(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Sống mòn
Tóm tắt: “Sống mòn” là cuốn tiểu thuyết của nhà văn hiện thực Nam Cao, viết trước Cách mạng tháng Tám về đề tài người trí thức tiểu tư sản. Nhân vật chính là Thứ − một thanh niên được học hành, có hoài bão, chí hướng. Sau khi lấy được bằng Thành chung, y vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Nhưng sau 3 năm, vì nghéo khó, bệnh tật, y phải về quê, chịu cảnh thất nghiệp. Rồi Thứ lên Hà Nội dạy ở một trường tư do Đích − anh họ đồng thời cũng là bạn của Thứ cùng vợ chưa cưới là Oanh mở ở ngoại thành Hà Nội. Cùng dạy với Thứ, Oanh còn có San. Cuộc sống của họ đều khó khăn. Thứ nhận thấy kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ, hoài bão và đẩy y cùng những người xung quanh đến cảnh “sống mòn”, trở nên ti tiện, nhỏ nhen. Nghỉ hè, Thứ về quê và phải đối mặt với những chuyện rắc rối của gia đình. Khi y quay trở lại Hà Nội thì trường phải đóng cửa vì thành phố luôn trong tình trạng báo động, Đích đang hấp hối trên giường bệnh,... Thứ đành trở về quê. Đoạn trích dưới đây là phần cuối của tiểu thuyết.
Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về một xó nhà quê. Con tàu chở y về. Y cưỡng lại làm sao, bởi vì y đang ở trên con tàu đó. Chiều hôm nay, về đến nhà, y sẽ bảo Liên rằng trường đã vỡ rồi, y hết kế sinh nhai, y sẽ ra đi, sẽ đi liều,… Liên sẽ vuốt tóc y, xoa đầu y, vỗ về y vào bảo rằng y sẽ chẳng đi đâu. Và y sẽ chẳng đi đâu... Ấy! Cái đời y là vậy! Y biết thế! Y nhu nhược quá, hèn yếu quá! Y không bao giờ cưỡng lại (...) Y chỉ để mặc con tàu mang đi.
Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần,... và bây giờ thì xa rồi, khuất hẳn rồi. Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao nhiêu đời nay đương đánh vật nhau với đất. Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao nhiêu người sống như y, không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới. Ấy thế mà trên đời này lại chẳng có cái gì tới hai lần. Sống tức là thay đổi...
Bên cạnh Thứ, một anh chàng nhà quê trẻ tuổi, mượn được tờ báo của một kẻ đồng hành, mở ra, ề à đọc cho mấy người nhà quê khác nghe chung. Thứ nhớ đến cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố tan nát! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn... đẹp đẽ hơn... Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ được hưởng những cái gì mình đáng hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?
(Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, 2005, tr.331-334)
Chú thích: Bằng Thành chung: Bằng cấp cho người thi đỗ hết cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, tương đương với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay.
Câu 1. Xác định điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là gì?
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích sau: Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!...
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích.
Câu 5. Nêu suy nghĩ của anh/ chị về một triết lí nhân sinh được rút ra từ văn bản?
Câu 1
Trong đoạn trích từ tiểu thuyết "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một điển hình bi kịch của người trí thức tiểu tư sản Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Thứ là người có học thức, từng ôm ấp những hoài bão lớn lao về sự nghiệp và khát vọng cống hiến cho xứ sở. Thế nhưng, hiện thực phũ phàng của xã hội cũ đã nghiền nát mọi ước mơ ấy. Bi kịch của Thứ không chỉ nằm ở sự nghèo đói, thất nghiệp mà đỉnh điểm là sự bế tắc tuyệt vọng khi buộc phải "lùi dần" về một xó nhà quê, đối diện với viễn cảnh "mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra" trong sự vô nghĩa. Nam Cao đã khắc họa thành công diễn biến tâm trạng phức tạp của Thứ: một mặt, y uất ức, phẫn nộ và khao khát thoát ly khỏi kiếp sống tù tày ; mặt khác, y lại nhu nhược, yếu hèn và cuối cùng chấp nhận buông xuôi số phận . Hình ảnh Thứ tự khinh bỉ chính mình cho thấy nỗi đau tột cùng của một nhân cách bị tha hóa. Qua nhân vật Thứ, Nam Cao đã đặt ra vấn đề nhức nhối về quyền sống, quyền làm người và sự đấu tranh để bảo vệ nhân phẩm của con người trong một xã hội đầy áp bức, bế tắc.
Câu 2
Trong hành trình tồn tại của mỗi con người, nếu trái tim là nhịp đập duy trì sự sống thể chất thì ước mơ chính là mạch nguồn nuôi dưỡng tinh thần, giữ cho tâm hồn luôn tươi trẻ. Bàn về vấn đề này, đại văn hào Gabriel Garcia Marquez đã có một nhận định sâu sắc: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”. Câu nói này không chỉ là một triết lý nhân sinh sâu sắc mà còn là lời nhắc nhở đanh thép dành cho mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng và theo đuổi hoài bão.
Ước mơ không phải là điều gì xa vời, viển vông, mà là mục tiêu, là khát vọng hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Câu nói của Marquez mang ý nghĩa nhắc nhở rằng tuổi tác sinh học không quyết định sự "già" hay "trẻ" của một người, mà chính ý chí, khát vọng và khả năng dấn thân mới là yếu tố cốt lõi. Một người dù đã cao tuổi nhưng vẫn ấp ủ dự định, vẫn miệt mài theo đuổi đam mê thì tâm hồn họ vẫn tràn đầy sức sống. Ngược lại, một thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, tràn đầy sức khỏe nhưng sống không mục đích, không hoài bão thì đã "già" ngay từ trong suy nghĩ, chấp nhận một kiếp sống mòn, vô nghĩa.
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất, sung sức nhất để gieo mầm và theo đuổi ước mơ. Ước mơ đóng vai trò như ngọn hải đăng soi đường, định hướng cho những hành động và quyết định của mỗi người. Khi có ước mơ, tuổi trẻ sẽ tìm thấy động lực to lớn để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Đó là sức mạnh phi thường giúp con người đứng dậy sau vấp ngã, kiên trì theo đuổi mục tiêu đến cùng. Chúng ta thường ngưỡng mộ những tấm gương khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng, những nhà khoa học miệt mài trong phòng thí nghiệm, hay những nghệ sĩ dấn thân vì nghệ thuật... Tất cả họ đều có điểm chung là một ước mơ cháy bỏng, một niềm tin mãnh liệt vào tương lai.
Thế nhưng, đáng buồn thay, trong xã hội hiện đại vẫn tồn tại không ít người trẻ sống trong sự thờ ơ, vô cảm với chính cuộc đời mình. Họ sống an phận, thiếu khát vọng, dễ dàng chấp nhận những gì cuộc sống ban tặng mà không hề đấu tranh. Đó là hiện thân của sự "già đi" mà Marquez đề cập. Kiểu sống này giống như hình ảnh nhân vật Thứ trong "Sống mòn" của Nam Cao, dù nhận thức được bi kịch của sự "sống mòn" nhưng lại thiếu bản lĩnh để "cưỡng lại" số phận, chỉ để mặc con tàu cuộc đời trôi dạt. Sống không ước mơ, hoài bão, con người trở nên nhỏ bé, tầm thường và dễ bị nhấn chìm bởi những cám dỗ, khó khăn nhất thời.
Để không "già đi" trước tuổi, mỗi người trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân đối với cuộc đời mình. Chúng ta phải dám ước mơ những điều lớn lao, nhưng cũng phải biết biến ước mơ thành những mục tiêu hành động cụ thể, thiết thực. Việc nuôi dưỡng ước mơ đòi hỏi sự kiên trì, nỗ lực không ngừng và một tinh thần lạc quan, sẵn sàng đối mặt với thất bại.
Tóm lại, câu nói của Gabriel Garcia Marquez là một chân lý vĩnh cửu về ý nghĩa của ước mơ trong cuộc sống. Tuổi trẻ sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu đi khát vọng và hoài bão. Giữ được ước mơ chính là giữ được ngọn lửa nhiệt huyết của tuổi thanh xuân trong tâm hồn. Hãy sống trọn vẹn từng ngày, không ngừng theo đuổi ước mơ để mỗi chúng ta đều có một cuộc đời rực rỡ, ý nghĩa, không bao giờ phải hối tiếc vì đã "già đi" khi còn quá trẻ.
Câu 1 :
Nhân vật Thứ trong Sống mòn là một hình ảnh bi kịch điển hình cho người nông dân trước Cách mạng, hiện thân của sự "sống mòn" đến tàn lụi. Bỏ quê hương, vợ con lên Hà Nội dạy học với hoài bão đổi đời, Thứ nhanh chóng vỡ mộng trước gánh nặng cơm áo gạo tiền, cuộc sống nghèo khổ, bế tắc ở trường tư thục. Anh chấp nhận số phận, cam chịu, nhu nhược, không dám đấu tranh, chỉ biết nhìn cảnh vợ con cực khổ mà không có cách nào thay đổi, chỉ còn lại sự cay đắng và bất lực. Tuy nhiên, trong tâm hồn Thứ vẫn le lói chút tình người, tình yêu thương vợ con, khát vọng nhỏ nhoi về hạnh phúc gia đình, điều này càng làm nổi bật bi kịch và giá trị nhân văn sâu sắc, khiến người đọc xót thương và lên án xã hội bất công đã vùi dập con người.
Câu 2 :