(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Lớp IX
LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?
VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.
LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?
VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều đình một tội ác.
LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm sai cắt lưỡi mi đi bây giờ!
VŨ NHƯ TÔ - Lời thẳng thì hay trái tai. Xin Hoàng thượng cho phép tiện nhân được nói. Tiện nhân có bị cực hình cũng không oán hận.
LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã khoan thứ cho mi nhiều lắm rồi.
VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân có tội gì mà Hoàng thượng phải khoan thứ? Tiện nhân không trộm cướp, không tham nhũng, không giết người, tiện nhân chỉ biết phụng dưỡng mẹ già, nuôi vợ, nuôi con. Đang yên ổn, bỗng dưng tiện nhân bị bắt, bị đóng gông tra xiềng rồi bị giải đi, ăn không được ăn, uống không được uống, nghỉ ở đâu cũng bị đem giam vào lao như những quân trọng phạm. Hỏi tiện nhân có tội gì?
LÊ TƯƠNG DỰC - Vua cần đến thì thần dân phải xả thân làm việc kỳ đến chết thì thôi.
VŨ NHƯ TÔ - Nhưng xử đãi thế thì ai muốn trau dồi nghề nghiệp? Kính sĩ mới đắc sĩ...
LÊ TƯƠNG DỰC - Kính sĩ đắc sĩ, mi là sĩ đấy ư: Mi dám tự phụ là sĩ thảo nào mi không sợ chết.
VŨ NHƯ TÔ - Sĩ mà không có chân tài thì tiện nhân không bàn. Anh em tiện nhân còn có những nguyện vọng sâu xa hơn đối với nước. Hoàng thượng quá nhầm về chữ sĩ. Một ông quan trị dân, với một người thợ giỏi, xây những lâu đài tráng quan, điểm xuyết cho đất nước, tiện nhân chưa biết người nào mới đáng gọi là sĩ.
LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm rộng lượng nên mi mới được ăn nói rông càn. Chẳng qua là trẫm mến tài, người khác thì đã mất đầu.
VŨ NHƯ TÔ - Thân này tiện nhân đã cầm chắc là không được toàn. Nhưng trước khi chết tiện nhân cũng cố hết sức biện bạch mong Hoàng thượng đừng coi rẻ anh em tiện nhân, ngõ hầu con em theo gót sau này được mở mày mở mặt. Những ân huệ ấy tiện nhân không xin cho mình - tiện nhân xin chịu chết mà xin cho lũ hậu tiến. Được biệt đãi, có địa vị thì những kẻ tài hoa mới xuất hiện, tranh nhau tô điểm nước non.
LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là công việc của trẫm và các đại thần. Mi là một tên thợ không biết gì. Hãy nghe trẫm hỏi chuyện Cửu Trùng Đài. Một năm nay không xây được, trẫm lấy làm phiền lắm. Đài phải có trăm nóc, cao mười trượng, dài năm trăm trượng, mi có đủ tài xây được không?
VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân không thấy cái khó ở đâu cả. Tiện nhân tự xét, thực thừa sức xây Cửu Trùng Đài.
LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định xây ra làm sao?
VŨ NHƯ TÔ - Điều tiện nhân xin lúc nãy, Hoàng thượng hãy chuẩn y cho đã.
LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định ép ta sao? Đầu mi chỉ một lệnh truyền là không còn trên cổ.
VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân đã coi rẻ đầu này. Nó rơi lúc nào là xong một kiếp. Tiện nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế, Hoàng thượng đã quên rồi sao? Chỉ vì tiền đồ nước ta mà tiện nhân xin Hoàng thượng trọng đãi thợ. Hoàng thượng không được khinh rẻ họ, không được ức hiếp họ (mắt sáng lên, nét mặt quả quyết). Được thế thì tiện nhân mới chịu làm, mà xin Hoàng thượng biết cho, đài Cửu Trùng, phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi.
LÊ TƯƠNG DỰC (lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc) - Sợ mi chỉ là một kẻ đại ngôn.
VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám nói thế, không phải là đại ngôn, nhưng vì tiện nhân tự biết tiện nhân. Trong hai mươi năm trời, tiện nhân khổ công trau nghề, nào hỏi, nào tập, nào khảo cứu, học cả văn chương toán pháp, địa lý, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, cả những danh lam thắng tích ở Trung Quốc, ở Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát, cũng vì thế mà ngày nay hơn bốn mươi tuổi đầu, tiện nhân mới có ít nhiều sở đắc, nói ra thì Hoàng thượng nửa tin, nửa ngờ. Trong suốt một năm đi trốn, tuy bị truy nã, khổ nhục trăm đường, tiện nhân cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng Đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ.
LÊ TƯƠNG DỰC (mừng rỡ) - Đâu, cho trẫm xem.
VŨ NHƯ TÔ - Trong túi áo tiện nhân đây. Nhưng xin Hoàng thượng...
LÊ TƯƠNG DỰC - Đưa trẫm xem đã.
VŨ NHƯ TÔ - Xin Hoàng thượng trả lời tiện nhân đã.
LÊ TƯƠNG DỰC - Mi tưởng ta không lấy được của mi sao? (Đến lần túi Vũ Như Tô rút ra một bản đồ to và một quyển sổ dày.).
VŨ NHƯ TÔ (khinh bỉ) - Không ngờ Hoàng thượng!...
LÊ TƯƠNG DỰC (đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi, một lúc lâu) - Thực vừa ý trẫm. Nhiều chỗ trẫm không nghĩ tới! Cửu Trùng Đài! Trẫm có ý xây đài trên bờ Tây hồ. Đây là miếu công thần, đây là lầu vọng nguyệt. Đây là san hô sảnh, đây là điện vàng, điện ngọc, đây là đại uyển, tiểu uyển, đây là trà điện, nhạc điện... đứng trên đài cao ngất này bao quát được Long thành. (đếm) Phải, đúng 100 nóc, hiển nhiên là hình trăm rồng tranh ngọc. Tráng quan lắm, ý trẫm lại muốn khơi một dòng nước từ chính điện thông ra hồ Tây, hai bên bờ trồng kỳ hoa dị thảo, để ngày ngày trẫm cùng cung nữ bơi thuyền hoa ra hồ ngoạn thưởng, mi nghĩ sao?
VŨ NHƯ TÔ - Được!
LÊ TƯƠNG DỰC - Vậy thì mi thêm vào.
VŨ NHƯ TÔ - Không thêm bớt gì cả. Đài Cửu Trùng không xây cho...
LÊ TƯƠNG DỰC - À mi giỏi thực! Lần này trẫm không tha mi nữa, trẫm cũng không cần mi nữa, (xem quyển sổ) đủ rồi. Đủ rồi, trẫm gọi thợ khác cứ theo đây mà xây, sửa chút ít là vừa ý trẫm. Còn mi, mi chờ quân đao phủ dẫn đi.
VŨ NHƯ TÔ - Đó là quyền Hoàng thượng. Nhưng... xây Đài Cửu Trùng không dễ thế đâu. Nếu chỉ xem sách mà làm được thì chán nhà nho đã thành Khổng Tử, chán vị tướng đã thành Tôn, Ngô, chán thi nhân đã thành Lý, Đỗ. Cần phải có mắt, có tai, có tâm huyết, có tay mình vào đó. Hoàng thượng cứ giữ lấy bản đồ, cầm lấy quyển sổ, đi tìm thợ giỏi, tiện nhân không dám nói sao, nhưng tiện nhân tin rằng không một kẻ nào làm nổi. Bản đồ kia chỉ là phần xác, nhưng phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân, mà phần hồn mới là phần chính.
LÊ TƯƠNG DỰC (dịu giọng nhìn bản đồ say sưa) - Mi định không giúp trẫm sao?
VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám đâu tiếc sức? Cũng mong giúp Hoàng thượng xây cho nước ta một tòa lâu đài nguy nga, cùng với vũ trụ trường tồn. Chỉ xin Hoàng thượng hai điều: thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay đổi một ly nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi công ngang sĩ. Sách Trung Dung có dạy “Lai bách công giã”. Hoàng thượng chắc còn nhớ đấy. Nước phú dân cường là nhờ ở đó. Hai điều đó không được, tiện nhân đành phí thân này.
LÊ TƯƠNG DỰC (trầm ngâm) - Sao mi cứ băn khoăn?...
VŨ NHƯ TÔ - Không băn khoăn sao được? Khi anh em tiện nhân, chỉ vì có chút tài năng, mà phải cực nhục như quân có tội, thì kẻ này không thể nào ăn ngon ngủ yên được. Chính tiện nhân đây, cổ đeo gông, tay mang xiềng xích, nhục quá trâu ngựa, Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?
LÊ TƯƠNG DỰC - Được, hai điều mi xin, trẫm cho cả. Trẫm chịu mi vậy. Nhưng mi phải đem hết sức ra xây Cửu Trùng Đài cho trẫm.
VŨ NHƯ TÔ - Được, Hoàng thượng cho hai điều ấy, tiện nhân dám đâu không hết sức. Huống chi xây Cửu Trùng Đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều. Đã làm xin cúc cung tận tụy. Hoàng thượng tuyển cho năm vạn thợ và phải giao cho tiện nhân toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu. Có thế thì đài mới xong được.
LÊ TƯƠNG DỰC - Bao giờ xong?
VŨ NHƯ TÔ - Độ năm năm. Hoàng thượng liệu có thể theo cho đến buổi hoàn thành không?
LÊ TƯƠNG DỰC - Sao lại không? Ngay bây giờ, trẫm sai ban hành đạo chiếu. Và ngày mai bắt đầu làm việc.
VŨ NHƯ TÔ - Xin phụng mệnh. Nhưng gông và xiềng xích này Hoàng thượng còn bắt tiện nhân đeo đến bao giờ?
LÊ TƯƠNG DỰC (ngần ngại) - Tháo cho mi, nhưng mi đừng phụ lòng trẫm.
VŨ NHƯ TÔ (nói to) - Hoàng thượng coi tiện nhân là người thế nào? Đại trượng phu một nhời đã hứa, dẫu nhảy vào đống lửa cũng không từ.
(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)
Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy.
Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?
Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?
Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc.
Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?
Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản trên.
Câu 1:
Bản sắc văn hoá dân tộc chính là "hồn cốt", là những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, hun đúc nên cốt cách và bản lĩnh của một quốc gia. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hoá lại càng trở nên cấp thiết và mang ý nghĩa sống còn. Khi thế giới trở nên "phẳng" và các nền văn hoá có sự giao thoa mạnh mẽ, nếu không giữ vững bản sắc, chúng ta rất dễ bị "hòa tan", đánh mất đi chính mình. Bản sắc dân tộc chính là "thẻ căn cước" để phân biệt dân tộc ta với các quốc gia khác, là "bộ lọc" thông minh giúp ta "hòa nhập mà không hòa tan". Khi có một nền tảng văn hoá vững chắc, ta mới đủ tự tin để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm cho nền văn hoá của mình, đồng thời loại bỏ những yếu tố ngoại lai, độc hại. Hơn nữa, đây còn là nguồn sức mạnh mềm, là niềm tự hào, là sợi dây kết nối cộng đồng, tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn để đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá không chỉ là trách nhiệm của quá khứ mà còn là chìa khóa cho tương lai.
Câu 2:
Nghệ thuật sinh ra là để làm đẹp cho tâm hồn con người, và mỗi tác phẩm nghệ thuật chân chính đều mang trong mình một sức hấp dẫn riêng biệt, một thông điệp thẩm mỹ sâu sắc. Trong vô vàn những tác phẩm đã từng đi qua tâm trí, bài hát "Để Mị nói cho mà nghe" của ca sĩ Hoàng Thùy Linh và nhóm sáng tác DTAP đã để lại trong tôi một ấn tượng không thể phai mờ. Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ đến từ giai điệu bắt tai, mà còn ở cách "làm mới" những giá trị văn học truyền thống một cách đầy sáng tạo và nhân văn.
Ngay từ khi ra mắt, "Để Mị nói cho mà nghe" đã tạo nên một hiện tượng, và sức hút đầu tiên phải kể đến chính là âm nhạc. Bài hát là sự kết hợp hoàn hảo giữa thể loại Pop, World Music hiện đại với những âm hưởng dân gian đặc trưng của vùng núi Tây Bắc. Tiếng sáo, tiếng khèn được phối một cách nhịp nhàng trên nền nhạc điện tử sôi động, tạo nên một tổng thể vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Giai điệu bài hát cực kỳ bắt tai, thôi thúc người nghe phải nhún nhảy theo. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp tác phẩm tiếp cận nhanh chóng và mạnh mẽ đến giới trẻ, những người luôn tìm kiếm sự mới mẻ trong âm nhạc. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở âm nhạc, "Để Mị nói cho mà nghe" sẽ khó lòng tạo được sức sống lâu bền đến vậy. Giá trị lớn nhất và cũng là sức hấp dẫn cốt lõi của tác phẩm nằm ở phần nội dung và hình ảnh. Lấy cảm hứng từ nhân vật Mị trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài, bài hát không kể lại bi kịch của Mị, mà là "viết tiếp" một khao khát, một hành trình "giải phóng" cho Mị. Nhân vật Mị trong bài hát không còn cam chịu, thụ động nữa; cô đã dám cất lên tiếng nói của mình ("Để Mị nói cho mà nghe"), dám vứt bỏ những ràng buộc của hủ tục ("Bao nhiêu con trâu, con bò/ Đổi lại một bó mỡ, một con lợn/ Mị cũng không cần"), để được sống với khát khao tự do, được "đi chơi" trong đêm tình mùa xuân.
Không chỉ giải phóng cho Mị, video âm nhạc (MV) của bài hát còn xây dựng cả một "vũ trụ văn học" khi đưa vào hình ảnh của Lão Hạc, chị Dậu, Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ... Tất cả họ đều được "Mị" kéo ra khỏi số phận bi thảm của mình để cùng hòa vào một lễ hội của niềm vui và sự tự do. Đây là một góc nhìn vô cùng hiện đại và nhân văn. Nó không phủ nhận hiện thực tàn khốc mà các nhà văn đã miêu tả, nhưng nó cho thấy một tinh thần lạc quan, một khát vọng sống mãnh liệt của con người Việt Nam: dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn hướng về ánh sáng.
Cuối cùng, sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" còn đến từ việc tôn vinh vẻ đẹp văn hoá Việt. Toàn bộ MV là một bức tranh rực rỡ sắc màu của thổ cẩm, của những điệu múa, những phiên chợ vùng cao. Tác phẩm đã thành công trong việc đưa chất liệu dân gian vào nghệ thuật đương đại, khiến văn hoá truyền thống trở nên gần gũi, "thời thượng" hơn trong mắt người trẻ. Nó chứng minh rằng, văn hoá dân tộc là một kho báu vô tận cho sáng tạo, chỉ cần chúng ta biết cách khai thác.
Sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" là sự cộng hưởng của giai điệu hiện đại, nội dung nhân văn và những giá trị văn hoá sâu sắc. Tác phẩm đã thành công khi vừa đáp ứng thị hiếu của công chúng, vừa thực hiện được sứ mệnh của nghệ thuật: khơi gợi những cảm xúc đẹp và lan toả niềm tự hào về văn hoá dân tộc.