K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

4 tháng 5
1. Điểm nhìn của truyện ngắn
  • Điểm nhìn: Điểm nhìn của người anh (nhân vật "tôi").
  • Tác dụng: Việc chọn điểm nhìn từ người anh giúp miêu tả chân thực những biến chuyển tâm lý phức tạp (từ sự coi thường, đố kỵ đến hối lỗi) và làm cho câu chuyện trở nên khách quan, giàu sức thuyết phục hơn.

Chị gửi is a good thing you know

4 tháng 5
2. Ngôi kể và dấu hiệu nhận biết
  • Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất.
  • Dấu hiệu nhận biết:
    • Người kể chuyện tự xưng là "tôi" (người anh).
    • Người kể trực tiếp tham gia vào câu chuyện và kể lại những gì mình chứng kiến, cảm nhận.
    • Các từ ngữ xưng hô như: "tôi", "em gái tôi", "gia đình tôi".
Ghi chú: Việc sử dụng ngôi kể thứ nhất kết hợp với điểm nhìn của người anh là yếu tố then chốt giúp bộc lộ chiều sâu tư tưởng của tác phẩm: sự thức tỉnh trước tâm hồn trong sáng của người khác.
4 tháng 5

\(→\) Điểm nhìn của truyện ngắn "Bức tranh của em gái tôi" là:

- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (nhân vật người anh xưng "tôi").

- Vị trí: Điểm nhìn đặt vào tâm trạng của người anh để quan sát cô em gái và các sự việc diễn ra.

 Tác dụng:

- Chân thực: Giúp bộc lộ những góc khuất tâm lý như lòng đố kỵ, sự mặc cảm một cách tự nhiên.

- Thuyết phục: Làm cho sự hối hận và thức tỉnh ở cuối truyện trở nên sâu sắc, lay động hơn khi nhân vật tự soi lòng mình.

4 tháng 5
Câu hỏi yêu cầu xác định điểm nhìn trong truyện ngắn "Quê hương". Vì đây là một câu hỏi về tác phẩm văn học cụ thể, bạn cần cung cấp thêm thông tin về tác giả hoặc nội dung chính của truyện ngắn này. Thông thường, điểm nhìn trong tác phẩm văn học có thể được xác định dựa trên các yếu tố sau:
  • Điểm nhìn ngôi thứ nhất: Người kể chuyện xưng "tôi" hoặc "chúng tôi", trực tiếp kể lại những gì mình chứng kiến hoặc trải qua.
  • Điểm nhìn ngôi thứ ba: Người kể chuyện giấu mình, gọi tên các nhân vật, có thể biết hết tất cả suy nghĩ và hành động của các nhân vật.
  • Điểm nhìn hạn tri: Điểm nhìn chỉ tập trung vào một nhân vật nhất định, người đọc chỉ biết những gì nhân vật đó biết. [1, 2, 3]
  • Điểm nhìn ngôi thứ nhất: Câu chuyện được kể qua lời của nhân vật "tôi" (người cháu), tạo sự gần gũi, chân thực và trực tiếp thể hiện cảm xúc, suy nghĩ nội tâm của nhân vật khi về thăm quê.
  • Điểm nhìn từ trải nghiệm cá nhân: Câu chuyện thể hiện tình cảm quê hương sâu sắc thông qua những kỷ niệm, ký ức gắn liền với người bà và cảnh vật làng quê của nhân vật "tôi".
  • Điểm nhìn biến đổi theo thời gian: Điểm nhìn có thể chuyển dịch từ những hồi ức quá khứ (những mùa hè về quê thăm bà) đến hiện tại (sự thay đổi của quê hương ngày nay).
6 tháng 2

Câu 1:

Bài thơ "Những giọt lệ" là một tiếng kêu thương xé lòng, kết tinh từ nỗi đau tột cùng và tài năng trác tuyệt của Hàn Mặc Tử. Ngay từ những vần thơ đầu, thi nhân đã khắc họa một thế giới đầy bi kịch qua hàng loạt hình ảnh siêu thực ám ảnh như "mặt nhựt tan thành máu", "khối lòng cứng tợ si". Đó là sự phóng chiếu nỗi đau thể xác và tinh thần ra cả vũ trụ, biến nguồn sống (mặt trời) thành sự hủy diệt. Bi kịch ấy bắt nguồn từ sự chia biệt trong tình yêu, khiến tâm hồn người thi sĩ vỡ vụn, hụt hẫng đến mức "dại khờ". Đặc biệt, ở khổ thơ cuối, nỗi đau không chỉ dừng lại ở sự tuyệt vọng mà đã thăng hoa kỳ diệu. Hình ảnh "bông phượng nở trong màu huyết" nhỏ xuống thành "giọt châu" là một biểu tượng nghệ thuật đắt giá: nỗi đau thương của xác thịt đã ngưng tụ lại thành những viên ngọc thơ ca lấp lánh. Bằng việc sử dụng dồn dập các câu hỏi tu từ và ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, Hàn Mặc Tử đã dẫn người đọc đi từ trạng thái hoang mang, lạc lõng đến sự rung cảm mãnh liệt trước một hồn thơ "điên" nhưng đầy tài hoa, biết chắt chiu cái đẹp vĩnh cửu ngay trên vực thẳm của số phận.

Sự thật gây sốc về tái chế rác thải nhựaTrung tâm Liêm chính khí hậu mới đây công bố báo cáo tiết lộ sự thật gây sốc về tái chế nhựa, loại vật liệu được sản xuất chủ yếu từ dầu và khí đốt, trong bối cảnh số lượng nhựa dự kiến sẽ tăng gấp ba lần trên toàn cầu vào năm 2060.Hơn 99% nhựa được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch và phần lớn chúng không thể "tái chế"...
Đọc tiếp

Sự thật gây sốc về tái chế rác thải nhựa

Trung tâm Liêm chính khí hậu mới đây công bố báo cáo tiết lộ sự thật gây sốc về tái chế nhựa, loại vật liệu được sản xuất chủ yếu từ dầu và khí đốt, trong bối cảnh số lượng nhựa dự kiến sẽ tăng gấp ba lần trên toàn cầu vào năm 2060.

Hơn 99% nhựa được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch và phần lớn chúng không thể "tái chế" - Ảnh: AFP/Getty Images

Rác thải nhựa hiện là nguồn gây ô nhiễm carbon nghiêm trọng, thúc đẩy quá trình biến đổi khí hậu của Trái đất. Ngoài ra, phần lớn rác thải nhựa trôi ra đại dương và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các sinh vật biển.

Phần lớn không thể tái chế

Theo báo cáo của Trung tâm Liêm chính khí hậu (CCI) thuộc Viện Quản trị và Phát triển bền vững Mỹ, hơn 99% nhựa được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch và phần lớn chúng không thể "tái chế" theo nghĩa được xử lý và biến thành sản phẩm hoàn toàn mới.

Thông tin này được lưu trong tài liệu của Cơ quan Bảo vệ môi trường của Mỹ trong ít nhất 30 năm qua.

Báo The Hill cho biết mặc dù một số địa phương và thành phố tại Mỹ đã triển khai không ít chương trình thu thập các loại nhựa nhưng chúng cũng không thể tái chế toàn bộ số rác thải nhựa mà con người thải ra. Thay vào đó, những loại nhựa không thể tái chế sẽ được đốt hoặc được đưa vào những bãi chôn lấp.

Theo tạp chí khoa học Scientific American, phần lớn loại nhựa được con người sử dụng rộng rãi nhất vẫn đang tồn tại đâu đó trong các bãi chôn lấp rác hoặc trong môi trường trong suốt nhiều thập niên hoặc thậm chí là nhiều thế kỷ sau khi bị vứt đi.

Về mặt lý thuyết, nhiều loại nhựa thông dụng trong đời sống hằng ngày có thể tái chế được. Nhưng chỉ có khoảng 1/10 số nhựa sản xuất từng được tái chế một lần và chỉ 1% số nhựa được tái chế hai lần.

Hơn nữa, chi phí của quy trình tái sản xuất các sản phẩm từ rác thải nhựa còn cao hơn chi phí của quy trình sản xuất các sản phẩm nhựa hoàn toàn mới.

"Tạo ra một sản phẩm nhựa mới sẽ rẻ hơn so với việc thu thập và tái chế hoặc tái sử dụng lại nhựa cũ. Đây là một vấn đề mang tính hệ thống" - ông Kristian Syberg, nhà nghiên cứu về ô nhiễm nhựa tại Đại học Roskilde (Đan Mạch), phân tích.Ngoài vấn đề chi phí, chị Magdalena Klotz, nghiên cứu sinh ngành thiết kế hệ thống sinh thái tại Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ (ETH) ở Zurich (Thụy Sĩ), cho biết các nhà sản xuất không thể tạo ra nhiều sản phẩm bằng nhựa tái chế nên thị trường dành cho loại nhựa này bị hạn chế.

Chị Klotz và các cộng tác viên của chị chỉ ra rằng 80% số nhựa ở Thụy Sĩ được gom để tái chế thì chỉ nhiều nhất 20% trong số đó sẽ trở thành các sản phẩm nhựa tái chế.

Phải hành động trên nhiều mặt trận

Hầu hết các bao bì nhựa hiện nay được sản xuất từ bảy loại nhựa có thành phần không tương thích với nhau và rất tốn kém để phân loại chúng và tiến hành tái chế.

"Với nhựa, vấn đề là có rất nhiều loại nhựa khác nhau" - ông Ed Cook, người nghiên cứu về rác thải nhựa như một phần của nền kinh tế tuần hoàn tại Đại học Leeds (Anh), nói.

Ở các nước có thu nhập cao, việc phân loại các loại rác thải nhựa thường được diễn ra với sự trợ giúp của các loại máy móc công nghệ cao tại các cơ sở tái chế quy mô lớn.

Các cơ sở này thường chọn các loại nhựa phổ biến nhất, đặc biệt là polyethylene terephthalate (PET, loại nhựa được thường sử dụng trong các vỏ chai nước), polyethylene mật độ cao (HDPE, vật liệu thường được tìm thấy trong các chai đựng sữa và dầu gội đầu), đôi khi là polyethylene mật độ thấp (LDPE) và polypropylen.

"Tái chế không phải là vấn đề, vấn đề chính là nhựa" - Lisa Ramsden, nhà vận động cấp cao của Tổ chức Greenpeace (Mỹ), phân tích. Bà nói thêm rằng việc tái chế nhựa là không kinh tế, bởi nhựa nguyên chất thậm chí còn rẻ hơn nhựa tái chế.

Tạp chí Scientific American nhận định để thay đổi bức tranh về những hậu quả của nhựa đòi hỏi con người phải hành động trên nhiều mặt trận. Cụ thể, con người cần mở rộng quy mô các công nghệ tái chế hiện có, triển khai các công nghệ này trên phạm vi toàn thế giới, phát triển các công nghệ mới để xử lý những loại nhựa khó tái chế, tận dụng những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên để hỗ trợ từ quá trình sản xuất đến quá trình xử lý nhựa, cũng như cải tiến quy trình sản xuất nhựa dùng một lần.

Trong khi đó, Liên minh châu Âu đã thực hiện một số bước nhằm giảm thiểu rác thải nhựa bằng cách cấm 10 sản phẩm nhựa sử dụng một lần gây hại đến các bãi biển ở châu Âu và đi ngược lại mô hình kinh tế tuần hoàn.

Những nước nghèo lại tái chế nhựa nhiều hơn

Theo tạp chí Scientific American, chất thải nhựa tràn lan ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, những nơi hiếm có các chương trình tái chế rác thải nhựa chính thức.

Tuy nhiên, tái chế nhựa lại vô tình trở thành một phần của nền kinh tế phi chính thức tại những quốc gia nghèo. Những người nhặt rác sàng lọc qua các bãi chôn lấp rác, các thùng rác và thu gom các loại rác thải nhựa từ môi trường."Những người nhặt rác đứng đằng sau công cuộc tái chế nhựa nhiều hơn so với ngành công nghiệp chính thức trên toàn cầu" - nhóm các nhà nghiên cứu Velis và Cook cho biết.


âu 1: nội dung chính của văn bản là gì?
câu 2: theo văn bản, rác thải nhựa đã gây ra tác hại gì đố với môi trường
câu 3: những số liệu trong "Về mặt lý thuyết, nhiều loại nhựa thông dụng trong đời sống hằng ngày có thể tái chế được. Nhưng chỉ có khoảng 1/10 số nhựa sản xuất từng được tái chế một lần và chỉ 1% số nhựa được tái chế hai lần" cho ta thấy được điều gì từ tái chế rác thải
câu 4 nhận xét nhan đề
8
13 tháng 11 2025

Câu 1 (2 điểm):

Ước mơ là điều đẹp đẽ và cần có trong cuộc sống mỗi người. Hành trình theo đuổi ước mơ không bao giờ dễ dàng, vì luôn có thử thách và thất bại. Nhưng chính khó khăn lại giúp ta rèn luyện nghị lực, bản lĩnh và niềm tin. Giống như ngọn cỏ trong bài thơ của Lam – dù bị sâu ăn vẫn xanh rì – con người cũng cần kiên cường, không bỏ cuộc. Theo đuổi ước mơ là hành trình giúp ta trưởng thành, hiểu giá trị của nỗ lực và tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.


Câu 2 (4 điểm):

Bài thơ của Lam nói về sức sống kiên cường và ý nghĩa của niềm tin. Ngọn cỏ dù bị sâu ăn vẫn cố xanh rì, vì nó biết mình sống để làm gì. Hình ảnh ấy tượng trưng cho con người trong cuộc sống: dù tổn thương vẫn không buông bỏ. Tác giả dùng ngôn từ giản dị, giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu sắc, thể hiện triết lý sống tích cực: hãy mạnh mẽ vượt qua khó khăn để tiếp tục vươn lên và tỏa sáng giữa đời.

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều có những ước mơ, nhưng ước mơ sẽ mãi chỉ là "mộng tưởng" nếu không có một "hành trình" dũng cảm để biến nó thành hiện thực. Như tác giả Mộng Tuyết trong văn bản "Chơi Phú Quốc", bà đã biến "cảnh bấy lâu trong mộng tưởng" thành hiện thực bằng một chuyến đi, một hành trình thực thụ. Điều đó cho thấy, theo đuổi ước mơ không phải là việc ngồi chờ đợi, mà là hành động dấn thân, lên đường. Hành trình ấy có thể đòi hỏi 6 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển, hoặc thậm chí là 10 năm miệt mài học tập. Sẽ có những "sóng to gió lớn" hay những "khó khăn nguy hiểm" như cách đi thuyền buồm ngày xưa. Nhưng nếu ta dám vượt qua, dám hít thở "cái không khí thanh tân" của sự thử thách, phần thưởng ta nhận được sẽ vô cùng ngọt ngào. Đó là cảm giác "sung sướng, mạnh mẽ" khi chạm đến đích, là sự trưởng thành và những trải nghiệm "thanh kì" mà không gì thay thế được. Vì vậy, đừng chỉ mơ, hãy bắt đầu hành trình.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Còn thời cưỡi ngựa bắn cungCó hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.INDIRA GANDHI      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa:...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung

Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.

INDIRA GANDHI

      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa: “Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”. Nhưng cô bé cương quyết: “Con không muốn là nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may.”. Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu: “Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.". 

      Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?

      Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ “nổi tiếng”. Có lẽ Byron nói đúng: “Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ”. Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta lạc đường không? Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi.

      Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, hãy trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó.

      Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu nằm bên khu chợ nhỏ xíu ở một thị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai? Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn buộc phải làm.

      Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha anh ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần với xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch, tốt cho sức khỏe và chất lượng hảo hạng.

      Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với mơ ước ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

      Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học để có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

      Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính.

      Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

      Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, nó giống như một tai nạn xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp. Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người cho rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mại không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống “tầm thường”, họ chẳng tiếc nuối chi.

      Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi nghe hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé:

“Còn thời cưỡi ngựa bắn cung,

Hết thời cúi xuống lượm (dây) thun… bắn ruồi.”

       Âu cũng là lẽ thường tình vậy.

      Oprah Winfrey có nói: “Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai”. Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Chỉ có người ngốc nghếch mới tin rằng mình có thể giương cung được mãi.

      Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ông chỉ tập trung vào cái mình đang thực hiện và “một khi tôi đã quyết chuyện gì thì tôi theo đuổi cho tới cùng”. Ông học làm gốm cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.

      Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) đều làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi là một thợ gốm học việc, ông vẫn tận tâm như vậy.

      Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích. Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân)

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra minh chứng trong văn bản thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho những ước mơ, nghề nghiệp trong cuộc sống. 

Câu 3. Chi tiết về Hosokawa Morihiro có ý nghĩa như thế nào trong văn bản?

Câu 4. Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Em rút ra được những thông điệp nào từ văn bản? 

8
13 tháng 11 2025

Câu 1.

Kiểu loại của văn bản:
→ Văn bản “Còn thời cưỡi ngựa bắn cung” thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội), bàn về thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, danh tiếng và hạnh phúc trong cuộc sống.


Câu 2.

Minh chứng thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho ước mơ – nghề nghiệp:

“Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”
“Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.”

→ Những lời nói này cho thấy định kiến xã hội: coi thường nghề bình thường (như thợ may), chỉ đề cao nghề danh giá, nổi tiếng.


Câu 3.

Ý nghĩa của chi tiết về Hosokawa Morihiro:
Câu chuyện về Hosokawa Morihiro – người từng là Thủ tướng Nhật Bản rồi trở thành nghệ nhân gốm chuyên tâm và hạnh phúc – thể hiện thông điệp rằng:
→ Dù ở vị trí nào, làm nghề gì, nếu con người chuyên tâm, yêu nghề và sống đúng với mình, thì đều đáng trân trọng.
→ Đồng thời, chi tiết này minh chứng cho luận điểm của tác giả: hạnh phúc không đến từ danh vọng mà đến từ sự tận tâm với công việc mình yêu thích.


Câu 4.

Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả:

  • Cách dẫn dắt tự nhiên, gần gũi: Bắt đầu từ một câu chuyện đời thường (ước mơ làm thợ may của cô bé) rồi mở rộng dần đến vấn đề xã hội.
  • Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Tác giả sử dụng nhiều dẫn chứng thực tế, tiêu biểu (người bạn làm nông dân, Hosokawa Morihiro, Oprah Winfrey...) để minh họa cho quan điểm.
  • Giọng văn nhẹ nhàng, triết lý, giàu cảm xúc giúp người đọc suy ngẫm sâu về giá trị của lao động và hạnh phúc thật sự.

Câu 5.

Những thông điệp rút ra từ văn bản:

  • Không có ước mơ hay nghề nghiệp nào là tầm thường, chỉ có cách ta làm việc mới quyết định giá trị của nó.
  • Danh tiếng không phải mục tiêu cao nhất; điều quan trọng là được làm công việc mình yêu thích với sự chuyên tâm và tự hào.
  • Mọi người đều có vai trò riêng trong xã hội, hãy trân trọng, không phân biệt nghề nghiệp.
  • Hạnh phúc và thành công thật sự đến từ sự tận tâm và bình thản trong lao động.
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Văn bản "Còn thời cưỡi ngựa bắn cung" thuộc kiểu loại văn bản nghị luận, bàn về quan niệm sống, về giá trị của ước mơ, nghề nghiệp và danh vọng.

13 tháng 11 2025

Câu 1.

Qua đoạn trích, nhân vật Vũ Như Tô hiện lên là một nghệ sĩ thiên tài mang bi kịch sâu sắc. Trước hết, ông là người có khí phách phi thường. Dù thân mang gông xiềng, đối diện "uy quyền" tuyệt đối của vua Lê Tương Dực, ông vẫn không hề sợ hãi ("tiện nhân không sợ chết"), dám đối đáp sòng phẳng, thậm chí chỉ trích cả nhà vua ("Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?"). Song song đó là sự tự tin tột độ, kiêu hãnh về tài năng mà ông có được sau 20 năm khổ luyện: "phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi", "phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân". Tuy nhiên, Vũ Như Tô không chỉ kiêu ngạo, ông còn có lý tưởng cao đẹp khi mượn cơ hội này để đòi vua phải "trọng đãi công ngang sĩ", "xin cho lũ hậu tiến", nâng cao vị thế người thợ. Bi kịch của ông cũng nảy sinh từ đây: vì quá khát khao sáng tạo một công trình vĩ đại "cùng với vũ trụ trường tồn" ("vì tiện nhân thì nhiều"), ông đã chấp nhận "cúc cung tận tụy" cho bạo chúa, thậm chí đòi quyền "chém bêu đầu". Đây chính là mâu thuẫn bi kịch giữa người nghệ sĩ tài hoa, có lý tưởng và một con người kiêu ngạo, xa rời thực tế, đặt nghệ thuật lên trên cả sinh mạng con người.

13 tháng 11 2025

Trong guồng quay hối hả của xã hội hiện đại, khi tri thức nhân loại được cập nhật mỗi ngày và sự cạnh tranh ngày một gay gắt, con người không thể giữ mãi một vị trí nếu không tự mình vận động. Giữa hàng tỷ người trên thế giới, để không bị bỏ lại phía sau, để tạo nên dấu ấn riêng và có một cuộc sống ý nghĩa, việc không ngừng "nâng cao giá trị bản thân" trở thành một hành trình tất yếu và vô cùng quan trọng.


Vậy, "giá trị bản thân" là gì? Đó không đơn thuần là địa vị xã hội hay sự giàu có về vật chất. Giá trị bản thân là tổ hợp của nhiều yếu tố: là tri thức, kỹ năng, là phẩm chất đạo đức, là sức khỏe thể chất và tinh thần, và là khả năng cống hiến những điều tốt đẹp cho cộng đồng. "Nâng cao giá trị bản thân" chính là quá trình rèn luyện, học hỏi không ngừng nghỉ để làm giàu thêm những yếu tố đó, để phiên bản của chúng ta ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua.


Ý nghĩa của việc này trước hết là đối với chính mỗi cá nhân. Khi ta đầu tư vào tri thức, ta có được "vũ khí" sắc bén nhất để bước vào đời. Khi ta rèn luyện kỹ năng, ta có trong tay công cụ để biến ý tưởng thành hiện thực, giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả. Một người có giá trị cao, có chuyên môn giỏi, có kỹ năng giao tiếp tốt và thái độ cầu thị, sẽ luôn là người mà mọi tổ chức, mọi tập thể mong muốn có được. Điều này mở ra cho chúng ta vô vàn cơ hội trong công việc và cuộc sống. Quan trọng hơn, quá trình tự nâng cấp bản thân mang lại cho ta sự tự tin, lòng tự trọng và sự độc lập. Ta không còn phải sống dựa dẫm hay chờ đợi sự ban phát cơ hội từ người khác, mà tự mình tạo ra cơ hội và làm chủ cuộc đời mình.


Không chỉ vậy, việc nâng cao giá trị bản thân còn mang ý nghĩa tích cực đối với xã hội. Một xã hội được tạo nên từ nhiều cá nhân. Khi mỗi cá nhân đều ý thức tự hoàn thiện, họ sẽ tạo nên một cộng đồng vững mạnh, một quốc gia phát triển. Một người bác sĩ không ngừng học hỏi kỹ thuật mới sẽ cứu được nhiều bệnh nhân hơn. Một người giáo viên liên tục đổi mới phương pháp sẽ truyền cảm hứng cho nhiều học trò hơn. Một người công nhân rèn luyện tay nghề sẽ tạo ra những sản phẩm chất lượng hơn. Chính sự nỗ lực của từng "viên gạch" nhỏ bé đã góp phần xây nên "tòa tháp" văn minh chung của nhân loại. Hơn nữa, những người có giá trị cao thường trở thành nguồn cảm hứng, lan tỏa năng lượng tích cực, thúc đẩy những người xung quanh cùng nhau phấn đấu.


Tuy nhiên, cần hiểu rằng nâng cao giá trị bản thân không phải là một cuộc chạy đua so bì, ganh ghét với người khác. Đó là một hành trình tự thân, so sánh với chính mình của ngày hôm qua. Đó cũng không phải là việc chỉ tập trung vào kiếm tiền hay danh vọng, mà bỏ quên việc bồi đắp tâm hồn, lòng nhân ái. Một người có giá trị thực sự là người cân bằng được giữa năng lực chuyên môn và phẩm hạnh đạo đức.


Việc nâng cao giá trị bản thân là một hành trình đầu tư không bao giờ lỗ vốn. Đó là con đường duy nhất để mỗi người khẳng định vị thế của mình, sống một cuộc đời ý nghĩa, tự do và hạnh phúc. Như viên kim cương chỉ trở nên lấp lánh sau hàng ngàn nhát mài giũa, con người cũng chỉ thực sự tỏa sáng khi không ngừng rèn luyện và tự hoàn thiện mình mỗi ngày.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:Lớp IXLÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Lớp IX

LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.

LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều đình một tội ác.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm sai cắt lưỡi mi đi bây giờ!

VŨ NHƯ TÔ - Lời thẳng thì hay trái tai. Xin Hoàng thượng cho phép tiện nhân được nói. Tiện nhân có bị cực hình cũng không oán hận.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã khoan thứ cho mi nhiều lắm rồi.

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân có tội gì mà Hoàng thượng phải khoan thứ? Tiện nhân không trộm cướp, không tham nhũng, không giết người, tiện nhân chỉ biết phụng dưỡng mẹ già, nuôi vợ, nuôi con. Đang yên ổn, bỗng dưng tiện nhân bị bắt, bị đóng gông tra xiềng rồi bị giải đi, ăn không được ăn, uống không được uống, nghỉ ở đâu cũng bị đem giam vào lao như những quân trọng phạm. Hỏi tiện nhân có tội gì?

LÊ TƯƠNG DỰC - Vua cần đến thì thần dân phải xả thân làm việc kỳ đến chết thì thôi.

VŨ NHƯ TÔ - Nhưng xử đãi thế thì ai muốn trau dồi nghề nghiệp? Kính sĩ mới đắc sĩ...

LÊ TƯƠNG DỰC - Kính sĩ đắc sĩ, mi là sĩ đấy ư: Mi dám tự phụ là sĩ thảo nào mi không sợ chết.

VŨ NHƯ TÔ - Sĩ mà không có chân tài thì tiện nhân không bàn. Anh em tiện nhân còn có những nguyện vọng sâu xa hơn đối với nước. Hoàng thượng quá nhầm về chữ sĩ. Một ông quan trị dân, với một người thợ giỏi, xây những lâu đài tráng quan, điểm xuyết cho đất nước, tiện nhân chưa biết người nào mới đáng gọi là sĩ.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm rộng lượng nên mi mới được ăn nói rông càn. Chẳng qua là trẫm mến tài, người khác thì đã mất đầu.

VŨ NHƯ TÔ - Thân này tiện nhân đã cầm chắc là không được toàn. Nhưng trước khi chết tiện nhân cũng cố hết sức biện bạch mong Hoàng thượng đừng coi rẻ anh em tiện nhân, ngõ hầu con em theo gót sau này được mở mày mở mặt. Những ân huệ ấy tiện nhân không xin cho mình - tiện nhân xin chịu chết mà xin cho lũ hậu tiến. Được biệt đãi, có địa vị thì những kẻ tài hoa mới xuất hiện, tranh nhau tô điểm nước non.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là công việc của trẫm và các đại thần. Mi là một tên thợ không biết gì. Hãy nghe trẫm hỏi chuyện Cửu Trùng Đài. Một năm nay không xây được, trẫm lấy làm phiền lắm. Đài phải có trăm nóc, cao mười trượng, dài năm trăm trượng, mi có đủ tài xây được không?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân không thấy cái khó ở đâu cả. Tiện nhân tự xét, thực thừa sức xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định xây ra làm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Điều tiện nhân xin lúc nãy, Hoàng thượng hãy chuẩn y cho đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định ép ta sao? Đầu mi chỉ một lệnh truyền là không còn trên cổ.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân đã coi rẻ đầu này. Nó rơi lúc nào là xong một kiếp. Tiện nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế, Hoàng thượng đã quên rồi sao? Chỉ vì tiền đồ nước ta mà tiện nhân xin Hoàng thượng trọng đãi thợ. Hoàng thượng không được khinh rẻ họ, không được ức hiếp họ (mắt sáng lên, nét mặt quả quyết). Được thế thì tiện nhân mới chịu làm, mà xin Hoàng thượng biết cho, đài Cửu Trùng, phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi.

LÊ TƯƠNG DỰC (lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc) - Sợ mi chỉ là một kẻ đại ngôn.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám nói thế, không phải là đại ngôn, nhưng vì tiện nhân tự biết tiện nhân. Trong hai mươi năm trời, tiện nhân khổ công trau nghề, nào hỏi, nào tập, nào khảo cứu, học cả văn chương toán pháp, địa lý, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, cả những danh lam thắng tích ở Trung Quốc, ở Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát, cũng vì thế mà ngày nay hơn bốn mươi tuổi đầu, tiện nhân mới có ít nhiều sở đắc, nói ra thì Hoàng thượng nửa tin, nửa ngờ. Trong suốt một năm đi trốn, tuy bị truy nã, khổ nhục trăm đường, tiện nhân cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng Đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ.

LÊ TƯƠNG DỰC (mừng rỡ) - Đâu, cho trẫm xem.

VŨ NHƯ TÔ - Trong túi áo tiện nhân đây. Nhưng xin Hoàng thượng...

LÊ TƯƠNG DỰC - Đưa trẫm xem đã.

VŨ NHƯ TÔ - Xin Hoàng thượng trả lời tiện nhân đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi tưởng ta không lấy được của mi sao? (Đến lần túi Vũ Như Tô rút ra một bản đồ to và một quyển sổ dày.).

VŨ NHƯ TÔ (khinh bỉ) - Không ngờ Hoàng thượng!...

LÊ TƯƠNG DỰC (đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi, một lúc lâu) - Thực vừa ý trẫm. Nhiều chỗ trẫm không nghĩ tới! Cửu Trùng Đài! Trẫm có ý xây đài trên bờ Tây hồ. Đây là miếu công thần, đây là lầu vọng nguyệt. Đây là san hô sảnh, đây là điện vàng, điện ngọc, đây là đại uyển, tiểu uyển, đây là trà điện, nhạc điện... đứng trên đài cao ngất này bao quát được Long thành. (đếm) Phải, đúng 100 nóc, hiển nhiên là hình trăm rồng tranh ngọc. Tráng quan lắm, ý trẫm lại muốn khơi một dòng nước từ chính điện thông ra hồ Tây, hai bên bờ trồng kỳ hoa dị thảo, để ngày ngày trẫm cùng cung nữ bơi thuyền hoa ra hồ ngoạn thưởng, mi nghĩ sao?

VŨ NHƯ TÔ - Được!

LÊ TƯƠNG DỰC - Vậy thì mi thêm vào.

VŨ NHƯ TÔ - Không thêm bớt gì cả. Đài Cửu Trùng không xây cho...

LÊ TƯƠNG DỰC - À mi giỏi thực! Lần này trẫm không tha mi nữa, trẫm cũng không cần mi nữa, (xem quyển sổ) đủ rồi. Đủ rồi, trẫm gọi thợ khác cứ theo đây mà xây, sửa chút ít là vừa ý trẫm. Còn mi, mi chờ quân đao phủ dẫn đi.

VŨ NHƯ TÔ - Đó là quyền Hoàng thượng. Nhưng... xây Đài Cửu Trùng không dễ thế đâu. Nếu chỉ xem sách mà làm được thì chán nhà nho đã thành Khổng Tử, chán vị tướng đã thành Tôn, Ngô, chán thi nhân đã thành Lý, Đỗ. Cần phải có mắt, có tai, có tâm huyết, có tay mình vào đó. Hoàng thượng cứ giữ lấy bản đồ, cầm lấy quyển sổ, đi tìm thợ giỏi, tiện nhân không dám nói sao, nhưng tiện nhân tin rằng không một kẻ nào làm nổi. Bản đồ kia chỉ là phần xác, nhưng phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân, mà phần hồn mới là phần chính.

LÊ TƯƠNG DỰC (dịu giọng nhìn bản đồ say sưa) - Mi định không giúp trẫm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám đâu tiếc sức? Cũng mong giúp Hoàng thượng xây cho nước ta một tòa lâu đài nguy nga, cùng với vũ trụ trường tồn. Chỉ xin Hoàng thượng hai điều: thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay đổi một ly nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi công ngang sĩ. Sách Trung Dung có dạy “Lai bách công giã”. Hoàng thượng chắc còn nhớ đấy. Nước phú dân cường là nhờ ở đó. Hai điều đó không được, tiện nhân đành phí thân này.

LÊ TƯƠNG DỰC (trầm ngâm) - Sao mi cứ băn khoăn?...

VŨ NHƯ TÔ - Không băn khoăn sao được? Khi anh em tiện nhân, chỉ vì có chút tài năng, mà phải cực nhục như quân có tội, thì kẻ này không thể nào ăn ngon ngủ yên được. Chính tiện nhân đây, cổ đeo gông, tay mang xiềng xích, nhục quá trâu ngựa, Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?

LÊ TƯƠNG DỰC - Được, hai điều mi xin, trẫm cho cả. Trẫm chịu mi vậy. Nhưng mi phải đem hết sức ra xây Cửu Trùng Đài cho trẫm.

VŨ NHƯ TÔ - Được, Hoàng thượng cho hai điều ấy, tiện nhân dám đâu không hết sức. Huống chi xây Cửu Trùng Đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều. Đã làm xin cúc cung tận tụy. Hoàng thượng tuyển cho năm vạn thợ và phải giao cho tiện nhân toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu. Có thế thì đài mới xong được.

LÊ TƯƠNG DỰC - Bao giờ xong?

VŨ NHƯ TÔ - Độ năm năm. Hoàng thượng liệu có thể theo cho đến buổi hoàn thành không?

LÊ TƯƠNG DỰC - Sao lại không? Ngay bây giờ, trẫm sai ban hành đạo chiếu. Và ngày mai bắt đầu làm việc.

VŨ NHƯ TÔ - Xin phụng mệnh. Nhưng gông và xiềng xích này Hoàng thượng còn bắt tiện nhân đeo đến bao giờ?

LÊ TƯƠNG DỰC (ngần ngại) - Tháo cho mi, nhưng mi đừng phụ lòng trẫm.

VŨ NHƯ TÔ (nói to) - Hoàng thượng coi tiện nhân là người thế nào? Đại trượng phu một nhời đã hứa, dẫu nhảy vào đống lửa cũng không từ.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy. 

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản trên.

12
13 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

👉 Sự việc:
Đoạn trích kể về cuộc đối thoại căng thẳng giữa vua Lê Tương Dực và Vũ Như Tô.
Trong đó, Lê Tương Dực ép Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài – một công trình xa hoa để vua hưởng lạc. Ban đầu, Vũ Như Tô từ chối, nhưng sau khi đưa ra điều kiện được trọng đãi thợ tài và được toàn quyền thi công, ông chấp thuận thực hiện việc xây đài.

➡️ Đây là sự kiện mở đầu cho bi kịch về mâu thuẫn giữa nghệ thuật – lý tưởng và hiện thực xã hội tàn bạo.


Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

👉 Vũ Như Tô yêu cầu vua hai điều:

  1. Đài Cửu Trùng phải được xây đúng theo bản thiết kế của ông, không thay đổi dù chỉ một chi tiết.
  2. Vua và triều đình phải trọng đãi, tôn vinh những người thợ tài giỏi – “trọng đãi công ngang sĩ”, không được ức hiếp, khinh rẻ họ.

➡️ Hai yêu cầu thể hiện tấm lòng trân trọng người lao động có tài, khát vọng nâng cao địa vị và danh dự của người làm nghề thủ công trong xã hội phong kiến.


Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của chúng.

👉 Các chỉ dẫn sân khấu (in trong ngoặc đơn):
Ví dụ:

  • “(cười gằn)”, “(lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc)”, “(mắt sáng lên, nét mặt quả quyết)”,
  • “(mừng rỡ)”, “(đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi)”,
  • “(dịu giọng nhìn bản đồ say sưa)”, “(trầm ngâm)”, “(ngần ngại)”, “(nói to)”...

👉 Tác dụng:

  • Giúp người đọc và diễn viên hình dung rõ nét hành động, cử chỉ, thái độ, tâm lý nhân vật.
  • Làm cho lời thoại sinh động, chân thực, giúp khắc họa rõ tính cách và mối quan hệ căng thẳng giữa hai nhân vật.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

👉 Xung đột:

  • Giữa Vũ Như Tô (người nghệ sĩ tài hoa, chân chính)
    vua Lê Tương Dực (vị hôn quân xa hoa, tàn bạo).

👉 Xung đột về:

  • Quan niệm và mục đích xây dựng Cửu Trùng Đài:
    • Vũ Như Tô muốn xây một công trình nghệ thuật vĩ đại vì nước vì dân.
    • Còn Lê Tương Dực chỉ muốn xây đài nguy nga để hưởng lạc, thỏa mãn dục vọng cá nhân.

➡️ Đây là xung đột giữa lý tưởng nghệ thuật và hiện thực quyền lực, giữa người nghệ sĩ chân chínhkẻ thống trị tàn ác.


Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản.

👉 Nhận xét:

  • Lời nói của Vũ Như Tô thẳng thắn, cương trực, mạnh mẽ và đầy tự tin.
  • Ông thể hiện tư thế hiên ngang, không sợ quyền uy, dám nói lên lẽ phảibảo vệ phẩm giá của người lao động tài hoa.
  • Trong đối thoại, Vũ Như Tô vừa tự hào về tài năng, vừa chân thành với lý tưởng nghệ thuật cao cả — muốn xây dựng cho đất nước một công trình trường tồn với thời gian.

➡️ Qua lời nói, ta thấy Vũ Như Tô là người nghệ sĩ tài năng, có nhân cách lớn, dám sống và chết vì lý tưởng nghệ thuật.

13 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Sự việc trong văn bản là cuộc đối thoại căng thẳng và trực diện giữa kiến trúc sư thiên tài Vũ Như Tô và vua Lê Tương Dực. Dù đang là một tù nhân bị gông xiềng, Vũ Như Tô không những không sợ hãi mà còn thẳng thắn đưa ra các yêu sách, đòi hỏi vua phải tôn trọng người thợ, trọng đãi người tài, coi đó là điều kiện tiên quyết để ông nhận lời xây Cửu Trùng Đài.

Câu 1. (2 điểm)     Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay.Câu 2. (4 điểm)     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:       Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.      Đàn...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

     Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

Câu 2. (4 điểm)

     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:

       Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,

Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.

      Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,

Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?

      Đàn kêu: Ai chém xà vương,

Đem nàng công chúa triều đường về đây?

      Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày

Có sao phụ nghĩa lại rày vong ân?

      Đàn kêu: Sao ở bất nhân,

Biết ăn quả lại quên ân người giồng?

      Đàn kêu năn nỉ trong lòng,

Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.

       […] Đàn kêu thấu đến cung phi,

Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.

(Trích theo Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 2000, tr.1989 - 1993)

Chú thích: 

(1) Thạch Sanh: Truyện thơ Nôm, ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, dựa trên truyện cổ tích thần kì Thạch Sanh.

9
13 tháng 11 2025
Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay. Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc giao lưu và tiếp biến văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng và mang lại nhiều lợi ích to lớn. Giao lưu văn hóa giúp các quốc gia, dân tộc học hỏi, tiếp thu những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến từ bên ngoài, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng hơn. Quá trình tiếp biến văn hóa một cách chọn lọc không làm mất đi bản sắc dân tộc mà ngược lại, giúp làm giàu thêm, làm mới mẻ thêm văn hóa truyền thống, khiến nó trở nên năng động, phù hợp hơn với thời đại. Chẳng hạn, ẩm thực Việt Nam được bổ sung thêm nhiều món ăn từ các nước, hay áo dài truyền thống được biến tấu với nhiều kiểu dáng hiện đại, vẫn giữ được nét duyên dáng mà lại tiện dụng hơn. Hơn nữa, giao lưu văn hóa còn là cầu nối gắn kết con người, xóa bỏ rào cản, định kiến, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng và đa sắc màu. Điều cốt yếu là chúng ta cần có thái độ cởi mở nhưng cũng cần tỉnh táo, chọn lọc để tiếp nhận những giá trị tích cực, đồng thời kiên định gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình. Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh. Truyện thơ Nôm Thạch Sanh là một tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu, được xây dựng dựa trên cốt truyện cổ tích cùng tên, mang đậm giá trị nhân đạo và tinh thần đấu tranh chống lại cái ác của nhân dân ta. Trích đoạn trên tập trung miêu tả sức mạnh kỳ diệu của cây đàn thần, một chi tiết nghệ thuật đắt giá, có vai trò vạch trần tội ác, giải oan cho người thiện, và thể hiện sâu sắc quan niệm đạo đức truyền thống "ở hiền gặp lành". Về nội dung, trích đoạn đã làm nổi bật chức năng "minh oan" và "vạch tội" của cây đàn thần. Tiếng đàn không chỉ là một nhạc cụ, mà là tiếng nói của công lí, của lẽ phải. Khi cất lên giữa chốn triều đình, tiếng đàn lập tức hướng thẳng vào đối tượng Lý Thông, bằng một giọng điệu đanh thép, chất vấn, đầy sức mạnh tố cáo: Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,
Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?
Đàn kêu: Ai chém xà vương,
Đem nàng công chúa triều đường về đây?
Điệp khúc "Đàn kêu: Ai chém..." lặp đi lặp lại như một bản án luận tội. Tiếng đàn liệt kê rành rọt từng công trạng của Thạch Sanh mà Lý Thông đã cướp công. Hắn không chỉ là kẻ lừa đảo, chiếm đoạt công lao mà còn là kẻ "phụ nghĩa", "vong ân", "bất nhân", "quên ơn người giồng". Những từ ngữ mạnh mẽ này thể hiện thái độ căm phẫn tột độ của nhân dân đối với thói đời bạc bẽo, vong ơn bội nghĩa. Tiếng đàn đã lật tẩy bộ mặt thật của Lý Thông trước bàn dân thiên hạ, đòi lại công bằng cho Thạch Sanh. Bên cạnh đó, tiếng đàn còn là lời trách móc nhẹ nhàng, nỉ non đối với công chúa: Đàn kêu năn nỉ trong lòng,
Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.
...Đàn kêu thấu đến cung phi,
Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.
Đây là cung bậc cảm xúc khác biệt, từ đanh thép chuyển sang thâm tình. Tiếng đàn gợi nhắc lại lời thề ước dưới hang sâu, trách công chúa đã vội vàng phụ bạc. Qua đó, ta thấy được tâm trạng vừa đau đớn, vừa thiết tha của Thạch Sanh, và cũng là sự đề cao tình nghĩa thủy chung trong quan niệm đạo đức dân gian. Về nghệ thuật, thành công của trích đoạn nằm ở việc sử dụng thể thơ lục bát biến thể (hoặc thơ Nôm năm chữ), nhịp điệu linh hoạt, phù hợp với từng cung bậc cảm xúc. Biện pháp nghệ thuật nhân hóa "Đàn kêu" được sử dụng xuyên suốt, biến cây đàn vô tri thành một nhân vật biết nói, biết luận tội, biết giãi bày. Cấu trúc lặp cú pháp "Đàn kêu: Ai chém...", "Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày...", "Đàn kêu: Sao ở bất nhân..." tạo hiệu ứng mạnh mẽ, dồn dập, tăng sức thuyết phục và tố cáo. Lời thơ mộc mạc, gần gũi nhưng giàu sức biểu cảm. Tóm lại, trích đoạn truyện thơ Thạch Sanh là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của nghệ thuật (ở đây là tiếng đàn thần) trong việc đấu tranh cho công lí. Bằng nghệ thuật nhân hóa, lặp cấu trúc và giọng văn đanh thép, tác giả dân gian đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, thể hiện rõ nét tư tưởng và đạo lí truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

13 tháng 11 2025

Câu 1 (2 điểm): Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa là xu thế tất yếu giúp các dân tộc hiểu biết, gắn kết và cùng phát triển. Việc giao lưu văn hóa giúp con người mở rộng tầm nhìn, tiếp cận những giá trị tiến bộ của nhân loại, học hỏi tinh hoa về tri thức, nghệ thuật, lối sống. Nhờ tiếp biến, mỗi dân tộc có thể chọn lọc, hòa nhập mà không hòa tan, vừa phát huy bản sắc truyền thống, vừa làm mới văn hóa dân tộc để phù hợp với thời đại. Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa đậm đà bản sắc nhưng vẫn không ngừng đổi mới nhờ giao lưu với các nền văn hóa khác — từ ẩm thực, âm nhạc, thời trang đến công nghệ và giáo dục. Tuy nhiên, trong quá trình ấy, chúng ta cũng cần có bản lĩnh và ý thức giữ gìn giá trị gốc, tránh chạy theo, lai tạp hay đánh mất bản sắc dân tộc. Tóm lại, giao lưu và tiếp biến văn hóa chính là cầu nối giúp con người hội nhập, phát triển toàn diện, góp phần làm phong phú và bền vững hơn bản sắc của mỗi dân tộc trong thời đại mới.


🟩 Câu 2 (4 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh

Mở bài:

Truyện thơ Nôm Thạch Sanh là một tác phẩm dân gian giàu giá trị nhân văn, ca ngợi người anh hùng nghĩa hiệp, thật thà và chính trực. Đoạn trích “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh...” là một trong những đoạn đặc sắc nhất, thể hiện chiến thắng của lẽ phải, của công lý và đạo đức nhân nghĩa, đồng thời gửi gắm niềm tin của nhân dân vào sự chiến thắng cuối cùng của người tốt.


Thân bài:

1. Khái quát về truyện và vị trí đoạn trích:
Thạch Sanh được sáng tác dựa trên truyện cổ tích cùng tên, thuộc loại truyện thơ Nôm khuyết danh. Đoạn trích thuộc phần giữa truyện, kể về tiếng đàn thần của Thạch Sanh, nhờ đó mà sự thật được phơi bày, công lý được thực thi.


2. Phân tích nội dung đoạn trích:

  • a. Tiếng đàn mang âm hưởng kỳ diệu:

    “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,
    Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.”
    Câu thơ mở đầu gợi âm thanh ngân vang, trong sáng, ẩn chứa sức mạnh kì diệu của cái thiện. Tiếng đàn không chỉ đẹp về âm thanh mà còn là tiếng lòng, tiếng nói của lẽ phải.

  • b. Tiếng đàn là tiếng nói của công lý, tố cáo kẻ gian, minh oan cho người hiền:

    “Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,
    Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?”
    Tiếng đàn cất lên thay cho Thạch Sanh — người thật thà không nói nhiều, để vạch mặt kẻ phản bội Lý Thông, nhắc lại công lao của người anh hùng.
    “Đàn kêu: Sao ở bất nhân,
    Biết ăn quả lại quên ân người giồng?”
    Những lời đàn ấy vừa tha thiết, vừa đanh thép, tố cáo tội vong ân bội nghĩa, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức truyền thống của nhân dân: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

  • c. Tiếng đàn thức tỉnh lòng người, khơi dậy sự thật:

    “Đàn kêu thấu đến cung phi,
    Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.”
    Nhờ tiếng đàn, công chúa và triều đình mới hiểu rõ sự thật, minh oan cho Thạch Sanh.
    → Đây là chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng: tiếng đàn là tiếng nói của chân lý, của niềm tin vào cái thiện tất thắng cái ác.


3. Nghệ thuật đặc sắc:

  • Thể thơ lục bát quen thuộc, nhịp điệu uyển chuyển, giàu nhạc tính.
  • Sử dụng điệp ngữ “Đàn kêu” tạo âm vang liên tục, thể hiện sức mạnh lan tỏa của công lý.
  • Hình tượng tiếng đàn thần vừa hiện thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Kết bài:

Đoạn trích “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh” là minh chứng cho tư tưởng nhân đạo của truyện thơ Nôm Thạch Sanh: đề cao người nghĩa hiệp, thật thà, dám đấu tranh chống lại kẻ ác. Qua hình tượng tiếng đàn, nhân dân gửi gắm niềm tin vào sức mạnh của cái thiện, của công lý và đạo lý “ở hiền gặp lành” – một thông điệp vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay.