quấn quít cho cam.


Nhân một cuộc nhàn du, đến thăm ngôi chùa nọ, thấy Sư Cụ trụ trì có viết một vế đối ra cho khách thập phương tới lễ chùa rằng:

Đọc ba trăm sáu mươi quyển kinh, chẳng thần, thánh, Phật, Tiên nhưng khác tục!

Cụ Nguyễn Công Trứ cho rằng nhà tu hành có vẻ tự kiêu quá nên đã đốii lại:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ, không quân, thần, phụ, tử, ***** ra người!

4. Vận dụng sự nói lái :

Khá hay, nhưng khi nói lái, nhiều từ ngữ lại mang nghĩa tục

Câu này khá thông dụng:

Con cá đối nằm trên cối đá

Đặc biệt, mỗi thành phần của hai vế đều là nói lái:

Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấy.
Thầy tu thù Tây, cạo đầu cầu đạo.


5. Vận dụng các chữ đồng âm :

Khá thú vị

Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa
Thằng mù nhìn thằng mù (bù) nhìn, thằng mù (bù) nhìn không nhìn thằng mù


Ngày nay Ngày Nay in nhà in nhà.
(Ngày Nay là tên một tờ báo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn)

Trọng tài trọng tài vận động viên,
Vận động viên động viên trọng tài.


6. Tách chữ :

Các chữ công kênh, cồng kềnh, cóc cách, cọc cạch được tách ra ở hai vế:

Con công đi qua chùa Kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ lại
Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi trúng cọc, nó cạch đến già.

(Chùa Kêng ở Bắc Ninh, kềnh là ngoảnh lại, vọng cách là cây dùng để ăn gỏi, cạch là chừa bỏ vì sợ)

Các chữ kim chỉ, vá may:

Ngựa kim ăn cỏ chỉ
Chó vá cắn thợ may


Tách tên nhân vật:

Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim lòng đã Trọng
Trọng Thủy nhòm vào nước, thoáng nhìn nàng Mỵ mắt rơi Châu.


7. Vận dụng chữ trái nghĩa:

Câu đối của Tú Cát và Trạng Quỳnh:

Trời sinh ông Tú Cát
Đất nẻ con bọ hung

(Hán Việt, cát là tốt, hung là xấu)

8. Vận dụng cả đồng âm lẫn đồng nghĩa :

Câu đối của bà Đoàn Thị Điểm bắt bí Trạng Quỳnh:

Da trắng vỗ bì bạch
(Bì bạch là Hán Việt, đồng nghĩa với da trắng & đồng âm với từ tượng thanh bì bạch)

Rừng sâu mưa lâm thâm
Cô Miên ngủ một mình
Trời xanh màu thiên thanh

Lộc là hươu, hươu đi lộc cộc
Ngư là cá, cá lội ngắc ngư

Cốc cốc đánh mõ rình cót thóc,
Thử đêm nay chuột có cắn không

Tùng tùng hồi trống đào cây thông,
Ô cành nọ quạ không đậu được


Có một vế thách đối hóc búa, đang chờ người tài hoa:

Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử
(Các chữ Hán Việt hồi hương, phụ tử đồng nghĩa với về quê, cha con và đồng âm với tên hai vị thuốc bắc hồi hương, phụ tử)

9. Lấy hai câu thơ trong Truyện Kiều rồi thêm hoặc bớt một tiếng:

Câu đối dán ở cửa buồng vợ lẽ:

Khi vào dùng dằng, khi ra vội ..
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng ..


(Bỏ hai chữ vàng và chung)

Câu đối Tết

Người Việt Nam chúng ta mỗi dịp xuân về có tục chơi câu đối Tết. Tục này không biết rõ phát sinh từ thời nào nhưng chắc chắn là cũng lâu lắm rồi. Câu đối sau đây chắc không ai trong chúng ta mà không biết:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh


Xuân lai tăng lộc thọ
Phúc đáo vĩnh Khang Ninh


Những câu đối của Hy Văn tướng công Nguyễn Công Trứ:

Tả cảnh nghèo của một kẻ sĩ:

Tối ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa.
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

Công nợ rối canh tàn, ước những mười năm dồn lại một.
Rượu chè tràn quy tị, trông cho ba bữa hóa ra mười.


Trong cảnh thanh bần, nhiều khi không đợi, không mong mà xuân vẫn cứ đến:

Duột trời ngất một cây nêu, tối bữa ba mươi ri là Tết.
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mùng một rứa cũng xuân.

Bàn một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái.
Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.


Cụ cũng giúp cho người mù, không biết màu sắc Xuân, hương vị Tết ra sao một câu đối tức cảnh:

Tối ba mươi nghe tiếng pháo Giao Thừa ờ ờ Tê't.
Sáng mùng một vấp nêu Nguyên Đán à à Xuân.


Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với lời thơ lãng mạn, đã làm câu đối Tết rất trào lộng:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, đóng chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào.


Sưu tầm

11 tháng 8 2017

Bà già,bà giả,bà gia,

Bà ra kẻ chợ,con ma bắt bà

Chồng chổng,chồng chông

Chồng bát,chồng đĩa,nồi hông cũng chồng.

Bác gì,bác xác bác xơ,

Bác chết bao giờ,bác chả bảo tôi.

Cô thỉ cô thi.

Cô đang đương thì,cô kẹo với ai?...

Muốn rằng tàu lặng tàu bay

Nên anh bỏ việc cấy cày anh đi.

Biết mà cu lít cu li,

Thà rằng ở vậy nhà quê với nàng

Nhà quê có họ có hàng,

Có làng,có xóm,thở nhàng ,có nhau.

11 tháng 8 2017

1.Con mèo, con mẻo, con meo

Ai dạy mày trèo, mà chẳng dạy tao?

2.Con kiến mà leo canh đa

Leo phải cành cụt leo ra, leo vào

Con kiến mà leo cành đào

Leo phải cảnh cụt leo vào, leo ra.

3.Rau má là lá lan dây,

Đã trót dan díu, ở đây đừng về.

Rau má là lá lan thề

Đã trót dan díu đừng về ở đây.

4.Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?

Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang?

Một trăm thứ than, than chi là than không quạt?

Một trăm thứ bạc, bạc chi là chẳng ai mua?

Trai nam nhi anh đối đặng thì gái bốn mùa xin theo.

5.

Một trăm thứ than, than thân là than không ai quạt.

Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua

Chơi chữ là cách dùng các từ đơn tiết đồng âm nhưng khác nghĩa:

Trời mưa, trời gió vác đó ra đơm

Chạy vô ăn cơm chạy ra mất đó

Kể từ ngày mất đó đó ơi

Răng đó không phân qua nói lại đôi lời cho đây hay?

6. Em ơi nên lấy thợ bào

Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm

7.Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ

Ra hồ sen xem ả hái hoa

Ả hớ hênh ả để đồ ra

Đồ trông thấy ngắm ngay tức khắc

Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp

Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia

Còn nữa! Tự tìn tiếp trog link dưới đây:Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao dân ca Việt Nam - Trần Minh Thương - 4phuong.net

P/S: Rảnh kiếm chơi chứ k pải ths ns nhìu tik nhào zô đâu nhé! 1 tik đc rùi k cần nhìu! Tham thì thâm!

11 tháng 8 2017

1Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt
Lọc lừa, lươn lẹo lại lên lương

2Tết tiếc túng tiền tiêu
Tính toán toan tìm tay tử tế

3Cô kia còn kênh kiệu
Kỹ càng cố kén cậu căn cơ

4Hội hè hòng hí hửng
Hỏi han hàng họ hẳn hay ho

5Mới mẻ mừng mợ mạnh
Mỹ miều mà mở mặt môn mi

Aí ân êm ấm ấy
Ỡm ờ uốn éo ý yêu ai

11 tháng 8 2017

1Vợ cả, vợ hai, (hai vợ) cả hai đều là vợ cả.
Thầy tu, thầy chùa, chùa thầy cứ việc thầy tu.



2Học trò là học trò con, tóc đỏ như son là con học trò.
Tri huyện là tri huyện Thằng, ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện.

3.Chợ Đồng Xuân bán bánh trung thu, đông thì đông, nhưng không bán hạ
Người miền Đông làm nhà đất Bắc, Tây thì Tây, vẫn dựng kiểu Nam.

4Thầy Bá Bưởi đi xuống cầu Chanh, đồ đề chi mà bưng bồng kín mít.
Cô Tư hồng ở làng cầu Cậy, nhân duyên gì mà quấn quít cho cam.

5Đọc ba trăm sáu mươi quyển kinh, chẳng thần, thánh, Phật, Tiên nhưng khác tục!

12 tháng 8 2017

Câu Đối - Chơi chữ trong câu đối

Sáng tác và thưởng thức câu đối là một thú phong nhã của người Việt từ xưa đến nay. Những câu đối độc đáo và giá trị đều là những câu đối có vận dụng tài tình tiếng nói của dân tộc. Bởi vậy, chơi chữ giữ vai trò hết sức quan trọng trong câu đối. Có trên mười kiểu chơi chữ khác nhau trong câu đối xưa và nay:

1. Sử dụng chữ điệp âm đầu:

-Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt
Lọc lừa, lươn lẹo lại lên lương

-Tết tiếc túng tiền tiêu
Tính toán toan tìm tay tử tế

-Cô kia còn kênh kiệu
Kỹ càng cố kén cậu căn cơ

-Hội hè hòng hí hửng
Hỏi han hàng họ hẳn hay ho

-Mới mẻ mừng mợ mạnh
Mỹ miều mà mở mặt môn mi

-Aí ân êm ấm ấy
Ỡm ờ uốn éo ý yêu ai


2. Thay đối trật tự các chữ (hay nói ngược):

-Vợ cả, vợ hai, (hai vợ) cả hai đều là vợ cả.
Thầy tu, thầy chùa, chùa thầy cứ việc thầy tu.



-Học trò là học trò con, tóc đỏ như son là con học trò.
Tri huyện là tri huyện Thằng, ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện.


3. Đưa các chữ cùng một đối tượng, một khái niệm vào trong câu đối

Tập trung các chữ chỉ mùa và hướng:

-Chợ Đồng Xuân bán bánh trung thu, đông thì đông, nhưng không bán hạ
-Người miền Đông làm nhà đất Bắc, Tây thì Tây, vẫn dựng kiểu Nam.


Tập trung nhiều tên cây:

-Thầy Bá Bưởi đi xuống cầu Chanh, đồ đề chi mà bưng bồng kín mít.
Cô Tư hồng ở làng cầu Cậy, nhân duyên gì mà quấn quít cho cam.


Nhân một cuộc nhàn du, đến thăm ngôi chùa nọ, thấy Sư Cụ trụ trì có viết một vế đối ra cho khách thập phương tới lễ chùa rằng:

-Đọc ba trăm sáu mươi quyển kinh, chẳng thần, thánh, Phật, Tiên nhưng khác tục!

Cụ Nguyễn Công Trứ cho rằng nhà tu hành có vẻ tự kiêu quá nên đã đốii lại:

-Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ, không quân, thần, phụ, tử, ***** ra người!

4. Vận dụng sự nói lái :

Khá hay, nhưng khi nói lái, nhiều từ ngữ lại mang nghĩa tục

Câu này khá thông dụng:


-Con cá đối nằm trên cối đá

Đặc biệt, mỗi thành phần của hai vế đều là nói lái:

-Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấy.
Thầy tu thù Tây, cạo đầu cầu đạo.


5. Vận dụng các chữ đồng âm :

Khá thú vị

-Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa
Thằng mù nhìn thằng mù (bù) nhìn, thằng mù (bù) nhìn không nhìn thằng mù


Ngày nay Ngày Nay in nhà in nhà.
(Ngày Nay là tên một tờ báo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn)

-Trọng tài trọng tài vận động viên,
Vận động viên động viên trọng tài.


6. Tách chữ :

Các chữ công kênh, cồng kềnh, cóc cách, cọc cạch được tách ra ở hai vế:

-Con công đi qua chùa Kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ lại
Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi trúng cọc, nó cạch đến già.

(Chùa Kêng ở Bắc Ninh, kềnh là ngoảnh lại, vọng cách là cây dùng để ăn gỏi, cạch là chừa bỏ vì sợ)

Các chữ kim chỉ, vá may:

-Ngựa kim ăn cỏ chỉ
Chó vá cắn thợ may


Tách tên nhân vật:

-Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim lòng đã Trọng
Trọng Thủy nhòm vào nước, thoáng nhìn nàng Mỵ mắt rơi Châu.


7. Vận dụng chữ trái nghĩa:

Câu đối của Tú Cát và Trạng Quỳnh:

-Trời sinh ông Tú Cát
Đất nẻ con bọ hung

(Hán Việt, cát là tốt, hung là xấu)

8. Vận dụng cả đồng âm lẫn đồng nghĩa :

Câu đối của bà Đoàn Thị Điểm bắt bí Trạng Quỳnh:

-Da trắng vỗ bì bạch
(Bì bạch là Hán Việt, đồng nghĩa với da trắng & đồng âm với từ tượng thanh bì bạch)

-Rừng sâu mưa lâm thâm
Cô Miên ngủ một mình
Trời xanh màu thiên thanh

-Lộc là hươu, hươu đi lộc cộc
Ngư là cá, cá lội ngắc ngư

-Cốc cốc đánh mõ rình cót thóc,
Thử đêm nay chuột có cắn không

-Tùng tùng hồi trống đào cây thông,
Ô cành nọ quạ không đậu được


Có một vế thách đối hóc búa, đang chờ người tài hoa:

-Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử
(Các chữ Hán Việt hồi hương, phụ tử đồng nghĩa với về quê, cha con và đồng âm với tên hai vị thuốc bắc hồi hương, phụ tử)

9. Lấy hai câu thơ trong Truyện Kiều rồi thêm hoặc bớt một tiếng:

Câu đối dán ở cửa buồng vợ lẽ:

-Khi vào dùng dằng, khi ra vội ..
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng ..


(Bỏ hai chữ vàng và chung)

Câu đối Tết

Người Việt Nam chúng ta mỗi dịp xuân về có tục chơi câu đối Tết. Tục này không biết rõ phát sinh từ thời nào nhưng chắc chắn là cũng lâu lắm rồi. Câu đối sau đây chắc không ai trong chúng ta mà không biết:

-Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh


-Xuân lai tăng lộc thọ
Phúc đáo vĩnh Khang Ninh


Những câu đối của Hy Văn tướng công Nguyễn Công Trứ:

Tả cảnh nghèo của một kẻ sĩ:

-Tối ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa.
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

-Công nợ rối canh tàn, ước những mười năm dồn lại một.
Rượu chè tràn quy tị, trông cho ba bữa hóa ra mười.


Trong cảnh thanh bần, nhiều khi không đợi, không mong mà xuân vẫn cứ đến:

-Duột trời ngất một cây nêu, tối bữa ba mươi ri là Tết.
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mùng một rứa cũng xuân.

-Bàn một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái.
Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.


Cụ cũng giúp cho người mù, không biết màu sắc Xuân, hương vị Tết ra sao một câu đối tức cảnh:

-Tối ba mươi nghe tiếng pháo Giao Thừa ờ ờ Tê't.
Sáng mùng một vấp nêu Nguyên Đán à à Xuân.


Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với lời thơ lãng mạn, đã làm câu đối Tết rất trào lộng:

-Tối ba mươi khép cánh càn khôn, đóng chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới
-Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào.

Nguyễn Thị Ngọc Bảo Nguyễn Thị Ngọc Bảo8 giờ trước (21:22)

Câu đối Tết

Người Việt Nam chúng ta mỗi dịp xuân về có tục chơi câu đối Tết. Tục này không biết rõ phát sinh từ thời nào nhưng chắc chắn là cũng lâu lắm rồi. Câu đối sau đây chắc không ai trong chúng ta mà không biết:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh


Xuân lai tăng lộc thọ
Phúc đáo vĩnh Khang Ninh


Những câu đối của Hy Văn tướng công Nguyễn Công Trứ:

Tả cảnh nghèo của một kẻ sĩ:

Tối ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa.
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

Công nợ rối canh tàn, ước những mười năm dồn lại một.
Rượu chè tràn quy tị, trông cho ba bữa hóa ra mười.


Trong cảnh thanh bần, nhiều khi không đợi, không mong mà xuân vẫn cứ đến:

Duột trời ngất một cây nêu, tối bữa ba mươi ri là Tết.
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mùng một rứa cũng xuân.

Bàn một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái.
Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.


Cụ cũng giúp cho người mù, không biết màu sắc Xuân, hương vị Tết ra sao một câu đối tức cảnh:

Tối ba mươi nghe tiếng pháo Giao Thừa ờ ờ Tê't.
Sáng mùng một vấp nêu Nguyên Đán à à Xuân.


Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với lời thơ lãng mạn, đã làm câu đối Tết rất trào lộng:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, đóng chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào.

12 tháng 8 2017

- "Mênh mông muôn mẫu một màu mưa
Mỏi mắt miên mang mãi mịt mờ
Mộng mị mỏi mòn mai một một
Mĩ miều mai mắn mây mà mơ"

- Thật thà,thẳng thắn thì thua thiệt
Tâm tối,tham tàn,thú thành tiên.
Thua thiệt,thiếu thốn,thân tiều tụy
Thắng thế,thằng tham thãi thừa tiền.
Tiền tài tô thắm thêm thần thế
Thương thay tên tốt tảo tần trông!...
Tự tù,tu tiền thân tù tội
Tự tâm,tu tỉnh,thấy thảnh thơi!...

- Ngàn non nghi nghút nhang nhen nhóm
Ngơ ngác Nai nằm ngắm nghía nghe
Nhẩn nha,Ngư ngồi ngâm nga nghĩ
Nhọc nhằn ,ngao ngán,ngóng Nguyệt Nga.

- Bôn ba bờ bãi,bẫy bầy beo
Bám bờ bám bụi,bấy bọt bèo.
Bao bận bị bệnh, bao buồn bã
Bữa bò bữa béo bất bảnh bao.
Bì bà bì bạch,bao bạc bẽo
Bé buồn bé bước bé bi bô...
Ba ba,bốn bốn,Bầu-Bí-Bắp...
Bảy bảy,bố bàn bán” bo bo”..

12 tháng 8 2017

Bà già ra chợ Cầu Đông
Xem một quẻ bói lấy chồng lợi (1) chăng?
Thấy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi (2) thì có lợi (3) nhưng răng chẳng còn

Chỉ khi nhận ra ý nghĩa của các chữ (từ) đồng âm nhưng khác nghĩa, người nghe mới bật cười, vui tếu, nên không nỡ giận. Chữ lợi (1) và lợi (2) giống nhau vì đều chỉ cái lợi ích, cái thu được, còn lợi (3) chỉ phần thịt bao quanh răng. Người già răng rụng sạch chỉ còn trơ lợi, móm mém đến vậy mà còn đòi lấy chồng!

Với lối chơi chữ dân gian xưa kiểu này, ta cũng gặp những từ đồng âm tương tự:

Cóc chết bỏ nhái mồ côi,
Chẫu ngồi chẫu khóc: chàng ơi là chàng!
Ễnh ương đánh lệnh đã vang,
Tiền đâu mà trả cho làng, ngoé ơi!

Chữ “chàng ơi!” là tiếng khóc của cô Chẫu đối với chàng Cóc, thế nhưng ở đây chỉ nói tới con chẫu chàng trong bộ 5 con vật: cóc, nhái, chẫu chàng, ễnh ương, ngoé.

Chị Xuân đi chợ mùa hè
Mua cá thu về, chợ hãy còn đông.

Một câu thơ đủ cả 4 mùa, nhưng mùa xuân lại là tên cô gái: Xuân. Cá thu và chợ còn đông là những đồng âm khác nghĩa của từ mùa thu và mùa đông, người sáng tác đã khéo vận dụng tài tình.

Câu thơ sau cũng có có hiện tượng đồng âm rất đắt:

Anh Hươu đi chợ Đồng Nai
Bước qua bến Nghé, ngồi nhai thịt bò

Đủ tên 4 con vật lớn: hươu, nai, nghé, bò. Hai địa danh được lấp ra phần sau (thành tố sau của một từ gồm hai thành tố) đồng âm với tên hai con vật nai và nghé. Kiểu đồng âm vẫn được vận dụng trong ca dao mới với cách thức trang trọng như:

Sầu riêng ai khéo đặt tên,
Ai sầu không biết, riêng em không sầu!

Thời Pháp thuộc để mỉa mai thói học đòi, các nhà Nho đã có nhiều cách dùng từ ngữ “nửa ta, nửa Tây” như bài thơ nói về “bồi Tây, me Tây”:

Lạnh lùng một mảnh sơ – mi (chemise)
Li – ve (L’hiver: mùa đông) trằn trọc lơ – li (le lit :cái giường) một mình
Loăng – tanh (Lointain: xa xôi) ai có thấu tình
E – me (Aimer: yêu thương) đến nỗi thân hình biềng pan! (Bien pâle: rất xanh xao)

~ Bn tham khảo nhé ! Chúc bn học tốt!~

12 tháng 8 2017

Con mèo, con mẻo, con meo
Ai dạy mày trèo, mà chẳng dạy tao?



Con kiến mà leo canh đa
Leo phải cành cụt leo ra, leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cảnh cụt leo vào, leo ra.

Rau má là lá lan dây,
Đã trót dan díu, ở đây đừng về.
Rau má là lá lan thề
Đã trót dan díu đừng về ở đây.



Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?
Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang?
Một trăm thứ than, than chi là than không quạt?
Một trăm thứ bạc, bạc chi là chẳng ai mua?
Trai nam nhi anh đối đặng thì gái bốn mùa xin theo.



Một trăm thứ than, than thân là than không ai quạt.
Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua
Chơi chữ là cách dùng các từ đơn tiết đồng âm nhưng khác nghĩa:
Trời mưa, trời gió vác đó(1) ra đơm
Chạy vô ăn cơm chạy ra mất đó(2).
Kể từ ngày mất đó(3) đó(4) ơi
Răng đó(5) không phân qua nói lại đôi lời cho đây hay?


Em ơi nên lấy thợ bào
Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm


Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ
Ra hồ sen xem ả hái hoa
Ả hớ hênh ả để đồ ra
Đồ trông thấy ngắm ngay tức khắc
Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp
Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia



Sáng trăng em nghĩ tối trời
Em ngồi em để sự đời em ra
Sự đời em bằng lá đa
Đen như mõm chó chém cha sự đời.

12 tháng 8 2017

bài này trên mạng nên mk tick ủng hộ nha

12 tháng 8 2017

ok cảm ơn bn nha

12 tháng 8 2017

ok nha bn

12 tháng 8 2017

Kcj đâu bn!

11 tháng 8 2017

1. Sử dụng chữ điệp âm đầu:

Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt
Lọc lừa, lươn lẹo lại lên lương

Tết tiếc túng tiền tiêu
Tính toán toan tìm tay tử tế

Cô kia còn kênh kiệu
Kỹ càng cố kén cậu căn cơ

Hội hè hòng hí hửng
Hỏi han hàng họ hẳn hay ho

Mới mẻ mừng mợ mạnh
Mỹ miều mà mở mặt môn mi

Aí ân êm ấm ấy
Ỡm ờ uốn éo ý yêu ai


2. Thay đối trật tự các chữ (hay nói ngược):

Vợ cả, vợ hai, (hai vợ) cả hai đều là vợ cả.
Thầy tu, thầy chùa, chùa thầy cứ việc thầy tu.


Câu đối của tri huyện Lê Kim Thằng và Xiển Bột:

Học trò là học trò con, tóc đỏ như son là con học trò.
Tri huyện là tri huyện Thằng, ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện.


3. Đưa các chữ cùng một đối tượng, một khái niệm vào trong câu đối

Tập trung các chữ chỉ mùa và hướng:

Chợ Đồng Xuân bán bánh trung thu, đông thì đông, nhưng không bán hạ
Người miền Đông làm nhà đất Bắc, Tây thì Tây, vẫn dựng kiểu Nam.


Tập trung nhiều tên cây:

Thầy Bá Bưởi đi xuống cầu Chanh, đồ đề chi mà bưng bồng kín mít.
Cô Tư hồng ở làng cầu Cậy, nhân duyên gì mà quấn quít cho cam.


Nhân một cuộc nhàn du, đến thăm ngôi chùa nọ, thấy Sư Cụ trụ trì có viết một vế đối ra cho khách thập phương tới lễ chùa rằng:

Đọc ba trăm sáu mươi quyển kinh, chẳng thần, thánh, Phật, Tiên nhưng khác tục!

Cụ Nguyễn Công Trứ cho rằng nhà tu hành có vẻ tự kiêu quá nên đã đốii lại:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ, không quân, thần, phụ, tử, ***** ra người!

4. Vận dụng sự nói lái :

Khá hay, nhưng khi nói lái, nhiều từ ngữ lại mang nghĩa tục

Câu này khá thông dụng:

Con cá đối nằm trên cối đá

Đặc biệt, mỗi thành phần của hai vế đều là nói lái:

Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấy.
Thầy tu thù Tây, cạo đầu cầu đạo.


5. Vận dụng các chữ đồng âm :

Khá thú vị

Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa
Thằng mù nhìn thằng mù (bù) nhìn, thằng mù (bù) nhìn không nhìn thằng mù


Ngày nay Ngày Nay in nhà in nhà.
(Ngày Nay là tên một tờ báo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn)

Trọng tài trọng tài vận động viên,
Vận động viên động viên trọng tài.

11 tháng 8 2017

1. Tách chữ :

Các chữ công kênh, cồng kềnh, cóc cách, cọc cạch được tách ra ở hai vế:

Con công đi qua chùa Kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ lại
Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi trúng cọc, nó cạch đến già.

(Chùa Kêng ở Bắc Ninh, kềnh là ngoảnh lại, vọng cách là cây dùng để ăn gỏi, cạch là chừa bỏ vì sợ)

Các chữ kim chỉ, vá may:

Ngựa kim ăn cỏ chỉ
Chó vá cắn thợ may


Tách tên nhân vật:

Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim lòng đã Trọng
Trọng Thủy nhòm vào nước, thoáng nhìn nàng Mỵ mắt rơi Châu.


2. Vận dụng chữ trái nghĩa:

Câu đối của Tú Cát và Trạng Quỳnh:

Trời sinh ông Tú Cát
Đất nẻ con bọ hung

(Hán Việt, cát là tốt, hung là xấu)

3. Vận dụng cả đồng âm lẫn đồng nghĩa :

Câu đối của bà Đoàn Thị Điểm bắt bí Trạng Quỳnh:

Da trắng vỗ bì bạch
(Bì bạch là Hán Việt, đồng nghĩa với da trắng & đồng âm với từ tượng thanh bì bạch)

Rừng sâu mưa lâm thâm
Cô Miên ngủ một mình
Trời xanh màu thiên thanh

Lộc là hươu, hươu đi lộc cộc
Ngư là cá, cá lội ngắc ngư

Cốc cốc đánh mõ rình cót thóc,
Thử đêm nay chuột có cắn không

Tùng tùng hồi trống đào cây thông,
Ô cành nọ quạ không đậu được


Có một vế thách đối hóc búa, đang chờ người tài hoa:

Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử
(Các chữ Hán Việt hồi hương, phụ tử đồng nghĩa với về quê, cha con và đồng âm với tên hai vị thuốc bắc hồi hương, phụ tử)

4. Lấy hai câu thơ trong Truyện Kiều rồi thêm hoặc bớt một tiếng:

Câu đối dán ở cửa buồng vợ lẽ:

Khi vào dùng dằng, khi ra vội ..
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng ..


(Bỏ hai chữ vàng và chung)

15 tháng 8 2018

1.Mục đích của người viết văn là giữ cho nền văn minh không tự hủy diệt.

Albert Camus

2.Các nhà thơ bị nguyền rủa nhưng họ không mù, họ nhìn với đôi mắt của thiên thần.

William Carlos Williams 

3. Văn chương trở thành ký ức sống động của một quốc gia.

Aleksandr Solzhenitsyn   

4.Không phải giọng nói điều khiển câu chuyện: chính là đôi tai.

Italo Calvino

 nếu bạn cần nữa thì nói mk nhé



 


 



 

29 tháng 11 2021

Tham khảo

1. Anh em như thể tay chân 
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần 

2.Đường vô xứ Huế quanh quanh 
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

3.Thân em như củ ấu gai 
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

4.Thân em như tấm lụa đào 
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

5.Thân em như thể bèo trôi, 
Sóng dập gió dồi, biết ghé vào đâu? 

6.Thân em như tấm lụa điều 
Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương

7.Thân em như thể hoa lài, 
Hỡi người quân tử thương ai mà gầy.
mình bt 7 câu thôi thông cảm nha.

Trả lời :

Câu :1 khẩu xà tâm phật

Câu : 2 bán tín bán nghi

Câu : 3 bảy nổi ba chìm

Câu : 4 Lên thác xuống ghềnh

Câu 5 tắt lửa tối đền

Câu 6 một nắng hai sương

Câu 7 bách chiến bách thắng

Câu 8 ngày lành tháng tốt

Câu 9 nó cơm ấm cật

Câu 10 lời ăn tiếng nói

Câu 11 : Học ăn học nói học gói học mở

Câu 12 :"Trông" trời, "trông đất", trông mây,

             " Trông" mưa, "trông" gió, "trông" ngày , "trông" đêm.

Câu 13 : "Đèo cao" thì mặc "đèo cao"

                Trèo lên tới đỉnh ta cao hơn đèo.

Câu 14 : "Tìm" vàng, "tìm" bạc dễ "tìm

               "Tìm" câu nhân nghĩa khó "tìm" bạn ơi.

Câu 15 : Lành cho sạch, rách cho thơm.

29 tháng 11 2021

ai giúp mình với pls

 

29 tháng 11 2021

Tham khảo:

1. Anh em như thể tay chân 
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần 

2.Đường vô xứ Huế quanh quanh 
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

3.Thân em như củ ấu gai 
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

4.Thân em như tấm lụa đào 
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

5.Thân em như thể bèo trôi, 
Sóng dập gió dồi, biết ghé vào đâu? 

6.Thân em như tấm lụa điều 
Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương

7.Thân em như thể hoa lài, 
Hỡi người quân tử thương ai mà gầy.
mình bt 7 câu thôi thông cảm nha.

29 tháng 11 2021

1. Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

2. Núi cao chi lắm núi ơi,

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương.

3. Núi cao bởi có đất bồi, 

Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu ?

4. Muôn dòng sông đổ biển sâu

Biển chê sông nhỏ biển đâu nước còn

sai chỗ nào anh ah bảo em!

4 tháng 12 2021

bạn qlamm bị hảo hán

25 tháng 1 2022

TK nha bn

1. Anh em như thể tay chân 
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần 

2.Đường vô xứ Huế quanh quanh 
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

3.Thân em như củ ấu gai 
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

4.Thân em như tấm lụa đào 
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

5.Thân em như thể bèo trôi, 
Sóng dập gió dồi, biết ghé vào đâu? 

6.Thân em như tấm lụa điều 
Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương

7.Thân em như thể hoa lài, 
Hỡi người quân tử thương ai mà gầy.

8. Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

9. Núi cao chi lắm núi ơi,

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương.

10. Núi cao bởi có đất bồi, 

Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu ?

18 tháng 9 2016

cho mik sửa lại 1 chút, câu 1: phân tích tác dụng của phép đảo ngữ và việc sử dụng từ láy tượng hình trong 2 câu thơ thực của 2 câu thơ Qua Đèo Ngang.

30 tháng 11 2021

Tham khảo :

1. Anh em như thể tay chân 
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần 

2.Đường vô xứ Huế quanh quanh 
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

3.Thân em như củ ấu gai 
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

4.Thân em như tấm lụa đào 
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

5.Thân em như thể bèo trôi, 
Sóng dập gió dồi, biết ghé vào đâu? 

6.Thân em như tấm lụa điều 
Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương

7.Thân em như thể hoa lài, 
Hỡi người quân tử thương ai mà gầy.

30 tháng 11 2021

trả lời có 2 từ mà 5 tick ảo thật

 

26 tháng 11 2021

1. Chết no hơn sống thèm. 
2. Ăn chân sau, cho nhau chân trước. 
3. Bán rẻ về tắt, bán mắc về trưa. 
4. Cá lớn nuốt cá bé. 
5. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối

6. Số cô chẳng giàu thì nghèo,
 Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà
7. Kẻ ngược người xuôi. 
8. Trẻ chẳng tha, già chẳng thương. 
9. Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt bùi. 
10. Đói đến chết ba ngày tết cũng no.

26 tháng 11 2021

1 . Chết vinh còn hơn sống nhục

2 . Một nắng hai sương

HT