K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

30 tháng 11 2025

 thông điệp tình yêu thương, sự sẻ chia từ những điều nhỏ bé xung quanh chúng ta, từ những người yêu thương chúng ta trong gia đình

30 tháng 11 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.2.Gióng ra đời kì lạMẹ Gióng có thai Gióng...
Đọc tiếp

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.

2.Gióng ra đời kì lạ

Mẹ Gióng có thai Gióng không bình thường. Bà ướm chân mình vào vết chân khổng lồ rồi mang thai; lại có thai không phải chín tháng mười ngày mà mười hai tháng. Sự sinh nở thần kì, ta vẫn thường thấy trong truyện cổ dân gian. Chẳng hạn, truyện dân gian kể, lúc Lê Lợi sinh ra có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm; còn Nguyễn Huệ, khi ra đời, có hai con hổ chầu hai bên. Những chi tiết hoang đường kể về Gióng như thế là cách dân gian tưởng tượng ra để nhân vật của mình trở thành phi thường. Nhân dân muốn tạo những nét kì lạ, biểu hiện niềm yêu mến, sự tôn kính với nhân vật và tin rằng nhân vật đã ra đời kì lạ thì tất cũng lập chiến công kì lạ. […]

3.Gióng lớn lên cũng kì lạ

Ba năm, Gióng không nói không cười, chỉ nằm im lặng. Nhưng bắt đầu cất lên tiếng nói thì đó là tiếng nói yêu nước, cứu nước. Tiếng nói ấy không phải là tiếng nói bình thường […] Gióng lớn nhanh như thổi, “cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc đã căng đứt chỉ”. [...] Gióng lớn lên bằng những thức ăn, thức mặc của nhân dân. Sức mạnh dũng sĩ của Gióng được nuôi dưỡng từ những cái bình thường, giản dị. Tất cả dân làng đùm bọc, nâng niu, nuôi nấng. “Nhân dân ta rất yêu nước, ai cũng mong Gióng lớn nhanh đánh giặc cứu nước. Gióng đâu còn là con chỉ của một bà mẹ, mà là con của mọi người, của nhân dân. Một người cứu nước sao đặng? Phải toàn dân góp phần chuẩn bị cho sức mạnh đánh giặc. Có vậy, khả năng đánh giặc, cứu nước mới lớn lên mau chóng. Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân đó” (Lê Trí Viễn). [...]

4.Gióng vươn vai ra trận đánh giặc

Giặc đến. Thế nước rất nguy. Chú bé Gióng đã vươn vai đứng dậy, biến thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Sự vươn vai của Gióng có liên quan đến mô típ truyền thống của truyện cổ dân gian. Thời cổ, nhân dân quan niệm người anh hùng phải khổng lồ về hình thể, sức mạnh, chiến công. Thần Trụ Trời và Sơn Tinh,... đều là những nhân vật khổng lồ. Cái vươn vai của Gióng là để đạt đến sự phi thường ấy [...]. Gióng vươn vai là tượng đài bất hủ về sự trưởng thành vượt bậc, về hùng khí, tinh thần của dân tộc trước vận nước lâm nguy [...]. Quang cảnh Gióng ra trận rất hùng vĩ, hoành tráng. Tất cả sức mạnh của ý chí cộng đồng, của thành tựu lao động, văn hoá được bộc lộ trong cuộc đối đầu với kẻ thù: ngựa sắt phun ra lửa, giáp sắt, nón sắt chở che cho người anh hùng, roi sắt dân dã, rất Việt Nam, cũng xuất hiện. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Gióng đánh giặc cả bằng cây cỏ đất nước, bằng những gì có thể tiêu diệt được giặc. [...]

5.Gióng bay lên trời và dấu xưa còn lại

Dẹp giặc tan, Gióng đến chân núi Sóc, cởi áo sắt để lại, rồi cả người lẫn ngựa bay lên trời. Gióng ra đời đã phi thường thì ra đi cũng phi thường. Nhân dân trân trọng, yêu mến, muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng, nên đã để cho nhân vật trở về với cõi vô biên bất tử, để nhân vật sống mãi. Đó là phần thưởng cao nhất, đẹp nhất trao tặng người anh hùng. Hình tượng Gióng đã được bất tử hoá. Bay lên trời, Gióng hoá rồi. Gióng là non nước, đất trời, là mọi người Văn Lang, Gióng sống mãi. [...] Chiến công của Gióng còn để lại cho quê hương, xứ sở nhiều chứng tích địa danh, sản vật,... Đó là dấu vết ngựa sắt phun ra lửa làm nên màu tre đằng ngà vàng óng, dấu chân ngựa thành những ao hồ chi chít. Nhân dân còn kể chỗ nào Gióng bắt đầu xuất quân; chỗ nào đoàn trẻ chăn trâu, người thợ rèn đi theo Gióng; chỗ nào Gióng nhổ bụi tre khổng lồ. Hội Gióng hằng năm cũng dựng lại cảnh không khí dân làng nuôi Gióng, bức tranh Gióng ra trận. Tất cả những chứng tích ấy như những viện bảo tàng thiên nhiên, bảo tàng lịch sử, bảo tàng văn hoá về Gióng, như muốn minh chứng rằng câu chuyện có thật, làm mọi người tin vào truyền thống giữ nước của dân tộc. (câu hỏi:tìm ý kiến,lí lẽ,bằng chứng trong có đoạn 1, đoạn 2, đoạn 3,đoạn 4, đoạn 5-ngắn thôi ạ,mình cảm ơn)

1
1 tháng 12 2025

hay thiệt❤

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.2.Gióng ra đời kì lạMẹ Gióng có thai Gióng...
Đọc tiếp

THÁNH GIÓNG – TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA LÒNG YÊU NƯỚC 1.Chủ đề đánh giặc cứu nước là chủ đề lớn, cơ bản, xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam nói chung, văn học dân gian Việt Nam nói riêng. Thánh Gióng thể hiện tập trung chủ đề đánh giặc cứu nước, thuộc loại tác phẩm hay nhất cho chủ đề này.

2.Gióng ra đời kì lạ

Mẹ Gióng có thai Gióng không bình thường. Bà ướm chân mình vào vết chân khổng lồ rồi mang thai; lại có thai không phải chín tháng mười ngày mà mười hai tháng. Sự sinh nở thần kì, ta vẫn thường thấy trong truyện cổ dân gian. Chẳng hạn, truyện dân gian kể, lúc Lê Lợi sinh ra có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm; còn Nguyễn Huệ, khi ra đời, có hai con hổ chầu hai bên. Những chi tiết hoang đường kể về Gióng như thế là cách dân gian tưởng tượng ra để nhân vật của mình trở thành phi thường. Nhân dân muốn tạo những nét kì lạ, biểu hiện niềm yêu mến, sự tôn kính với nhân vật và tin rằng nhân vật đã ra đời kì lạ thì tất cũng lập chiến công kì lạ. […]

3.Gióng lớn lên cũng kì lạ

Ba năm, Gióng không nói không cười, chỉ nằm im lặng. Nhưng bắt đầu cất lên tiếng nói thì đó là tiếng nói yêu nước, cứu nước. Tiếng nói ấy không phải là tiếng nói bình thường […] Gióng lớn nhanh như thổi, “cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc đã căng đứt chỉ”. [...] Gióng lớn lên bằng những thức ăn, thức mặc của nhân dân. Sức mạnh dũng sĩ của Gióng được nuôi dưỡng từ những cái bình thường, giản dị. Tất cả dân làng đùm bọc, nâng niu, nuôi nấng. “Nhân dân ta rất yêu nước, ai cũng mong Gióng lớn nhanh đánh giặc cứu nước. Gióng đâu còn là con chỉ của một bà mẹ, mà là con của mọi người, của nhân dân. Một người cứu nước sao đặng? Phải toàn dân góp phần chuẩn bị cho sức mạnh đánh giặc. Có vậy, khả năng đánh giặc, cứu nước mới lớn lên mau chóng. Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân đó” (Lê Trí Viễn). [...]

4.Gióng vươn vai ra trận đánh giặc

Giặc đến. Thế nước rất nguy. Chú bé Gióng đã vươn vai đứng dậy, biến thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Sự vươn vai của Gióng có liên quan đến mô típ truyền thống của truyện cổ dân gian. Thời cổ, nhân dân quan niệm người anh hùng phải khổng lồ về hình thể, sức mạnh, chiến công. Thần Trụ Trời và Sơn Tinh,... đều là những nhân vật khổng lồ. Cái vươn vai của Gióng là để đạt đến sự phi thường ấy [...]. Gióng vươn vai là tượng đài bất hủ về sự trưởng thành vượt bậc, về hùng khí, tinh thần của dân tộc trước vận nước lâm nguy [...]. Quang cảnh Gióng ra trận rất hùng vĩ, hoành tráng. Tất cả sức mạnh của ý chí cộng đồng, của thành tựu lao động, văn hoá được bộc lộ trong cuộc đối đầu với kẻ thù: ngựa sắt phun ra lửa, giáp sắt, nón sắt chở che cho người anh hùng, roi sắt dân dã, rất Việt Nam, cũng xuất hiện. Gậy sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Gióng đánh giặc cả bằng cây cỏ đất nước, bằng những gì có thể tiêu diệt được giặc. [...]

5.Gióng bay lên trời và dấu xưa còn lại

Dẹp giặc tan, Gióng đến chân núi Sóc, cởi áo sắt để lại, rồi cả người lẫn ngựa bay lên trời. Gióng ra đời đã phi thường thì ra đi cũng phi thường. Nhân dân trân trọng, yêu mến, muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng, nên đã để cho nhân vật trở về với cõi vô biên bất tử, để nhân vật sống mãi. Đó là phần thưởng cao nhất, đẹp nhất trao tặng người anh hùng. Hình tượng Gióng đã được bất tử hoá. Bay lên trời, Gióng hoá rồi. Gióng là non nước, đất trời, là mọi người Văn Lang, Gióng sống mãi. [...] Chiến công của Gióng còn để lại cho quê hương, xứ sở nhiều chứng tích địa danh, sản vật,... Đó là dấu vết ngựa sắt phun ra lửa làm nên màu tre đằng ngà vàng óng, dấu chân ngựa thành những ao hồ chi chít. Nhân dân còn kể chỗ nào Gióng bắt đầu xuất quân; chỗ nào đoàn trẻ chăn trâu, người thợ rèn đi theo Gióng; chỗ nào Gióng nhổ bụi tre khổng lồ. Hội Gióng hằng năm cũng dựng lại cảnh không khí dân làng nuôi Gióng, bức tranh Gióng ra trận. Tất cả những chứng tích ấy như những viện bảo tàng thiên nhiên, bảo tàng lịch sử, bảo tàng văn hoá về Gióng, như muốn minh chứng rằng câu chuyện có thật, làm mọi người tin vào truyền thống giữ nước của dân tộc. (câu hỏi:tìm ý kiến,lí lẽ,bằng chứng trong có đoạn 1, đoạn 2, đoạn 3,đoạn 4, đoạn 5-ngắn thôi ạ,mình cảm ơn)

0
30 tháng 11 2025

“Tiếng gà trưa” là một trong những bài thơ giàu cảm xúc nhất của Xuân Quỳnh – tiếng thơ của tình yêu, của nhớ thương và của những điều bình dị đã nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Ở bài thơ này, hình ảnh người chiến sĩ hiện lên không qua những chiến công lớn lao, mà qua những rung động rất đời thường: kỉ niệm tuổi thơ bên bà. Chính những kỉ niệm ấy đã trở thành nguồn động lực lớn lao giúp người chiến sĩ vững bước trên con đường chiến đấu.

Điểm đặc sắc đầu tiên là nhà thơ đã để tiếng gà trưa – một âm thanh thân thuộc của làng quê – trở thành cái cớ khơi dậy dòng hồi ức trong tâm trí người lính. Trên đường hành quân, “tiếng gà trưa” bất chợt gợi lại một miền tuổi thơ yên bình, nơi người chiến sĩ từng sống trong vòng tay yêu thương của bà. Âm thanh ấy đưa người đọc trở về với những kỉ niệm giản dị: những buổi bà mở ổ, ngắm đàn gà con; những lần bà dành dụm từng quả trứng để bán lấy tiền may áo mới cho cháu. Những hình ảnh “ổ rơm hồng những trứng”, “tiếng gà trưa” không chỉ gợi không gian làng quê mà còn chứa đựng tình thương ấm áp, chân chất của người bà dành cho cháu nhỏ.

Những kỉ niệm ấy thấm đượm tình yêu thương gia đình – thứ tình cảm thiêng liêng và bền chặt nhất trong đời người. Tuổi thơ của nhân vật trữ tình hiện lên trong sáng, êm đềm, được nâng niu bởi sự chở che của bà. Bà hiện lên hiền hậu, tảo tần, luôn nghĩ cho cháu. Từ việc bà dành dụm từng đồng tiền bán trứng gà đến nỗi vui mừng khi thấy cháu có áo mới, tất cả đã bồi đắp trong tâm hồn người cháu lòng biết ơn và tình yêu sâu nặng.

Điều đặc biệt trong bài thơ là: những kỉ niệm tuổi thơ ấy không chỉ để nhớ, mà trở thành động lực chiến đấu của người lính. Nhắc lại tuổi thơ không phải để hoài niệm, mà để khẳng định lý do của sự dấn thân:
“Vì bà, vì tiếng gà trưa
Vì tình yêu làng xóm
Nên người chiến sĩ ấy cầm súng bảo vệ quê hương.”

Những điều tưởng như rất nhỏ bé – tiếng gà trưa, ổ trứng hồng, chiếc áo mới – lại chính là sức mạnh tinh thần lớn lao giúp người chiến sĩ vượt lên mọi gian khổ. Đó là nét đẹp tâm hồn của con người Việt Nam: đi giữa bom đạn nhưng trái tim vẫn ấm mềm bởi những tình cảm gia đình mộc mạc, bình dị.

Như vậy, kỉ niệm tuổi thơ trong “Tiếng gà trưa” không chỉ mang giá trị cảm xúc mà còn tạo chiều sâu nhân văn cho bài thơ. Qua những hồi ức ấy, Xuân Quỳnh cho thấy sức mạnh của tình thân, của những điều bình dị trong cuộc đời đã trở thành hậu phương vững chắc cho người lính ngoài chiến trường.

“Tiếng gà trưa” vì thế không chỉ là bài thơ về tuổi thơ, về người bà, mà còn là bài thơ ca ngợi tình yêu quê hương đất nước bắt nguồn từ những điều nhỏ bé nhất. Đọc bài thơ, ta hiểu hơn rằng: đôi khi, những gì giữ chân con người, khiến họ mạnh mẽ tiến về phía trước, không phải những điều to tát, mà chính là những kỉ niệm êm đềm, những yêu thương giản dị của tuổi thơ.

30 tháng 11 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!

30 tháng 11 2025

Mình không có Zalo bạn nhé.

30 tháng 11 2025

ok

30 tháng 11 2025

Việt Nam quê hương xanh ngát,
Sông dài núi biếc nắng trải khắp nơi.
Dân hiền, tay chăm, lòng thật,
Đất nước rực rỡ sáng tươi mai sau.

30 tháng 11 2025

Bài thơ “Buổi sáng nhà em” của Trần Đăng Khoa mang đến cho em cảm giác bình yên và ấm áp, như được trở về với tuổi thơ giữa khung cảnh làng quê thân thuộc. Qua những hình ảnh giản dị nhưng rất sống động như vườn cây rực rỡ ánh nắng, đàn gà đang ríu rít, mẹ nhóm bếp hay ánh sáng buổi sớm chiếu qua cửa sổ, em cảm nhận được nhịp sống nhẹ nhàng và hạnh phúc trong gia đình. Không chỉ vậy, từng câu chữ trong bài thơ còn gợi lên sự tinh nghịch, trong sáng của tuổi thơ, khiến em thấy yêu hơn những khoảnh khắc giản dị nhưng tràn đầy niềm vui ấy. Đọc bài thơ, em như nghe thấy tiếng chim hót líu lo, mùi khói bếp thơm nồng và cảm nhận được hơi ấm yêu thương lan tỏa khắp ngôi nhà. Bài thơ khiến em hiểu rằng hạnh phúc đôi khi chỉ là những điều giản dị nhất quanh ta, và em càng thêm yêu quê hương, yêu mái ấm gia đình của mình.

30 tháng 11 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!

23 tháng 12 2025

ĐỀ THI VĂN 6 CUỐI KỲ I 2025 MỚI 

Đề 1

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Về thăm mẹ

Con về thăm mẹ chiều đông
Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà
Mình con thơ thẩn vào ra
Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi.

Chum tương mẹ đã đậy rồi
Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa
Áo tơi qua buổi cày bừa
Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm.

Đàn gà mới nở vàng ươm
Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành
Bất ngờ rụng ở trên cành
Trái na cuối vụ mẹ dành phần con.

Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.

(Đinh Nam Khương, NXB Đại học sư phạm thành phố HCM,

Bộ sách cánh diều, tr.39-40)

Trả lời các câu hỏi/thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Tìm những từ láy có trong bài thơ.

Câu 3. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ. 

Câu 4. Câu thơ sau muốn thể hiện tình cảm, cảm xúc gì?

Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn...
Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày.

Câu 5. Qua bài thơ, em hãy rút ra những thông điệp có ý nghĩa nhất cho bản thân.

Câu 6. Viết đoạn văn (khoảng 100 chữ) ghi lại cảm xúc về bài thơ trên. 

PHẦN II: Viết (5,0 điểm)

Viết bài văn tả không khí đón giao thừa ở gia đình em trong ngày tết nguyên đán ( Bài văn khoảng 400 chữ)

 

Đề 2

I. ĐỌC HIỂU (5.0 điểm)

Đọc đoạn thơ  sau và trả lời câu hỏi:

THƯƠNG CHA

                                        Thương cha nắng sớm mưa chiều

                                   Ruộng đồng vất vả rất nhiều cực thân

                                       Nuôi con khôn lớn thành nhân

                                  Dạy con đạo lý nghĩa ân trên đời…

                                       Công ơn dưỡng dục cao vời

                                    Như là sông núi biển trời bao la

                                       Làm con phụng dưỡng mẹ cha

                          Viếng thăm chăm sóc mới là hiếu nhân.

( Thơ Huê Đàm )

Câu 1: Bốn câu thơ đầu của bài thơ, những tiếng nào được gieo vần với nhau.

Câu 2: Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong 2 câu thơ sau:Tác dụng?

                                       Công ơn dưỡng dục cao vời

                                    Như là sông núi biển trời bao la

 

Câu 3: Giải thích nghĩa của từ “Dưỡng dục” có trong bài thơ.

Câu 4: Theo em, vì sao người con lại “ thương cha”?

Câu 5: Em hãy kể tên những việc làm cụ thể của mình thể hiện lòng biết ơn cha mẹ?

Câu 6. Viết đoạn văn (khoảng 100 chữ) ghi lại cảm xúc của em về bài thơ trên. 

II. VIẾT (5,0  điểm)

Viết bài văn tả không khí một buổi chợ tết ở nơi em đang sống.(bài viết khoảng 400 chữ)

 

Đề 3

I. ĐỌC HIỂU (5.0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

BỨC TRANH QUÊ

Quê hương đẹp mãi trong tôi

Dòng sông bên lở bên bồi uốn quanh

   Cánh cò bay lượn chòng chành

    Đàn bò gặm cỏ đồng xanh mượt mà

Sáo diều trong gió ngân nga

       Bình yên thanh đạm chan hòa yêu thương

    Bức tranh đẹp tựa thiên đường

     Hồn thơ trỗi dậy nặng vương nghĩa tình.

(Trích - Thu Hà)

Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định từ láy có trong đoạn thơ.

Câu 3. Giải thích nghĩa của từ “trỗi dậy” trong câu thơ     

Hồn thơ trỗi dậy nặng vương nghĩa tình.

Câu 4. Câu thơ “Bình yên thanh đạm chan hòa yêu thương” có ý nghĩa gì?

Câu 5. Em có cảm nhận gì về “Bức tranh quê” qua đoạn thơ trên?

Câu 6. Viết đoạn văn  (khoảng 100 chữ) ghi lại cảm xúc sau khi đọc xong đoạn thơ trên. 

II. LÀM VĂN (5,0 điểm)

Em hãy kể lại một trải nghiệm đáng nhớ với các thầy cô giáo.( Bài viết khoảng 400 chữ)

Đề 4

 

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)

Em hãy đọc ngữ liệu sau, trả lời các câu hỏi và ghi câu trả lời vào giấy kiểm tra:

Con tàu từ từ rẽ sóng... tiến lên... Chúng tôi lênh đênh ở biển khơi bát ngát...Về phía tây, rặng núi Tà Lơn bệ vệ nằm dài trong mây khói. Đảo Phú Quốc. Một vệt xanh xanh to lớn nằm chắn ngang phía trước, mây toà lờ mờ, như dán dính với da trời... Đảo Phú Quốc! Cảnh bấy lâu trong mộng tưởng thì kìa đã hiện ra trước mắt... Chúng tôi cảm thấy lòng sung sướng, mạnh mẽ.

Cơm nước nghỉ ngơi xong, chiều lại rủ nhau đi tắm biển. Bãi cát trắng phau, chạy dài hàng mấy nghìn thước. Ngoài khơi xa, lác đác mấy chiếc thuyền đánh cá, cánh buồm trắng in vào đám mây hồng. Bên rặng núi mờ xanh, nhởn nhơ đàn nhạn lạc, tạc thành một bức tranh ảnh khổng lồ tuyệt đẹp.

...Chúng tôi đi trong các ngõ đường để xem cảnh đêm nơi hòn bãi. Trăng mười một. Đêm mờ, sương lạnh, ở đây thật có cái vẻ tĩnh mịch vô cùng. Trên mặt biển, lác đác có những thuyền con đi “thẻ” mực, ánh đèn soi xuống đáy nước, xa trông lấp lánh như gương. Người ở đây làm việc thật không mấy lúc nghỉ ngơi, những việc nặng nhọc thì làm về ban ngày, còn những việc nhẹ nhàng thì làm về buổi tối. Dưới ngọn đèn mờ, người vá lưới, kẻ chuốt mây, vừa làm vừa chuyện vãn, trông có vẻ sung sướng, ung dung, an vui về công việc.

(Trích: “Chơi Phú Quốc” - Mộng Tuyết, Báo Nam Phong, số 188, ngày16-6-1934)

Câu 1: Đoạn trích được viết theo thể loại nào?

Câu 2 : Qua chuyến đi đến đảo Phú Quốc, tác giả đã được trải nghiệm và hiểu thêm gì về nơi đây?

Câu 3 :Câu“Bên rặng núi mờ xanh, nhởn nhơ đàn nhạn lạc, tạc thành một bức tranh ảnh khổng lồ tuyệt đẹp”sử dụng biện pháp tu từ gì?

Câu 4: Nêu nội dung chính của đoạn trích?

Câu 5: Em cần làm những việc gì để thể hiện tình yêu của em đối với quê hương?

Câu 6: Viết một đoạn văn( khoảng 100 chữ) ghi lại cảm xúc của em khi đọc bài thơ sau:

                    MÙA KHAI TRƯỜNG 

                                          ( Nguyễn Lâm Thắng)

Mùa thu dấu mất tiếng ve

Dấu luôn mấy cánh phượng hè hồng tươi

Và đem mây phủ xanh trời

Che cho cái nắng bớt oi bớt nồng

Cho vàng hương lứa trên đồng

Cho con chim đậu cành hồng líu lo

Cho em ăm ắp ước mơ

Tung tăng đến lớp giữa bờ lúa thơm

PHẦN II VIẾT (5 điểm)

Viết bài văn tả một cảnh đẹp trên quê hương em vào một buổi sáng mùa xuân .