Mọi người ơi tôi cần nhờ : hãy nêu thời gian thành lập tất cả các triều đại ở Việt Nam
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
6. Solar energy is the cleanest and most abundant renewable energy source.
7. You should fit solar panels to your home to provide water heating or electricity.
8. In a short time, many more people will be using electric cars.
6 Solar energy is the cleanest and most abundant renewable energy source
7 You should fit solar panels to your home to provide water heating or electricity
8 In a short time, many more people will be using electric cars
Câu 1:
Bài thơ "Những giọt lệ" là một tiếng kêu thương xé lòng, kết tinh từ nỗi đau tột cùng và tài năng trác tuyệt của Hàn Mặc Tử. Ngay từ những vần thơ đầu, thi nhân đã khắc họa một thế giới đầy bi kịch qua hàng loạt hình ảnh siêu thực ám ảnh như "mặt nhựt tan thành máu", "khối lòng cứng tợ si". Đó là sự phóng chiếu nỗi đau thể xác và tinh thần ra cả vũ trụ, biến nguồn sống (mặt trời) thành sự hủy diệt. Bi kịch ấy bắt nguồn từ sự chia biệt trong tình yêu, khiến tâm hồn người thi sĩ vỡ vụn, hụt hẫng đến mức "dại khờ". Đặc biệt, ở khổ thơ cuối, nỗi đau không chỉ dừng lại ở sự tuyệt vọng mà đã thăng hoa kỳ diệu. Hình ảnh "bông phượng nở trong màu huyết" nhỏ xuống thành "giọt châu" là một biểu tượng nghệ thuật đắt giá: nỗi đau thương của xác thịt đã ngưng tụ lại thành những viên ngọc thơ ca lấp lánh. Bằng việc sử dụng dồn dập các câu hỏi tu từ và ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, Hàn Mặc Tử đã dẫn người đọc đi từ trạng thái hoang mang, lạc lõng đến sự rung cảm mãnh liệt trước một hồn thơ "điên" nhưng đầy tài hoa, biết chắt chiu cái đẹp vĩnh cửu ngay trên vực thẳm của số phận.
Nhũ tương là hỗn hợp của các giọt chất lỏng nhỏ li ti phân tán trong một chất lỏng
Thay a = 800 và b = 9 vào biểu thức ta có:
56 000 : 800 x 9
= 70 x 9
= 630
"Nam quốc sơn hà" là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn mà hàm súc. Tác giả sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, dứt khoát, giọng điệu hào hùng để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc. Cấu trúc đối xứng giữa các vế thơ, nhịp thơ chắc khoẻ, lặp từ và phép đối khiến lời thơ thêm đanh thép. Hình ảnh thiên nhiên sông núi được đặt bên cạnh ý chí con người càng làm nổi bật tư tưởng chủ quyền quốc gia.
- Xác định lỗi lầm: Chọn một lỗi lầm cụ thể mà em từng mắc phải (ví dụ: nói dối, làm vỡ đồ vật, không vâng lời, lười học...).
- Kể lại sự việc: Trình bày rõ ràng diễn biến câu chuyện: hoàn cảnh xảy ra, hành động sai lầm của em, hậu quả của lỗi lầm đó.
- Bày tỏ cảm xúc: Nêu cảm xúc, suy nghĩ của em lúc đó và sau khi nhận ra lỗi sai (hối hận, day dứt...).
- Bài học rút ra: Khẳng định bài học kinh nghiệm sâu sắc mà em đã học được từ lỗi lầm đó và cách khắc phục trong tương lai.
Câu 1.
Bài làm :
Bài thơ “Khi mẹ vắng nhà” của Trần Đăng Khoa đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng về tình cảm của bạn nhỏ dành cho mẹ. Khi mẹ không ở nhà, em bé không ngồi chơi hay than thở mà chủ động làm mọi việc: luộc khoai, giã gạo, thổi cơm, quét sân… Những việc làm giản dị ấy cho thấy em rất thương mẹ và muốn đỡ đần mẹ phần nào. Em làm không phải để được khen, mà là từ tấm lòng yêu thương chân thành. Đặc biệt, ở những câu thơ cuối, bạn nhỏ nhận ra sự vất vả của mẹ: “Áo mẹ mưa bạc màu / Đầu mẹ nắng cháy tóc”. Từ đó, em thấy hiện lên hình ảnh một người mẹ lam lũ, tảo tần vì con. Lời nói “Con chưa ngoan, chưa ngoan!” thể hiện sự day dứt, tự trách của đứa con khi thấy mình chưa làm được nhiều cho mẹ. Bài thơ khiến em xúc động và tự nhắc mình phải biết yêu thương, quan tâm và giúp đỡ cha mẹ nhiều hơn bằng những việc làm nhỏ bé hằng ngày.
Câu 2.
Bài làm :
Ngày đầu tiên bước chân vào cổng trường Trung học cơ sở là một kỉ niệm mà em không bao giờ quên. Sáng hôm ấy, em thức dậy sớm hơn mọi ngày. Trời thu trong veo, nắng nhẹ trải trên con đường làng. Em mặc bộ đồng phục mới tinh, chiếc cặp trên vai còn thơm mùi vải mới. Tim em vừa háo hức vừa hồi hộp, như có một chú chim nhỏ đang đập cánh trong lồng ngực.
Khi đến cổng trường, em choáng ngợp trước khung cảnh rộng lớn và khang trang. Cổng trường cao, sân trường lát gạch đỏ, những hàng phượng vươn cao xanh mát. Tiếng trống trường vang lên “tùng… tùng… tùng…” nghe thật trang nghiêm. Em nắm chặt tay mẹ một lúc rồi mới dám bước vào. Lúc ấy, em cảm thấy mình như đang bước sang một thế giới mới – thế giới của những bài học khó hơn, thầy cô mới và những người bạn chưa quen.
Vào lớp, em rụt rè ngồi vào bàn cuối. Cô giáo chủ nhiệm bước vào với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp. Cô giới thiệu về lớp, về những điều cần cố gắng trong năm học mới. Dần dần, sự lo lắng trong em tan biến, thay vào đó là cảm giác yên tâm và tin tưởng. Giờ ra chơi, em làm quen được với vài bạn mới, chúng em cùng nhau cười nói rộn ràng dưới gốc phượng.
Ngày đầu tiên ở trường THCS đã khép lại với thật nhiều cảm xúc. Đó là ngày đánh dấu một chặng đường mới trong cuộc đời học sinh của em – chặng đường của sự trưởng thành, nỗ lực và ước mơ.
( Vũ Minh Hoàng )
- Vẹt không có giọng hót thật sự của riêng mình, mà chỉ biết bắt chước, sao chép âm thanh của loài khác.
- Vẹt "nghèo" về tư duy và tâm hồn, không tự tin vào giá trị bản thân và không biết tạo ra sự khác biệt.
- Hành động của Vẹt: Khi tới lượt, Vẹt liên tục nhại lại tiếng hót của Vịt (liếu ríu), tiếng Gà Trống (gáy dài), tiếng Chích Chòe (huýt lanh lảnh) và tiếng Vượn (hú).
- Lý do bị phản đối: Các con vật khác phản đối vì Vẹt đang "đạo" giọng của chúng, gian lận trong cuộc thi và không có giọng hót riêng (bị Liếu Điếu, Gà Trống, Chích Choè, Vượn nhận ra đó là giọng của chúng).
- So sánh thái độ: Các loài chim khác (như Hoạ Mi, Sáo) chăm chỉ luyện tập, yên lặng, hồi hộp chờ đợi và tôn trọng cuộc thi. Trái lại, Vẹt tỏ ra huênh hoang, khinh thường người khác, lăng xăng, tự tin thái quá, tự vỗ ngực sẽ thắng.
- Nét tính cách: Tác giả làm nổi bật tính cách khoe khoang, huênh hoang, lười tư duy, thích bắt chước của Vẹt.
- Đồng tình/Không đồng tình: Không đồng tình. Vì thái độ này thể hiện sự thiếu tôn trọng người khác, thiếu trung thực và sự tự phụ, không tập trung phát triển bản thân.
Câu 1.
Văn bản Con Vẹt nghèo được kể bằng lời của người kể chuyện ngôi thứ ba
Câu 2.
Vẹt bị coi là “nghèo” vì tuy có thể hót được nhiều giọng khác nhau nhưng tất cả đều là bắt chước, không có tiếng hót riêng của chính mình. Sự “nghèo” ở đây là nghèo về bản sắc, tài năng thật sự.
Câu 3.
Khi tới lượt biểu diễn, Vẹt hót liên tiếp nhiều âm thanh khác nhau. Tuy nhiên, Vẹt bị các con vật khác phản đối vì những tiếng hót đó đều là giọng của các loài chim khác, không phải tiếng hót của riêng Vẹt.
Câu 4.
Trước cuộc thi, các loài chim khác đều chăm chỉ luyện tập, khiêm tốn và nghiêm túc, còn Vẹt thì huênh hoang, tự mãn, coi thường người khác. Qua sự đối lập đó, tác giả làm nổi bật tính cách tự cao, ỷ lại vào việc bắt chước của Vẹt. Em không đồng tình với nét tính cách này vì nó khiến con người dễ thất bại và không phát triển được năng lực thật của bản thân.
Câu 5.
Từ nhận thức của Vẹt, em rút ra bài học rằng trong học tập và rèn luyện, mỗi người cần có sự cố gắng và sáng tạo của riêng mình. Không nên học theo người khác một cách máy móc mà phải hiểu bản chất vấn đề. Chỉ khi tự rèn luyện bằng năng lực thật, ta mới có kiến thức vững vàng. Đồng thời, cần tránh thái độ tự mãn, kiêu căng. Sự khiêm tốn và chăm chỉ sẽ giúp em tiến bộ hơn mỗi ngày.
Câu 1. (2,0 điểm)
Bài thơ Cây đa của Trần Đăng Khoa gợi cho em nhiều cảm xúc sâu lắng và thân thương về làng quê Việt Nam. Hình ảnh cây đa hiện lên vừa gần gũi vừa giàu sức sống, gắn bó mật thiết với thiên nhiên và con người nơi thôn quê. Dưới ngòi bút tinh tế của tác giả, cây đa không chỉ là một cây cổ thụ mà còn như một người bạn hiền che chở cho chim chóc, trâu bò và cả những người nông dân nghỉ ngơi sau giờ lao động vất vả. Bức tranh làng quê trong bài thơ hiện lên yên bình, trù phú với biển lúa vàng, dòng nước trong và âm thanh rì rào của lá, của ve. Qua bài thơ, em thêm yêu vẻ đẹp giản dị của quê hương và trân trọng những hình ảnh thân quen đã nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ.
Câu 2. (4,0 điểm)
Trong cuộc sống, ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ bên người thân, và với em, trải nghiệm đáng nhớ nhất là chuyến về quê cùng bà ngoại vào mùa hè năm ngoái. Đó là lần đầu tiên em được ở quê lâu như vậy, nên mọi thứ đều rất mới mẻ và thú vị.
Quê bà là một vùng quê yên bình với những cánh đồng lúa trải dài và con đường đất nhỏ quanh co. Mỗi buổi sáng, bà thường dậy sớm nấu cơm rồi gọi em ra vườn tưới cây. Bà vừa làm vừa kể cho em nghe những câu chuyện ngày xưa, giọng nói chậm rãi và ấm áp. Em thích nhất là buổi chiều, hai bà cháu cùng ngồi dưới gốc cây mát rượi, bà quạt cho em ngủ và xoa đầu em thật nhẹ. Những lúc ấy, em cảm nhận được tình yêu thương giản dị nhưng vô cùng sâu sắc của bà.
Một hôm, em theo bà ra đồng gặt lúa. Dưới cái nắng hè gay gắt, nhìn bà vẫn cần mẫn làm việc, em thương bà hơn và tự nhủ phải cố gắng học tập thật tốt để không phụ lòng bà. Chuyến về quê ấy tuy không dài nhưng đã để lại trong em nhiều kỉ niệm đẹp và cảm xúc khó quên.
Trải nghiệm đó giúp em hiểu hơn về tình cảm gia đình và trân trọng những giây phút được ở bên người thân yêu của mình.
Triều đại
Năm thành lập
Người sáng lập
Nhà Ngô
939
Ngô Quyền
Nhà Đinh
968
Đinh Tiên Hoàng
Nhà Tiền Lê
980
Lê Hoàn (Lê Đại Hành)
Nhà Lý
1009
Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
Nhà Trần
1225
Trần Cảnh (Trần Thái Tông)
Nhà Hồ
1400
Hồ Quý Ly
Nhà Hậu Trần
1407
Trần Ngỗi
Nhà Hậu Lê (Lê Sơ)
1428
Lê Lợi (Lê Thái Tổ)
Nhà Mạc
1527
Mạc Đăng Dung
Nhà Lê Trung Hưng
1533
Lê Ninh (Lê Chiêu Tông)
Nhà Tây Sơn
1778
Nguyễn Nhạc (Thái Đức)
Nhà Nguyễn
1802
Nguyễn Ánh (Gia Long)
Thời kỳ dựng nước
1. Nhà nước Văn Lang – khoảng 2879 TCN
(Các vua Hùng)
(An Dương Vương)
Thời kỳ Bắc thuộc (không phải triều đại Việt Nam)
(Bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ, xen kẽ một số cuộc khởi nghĩa giành quyền tự chủ)
Thời kỳ phong kiến độc lập
(Ngô Quyền)
(Đinh Bộ Lĩnh)
(Lê Hoàn)
(Lý Công Uẩn)
(Trần Cảnh)
(Hồ Quý Ly)
Bắc thuộc lần thứ tư
(Nhà Minh đô hộ)
Thời kỳ trung hưng và phân tranh
(Lê Lợi)
(Mạc Đăng Dung)
→ đất nước bị chia cắt nhưng vẫn lấy danh nghĩa nhà Lê
Thời kỳ thống nhất cuối phong kiến
(Nguyễn Nhạc)
(Gia Long)
Thời kỳ hiện đại