K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với Cần gấp trong tối nay ạ Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá đoạn văn sau:“Yêu tháng chạp không biết bao nhiêu, nhưng yêu nhất là những ngày giáp tết, thời tiết sao mà đĩ thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế, lời nói, tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế.Tôi yêu hết và tôi nói là tôi yêu hết; yêu...
Đọc tiếp

Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với Cần gấp trong tối nay ạ

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá đoạn văn sau:

“Yêu tháng chạp không biết bao nhiêu, nhưng yêu nhất là những ngày giáp tết, thời tiết sao mà đĩ thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế, lời nói, tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế.

Tôi yêu hết và tôi nói là tôi yêu hết; yêu ngọn cỏ gió đùa, mây trôi lãng đãng, ngọn núi đồi sim, nhựa cây mạch đất, yêu con sâu cái kiến nằm co ro trong tổ bấy giờ trỗi lên tìm lá mới hoa non, yêu cô gái mặc quần lĩnh hoa chanh lại cài một cánh hoa hồng trên mái tóc, yêu con bướm đa tình bay lượn trên giàn hoa thiên lí, cái áo nhung xanh nổi bật lên trong vườn quýt đỏ, cam vàng, trông mới lại càng yêu những giọt mưa bé tỉ ti đọng lại trên nhung mướt làm cho người đẹp óng a óng ánh như thiên thần trong mộng. Cũng may mà cứ vào tháng chạp, ở đây, thỉnh thoảng lại có những đêm xanh gió thổi hiu hiu làm cho người thức khuya cảm thấy da tê tê, lành lạnh mà nghe như thấy tết đến xuân về trước ngõ nên cũng nguôi ngoai được phần nào, chớ cứ nắng chói chan, khô héo liền liền thi chỉ thương nhớ mà héo hắt đi, sống làm sao cho nổi.

Tết ở đây thiếu gì vải lụa của Thái Lan, Đại Hàn, thiếu gì đồ ăn thức uống của Nhật, của Mỹ, thiếu gì trái ngon, gái đẹp “lô can”, nhưng cơn cớ làm sao mỗi khi có sự giao tiễn đôi mùa thì lòng lại hướng về quê cũ xa xưa, mơ lại ngày nào cùng vợ đi mua đôi ba chậu cúc vàng, quất đỏ, rồi về ăn quấy quá cho xong để lại đi ù lên Ngọc Hà mua mấy cánh mẫu đơn về để cắm bình, không quên vài tấm giấy đỏ để gói tiền mở hàng cho trẻ, một chai Mai Quế Lộ hay Sử Quốc Công, hai vợ chồng đi dưới mưa riêu riêu dặn nhau phải nhớ mua một hộp trà Thiết Quan Âm vỏ thiếc và xẻ vài chai rượu nếp cẩm hạ thổ từ tháng tám!

Nhớ lại như thế thì quên làm sao được vào những ngày hai mươi bốn, hai mươi lăm vợ thức từ bốn năm giờ sáng, khoác một cái áo lạnh trên mình ngồi giữa sập sắp xếp các món đồ đem đi biếu tết những bạn bè thân thiết. Đó là cả một vấn đề phức tạp: hộp trà Thiết Quan Âm vỏ thiếc để biếu ông Long đã đành rồi, nhưng ông Luận hôm qua đã cho rượu, chả lẽ mình lại biếu rượu nữa, thôi hay là biếu cân mứt và chục cam Xã Đoài. Hộp kẹo này đưa sang bác Thanh Châu; chị Sen ơi, hai hộp trà mạn sen tự tay mợ ướp đây là để dành cho ông Chung, ông Chước; nhưng đến Nguyễn Dân Giám thì quả là khó nghĩ. Hôm hai mươi ba mới rồi, để đánh dấu tập “Dưới rặng thông” in làm phụ bản số tết, anh ta sai người làm đội một cái quả to bằng cái nia từ Hàng Cân đến Hàng Da, đầy đủ bún thang, chả quế, giò lụa, nước xuýt, bào ngư, hầu sì, cuốn; bây giờ biết đem biếu gì đây? Ấy, chỉ có thế mà nghĩ mãi không biết làm ăn ra thế nào.”

( Trích chương 12, “Thương nhớ mười hai’ Vũ Bằng, NXB Văn Học, Hà Nội,1993)

1
22 tháng 5 2025

A. Đề nghị 1: Viết bài nghị luận phân tích, đánh giá đoạn trích “Yêu tháng chạp…” (Vũ Bằng)

Đề bài:
“Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá đoạn văn sau:

“Yêu tháng chạp không biết bao nhiêu, nhưng yêu nhất là những ngày giáp tết, thời tiết sao mà đĩ thế,… (đến hết) …chỉ có thế mà nghĩ mãi không biết làm ăn ra thế nào.”

(Trích “Thương nhớ mười hai”, Vũ Bằng)

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả – tác phẩm: Vũ Bằng (1913–1984) là một trong những cây bút bậc thầy về bút ký và truyện ngắn miền Bắc trước 1954. Tác phẩm “Thương nhớ mười hai” là tập bút ký ca ngợi trọn vẹn không khí cuối năm, đặc biệt là Tết cổ truyền.
  • Dẫn dắt nội dung đoạn trích: Đoạn trích “Yêu tháng chạp…” thể hiện nỗi nhớ, niềm yêu tháng Chạp của người viết, qua đó gợi lên cả một bức tranh phong phú về tâm trí và văn hóa Tết.
  • Luận điểm: Bài nghị luận sẽ phân tích ngôn từ giàu hình ảnh, tình cảm thiết tha; đồng thời đánh giá giá trị nghệ thuật và ý nghĩa sâu sắc mà đoạn trích đem lại.

II. Thân bài

  1. Phong cách ngôn ngữ và cú pháp
    • Ngôn từ giàu hình tượng, đối lập tinh tế:
      • “Tháng chạp” được nhân hóa: “thời tiết sao mà dị thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế… lời nói, tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế.” → gợi lên cảm giác “ngày giáp tết” sinh động, ấm áp.
      • Hàng loạt các hình ảnh đối lập: “ngọn cỏ gió đùa” – “ngọn núi đồi sim/ nhựa cây mạch đất”, “con sâu cái kiến nằm co ro trong tổ bấy giờ trỗi lên tìm lá mới hoa non” → thiên nhiên đang hồi sinh, như thôi thúc lòng người.
    • Câu văn dài, liền mạch, dùng dấu phẩy nối liên tiếp: Lối liệt kê liên tục (enumeration) giúp thể hiện đủ mọi góc nhìn về Tháng Chạp: thiên nhiên, con người, phong tục, thực phẩm, quà biếu.
    • Những chi tiết rất đời thường, giàu chất bút ký: từ “cây sim”, “mây trôi lãng đãng”, “cô gái mặc quần lĩnh hoa chanh”… cho đến “một chai Mai Quế Lộ hay Sử Quốc Công”, “hộp trà Thiết Quan Âm”, “chai rượu nếp cẩm hạ thổ từ tháng tám”… → gợi đủ giác quan: thị giác, khứu giác, vị giác…
  2. Những tầng ý nghĩa hiện lên trong đoạn trích
    • Tình yêu đất trời, người và vạn vật:
      • Người viết tỏ ra yêu “ngọn cỏ gió đùa, mây trôi”, “cây sim”, “con sâu cái kiến” … cho thấy một tình yêu hết thảy mọi vật nhỏ bé. Đó là tình yêu “vạn vật đồng cảm” của bút ký.
      • Khi nhắc đến “cô gái mặc quần lĩnh hoa chanh rải trên mái tóc” hay “con bướm đa tình bay lượn” lại là tình yêu con người, tình yêu cuộc sống đậm vị xuân.
    • Nỗi nhớ quê cũ, khát vọng sum họp, hướng về cội nguồn:
      • Dù “Tết ở đây thiếu gì vải lụa của Thái Lan, Đại Hàn, thiếu gì đồ ăn thức uống của Nhật, của Mỹ…” nhưng tâm hồn vẫn luôn “hướng về quê cũ xa xưa”.
      • Hình ảnh “đi mua đôi ba chậu cúc vàng, quất đỏ, rồi về ăn quấy quá cho xong” thể hiện phong tục Tết Bắc Bộ mộc mạc, đượm tình.
      • “Mua mấy cánh mẫu đơn cắm bình, không quên vài tấm giấy đỏ để gói tiền mở hàng cho trẻ, một chai Mai Quế Lộ hay Sử Quốc Công, hai vợ chồng đi dưới mưa riêu riêu…” → đều là những kỷ niệm không thể nào quên giữa “đời sống đô thị” và “chút xưa”.
    • Thói biếu xén, lễ nghĩa ngày Tết:
      • Tâm điểm là cuộc tính toán những món quà biếu: “hộp trà Thiết Quan Âm biếu ông Long… ông Luận đã cho rượu, chả lẽ lại biếu rượu nữa? Hay biếu cân mứt, chục cam Xã Đoài?”
      • “Đến Nguyễn Dân Giám thì quả là khó nghĩ…” cho thấy cả một mạng lưới lễ nghĩa phức tạp, dẫu người viết biết rằng một phần chỉ là “giao tiễn đôi mùa” nhưng vẫn không thể nào giản tiện.
      • Qua đó, vừa châm biếm, đồng thời thấu hiểu “văn hóa biếu tặng” trong những ngày Tết – vừa tự hào vừa rơm rớm khó xử.
  3. Giá trị nghệ thuật
    • Giọng văn thành thật, mộc mạc mà sâu sắc: Dường như tác giả chỉ chép lại tường tận những gì mắt thấy, tai nghe, mùi ngửi, mùi vị… mà không tô vẽ cầu kỳ, một “dòng bút ký” đúng nghĩa.
    • Nhịp điệu cảm xúc nhịp nhàng: Đoạn mở đầu là niềm yêu vô tận với “tháng chạp” và thiên nhiên, chuyển dần sang ký ức nhớ quê, cuối cùng lắng xuống với những trăn trở lễ nghĩa. Nhịp cảm xúc ấy như bản hòa ca của tâm hồn nhà văn, biểu cảm rất linh hoạt.
    • Hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu tính gợi: Từng chi tiết “quan trọng” cho đến “nhỏ xíu” đều được khắc họa tỉ mỉ: “giấy đỏ”, “hộp trà Thiết Quan Âm vỏ thiếc”, “chai rượu nếp cẩm hạ thổ”... Chỉ cần đọc tên món ăn, món quà, người Hà Nội đủ “cảm” ra cái không khí sắp Tết thân thuộc.
  4. Đánh giá
    • Tác phẩm có sức gợi mạnh về tâm thái con người cuối năm: Đọc đến đâu, người ta như ngửi được mùi gió lạnh, nghe được tiếng rao quất, tiếng cười bà con.
    • Đoạn trích vừa ca ngợi vừa phê phán tinh tế:
      • Ca ngợi vẻ đẹp nhịp sống Tết, tình yêu thiên nhiên, tình người.
      • Phê phán nhẹ nhàng những lề thói biếu xén, tốn kém vô ích, khiến người ta cảm thấy “không biết làm ăn ra sao”.
    • Chính sự giao thoa giữa ca ngợi và châm biếm tinh tế đã làm nên sức sống lâu bền cho bút ký của Vũ Bằng.

III. Kết bài

  • Khẳng định giá trị nghệ thuật và tư tưởng: Đoạn trích cho thấy tình yêu thiên nhiên, nỗi nhớ gia đình và cách nhìn tinh tế, hài hước về phong tục Tết.
  • Nêu cảm nhận của bản thân: “Với tôi, đọc Vũ Bằng là cảm nhận được một không khí Tết rất ấm áp, vừa hoài cổ, vừa thức tỉnh về những giá trị truyền thống.”
Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với Phân tích vẻ đẹp khu vườn An Hiên và cái  “tôi”  của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện qua đoạn trích sau:(…) Vào hạ, sự chuyển dịch của trời đất như chùng lại trên cây cối; vẻ bay bướm xuân thì đã qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong mầu lục trầm trầm của lá già. Vườn lá không đẹp, dù...
Đọc tiếp

Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với 

Phân tích vẻ đẹp khu vườn An Hiên và cái  “tôi”  của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện qua đoạn trích sau:

(…) Vào hạ, sự chuyển dịch của trời đất như chùng lại trên cây cối; vẻ bay bướm xuân thì đã qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong mầu lục trầm trầm của lá già. Vườn lá không đẹp, dù vậy, nó chưa bao giờ làm cho tôi chán mắt; bởi nó toát ra khí mạnh của nhựa cây, và trong những ổ lá rậm rịt kia, các loại trái đang lớn lên dưới sức nóng hun đúc. Hạ chí trở đi, vườn An Hiên vào mùa quả, khởi đầu là mùa thơm (dứa): giống thơm Nguyệt Biều vỏ chín đỏ như lửa cắt ra từng lát tròn to vừa lòng cái đĩa bàn, vàng rệu mầu mật ong, tưởng chừng có cô gái nào đó ở trong cây đã làm sẵn hoàn chỉnh một chiếc bánh kem sinh nhật. Dâu chín vào tháng năm, tháng sáu. Cây dâu Truồi ở vườn bà Lan Hữu rất đẹp, tán lá khum khum úp sát mặt đất kín mít, bên trong rỗng, trái chín vàng hươm từng chuỗi dài đổ úp thành đống quanh gốc cây. Nhìn đống quả đầy ứ như là ai đã hái sẵn đổ ra kia, tôi chợt mỉm cười với một ý nghĩ lạ lùng: giả như đời chẳng còn nhiệm vụ gì, tôi sẽ trải một tấm chiếu nhỏ dưới vòm lá kín đáo kia, nằm đó đọc sách ăn dâu. Suốt mùa hè. (…). Cây thanh long đặc sản nổi tiếng vùng Nha Trang, có lẽ là giống cây hiền lành nhất trong vườn: thân nhánh dài ngoằng nằm ún đống trên chạc cây mức trông như một đống dây chão; trồng một lần rồi chẳng bao giờ cần ngó lại, nó sống như một vật bỏ quên sau vườn, đến mùa lại cho con người hoa trái. Cây xấu xí mà hoa đẹp thế, hoàn toàn giống hoa quỳnh, cũng nở và tàn trong một đêm nên nhiều khi muốn ngắm hoa, bà Lan Hữu đã phải thắp đèn ra vườn lúc nửa đêm. Trái Thanh Long màu cánh sen chín vào những ngày nóng nhất của mùa hè, ruột trong như bột lọc, làm mát và khỏe người; ấy là món quà hảo tâm của thiên nhiên dành cho người làm vườn (...)

                   (Trích Hoa trái quanh tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Chú thích:

 “Hoa trái quanh tôi” là bài bút kí được Hoàng Phủ Ngọc Tường đăng trên Tạp chí Sông Hương, số 3, tháng 10-1983. Ở Huế, Bà Lan Hữu có một khu vườn rất đẹp gọi là An Hiên. Tác giả là người quen thân với bà Lan Hữu, thường xuyên tới khu vườn chơi và ghi lại những cảm nhận của mình về vẻ đẹp của khu vườn xuyên suốt bốn mùa trong năm. Đoạn trích trên là cảm nhận của tác giả về các loài hoa trong khu vườn An Nhiên vào mùa hạ.

 

1
22 tháng 5 2025

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả: Hoàng Phủ Ngọc Tường (1936–2022) là cây bút bút ký – du ký nổi tiếng, dành nhiều tình cảm cho vùng đất Huế, đặc biệt các khu vườn xứ Huế.
  • Giới thiệu tác phẩm – đoạn trích: “Hoa trái quanh tôi” là bút ký ghi lại cảm nhận của tác giả về khu vườn An Hiên ở Huế, nơi bà Lan Hữu trồng nhiều cây trái quý hiếm. Đoạn trích trân trọng vẻ đẹp mùa hạ: “Vườn lá không đẹp… nhưng toát ra khí mạnh của nhựa cây…”, “Hạ chí trở đi, vườn An Hiên vào mùa quả…”.
  • Luận điểm: Bài nghị luận sẽ phân tích hai nội dung chính:
    1. Vẻ đẹp riêng biệt, trầm mặc của khu vườn An Hiên khi vào mùa hạ.
    2. Cái “tôi” nhà văn – giàu tình yêu thiên nhiên, tinh tế, đồng cảm và chở che cho vườn cây.

II. Thân bài

  1. Vẻ đẹp khu vườn An Hiên vào mùa hạ
    1. Không khí “chùng lại” của trời đất
      • Đầu đoạn, tác giả viết: “Vào hạ, sự chuyển dịch của trời đất như chùng lại trên cây cối; vẻ bay bướm xuân thì đã qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong màu lục trầm trầm của lá già.”
      • Hình ảnh “chùng lại” gợi ra nhịp sống chậm rãi của mùa hè xứ Huế; màu “lục trầm trầm” của lá già không còn rực rỡ mùa xuân, nhưng toát lên sự trầm tĩnh, khoáng đạt.
    2. Sức sống mạnh mẽ của nhựa cây
      • “Vườn lá không đẹp, dù vậy, nó chưa bao giờ làm cho tôi chán mắt; bởi nó toát ra khí mạnh của nhựa cây…”
      • Diễn đạt tuy thẳng thắn (“không đẹp”), nhưng tác giả luôn tìm thấy sự “mạnh mẽ” ẩn chứa trong “nhựa cây”: đây là vẻ đẹp không nhìn thấy ngay bề ngoài mà phải cảm nhận bằng lòng say mê thiên nhiên.
    3. Sự đa dạng của trái chín trong vườn
      • “Hạ chí trở đi, vườn An Hiên vào mùa quả, khởi đầu là mùa thơm (dứa):… Giống thơm Nguyệt Biều vỏ chín đỏ như lửa, vàng rượu màu mật ong… như một chiếc bánh kem sinh nhật.”
      • Hình ảnh so sánh rất sáng tạo: “dứa đỏ như lửa, vàng rượu như mật ong”, “chiếc bánh kem sinh nhật” gợi liên tưởng tới sự ngọt ngào, sung túc.
      • “Dâu chín vào tháng năm, tháng sáu… cây dâu Truồi… trái chín vàng hươm từng chuỗi dài đổ úp thành đống quanh gốc cây.”
        • Màu vàng “hươm” của dâu Truồi là nét độc đáo ở Huế. Hình ảnh “đổ úp thành đống” nhấn mạnh độ no đủ, cho người xem cảm giác ấm no, sung túc.
      • “Cây thanh long đặc sản nổi tiếng vùng Nha Trang, có lẽ là giống cây hiền lành nhất trong vườn… đến mùa lại cho con người hoa trái.”
        • Dù “thân nhánh dài ngoằng nằm úp dưới gốc cây”, “cây xấu xí mà hoa đẹp thế” rồi “trái thanh long… màu cánh sen… ruột trong như bột lọc, mát và khỏe người” → thiên nhiên cung cấp “món quà hảo tâm” cho người vườn.
    4. Cảm giác “tôi” muốn hòa vào vườn
      • “Nhìn đống quả đầy ứ như là ai đã hái sẵn đổ ra kia, tôi chợt mỉm cười với một ý nghĩ lạ lùng: giả như đời chẳng còn nhiệm vụ gì, tôi sẽ trải một tấm chiếu nhỏ dưới vòm lá… nằm đó đọc sách ăn dâu. Suốt mùa hè.”
      • Khát khao “đóng băng thời gian” để tận hưởng khoảnh khắc thiên nhiên ban tặng, thể hiện tâm hồn nhà văn hoàn toàn hòa nhập, an nhiên, thư thái.
  2. Cái “tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
    1. Cái “tôi” biết thưởng thức và đồng cảm sâu sắc
      • Dù anh khẳng định “vườn lá không đẹp” nhưng ngay lập tức cho thấy mình vẫn say mê: “nó chưa bao giờ làm cho tôi chán mắt; bởi nó toát ra khí mạnh…” → thể hiện thái độ “nhìn sâu hơn vẻ bề ngoài”, rất giàu cảm xúc và thẩm mỹ.
      • Anh tìm thấy “thơm Nguyệt Biều”… “cây dâu Truồi”… “cây thanh long” không chỉ là trái ngon mà còn là biểu tượng của văn hóa và phong tục địa phương. Cái “tôi” trân trọng giá trị bản địa.
    2. Cái “tôi” giàu tưởng tượng, lãng mạn
      • Gợi lên hình ảnh “chiếc bánh kem sinh nhật” giữa vườn dứa, hay tưởng tượng “nằm đó đọc sách ăn dâu suốt mùa hè”.
      • Dùng liên tưởng lãng mạn để mô tả mùi vị, màu sắc, không ngại “bẻ khung” thực tại để gợi ra ước vọng ít lo toan.
    3. Cái “tôi” biết trân trọng thiên nhiên như người bạn
      • Cách gọi “món quà hảo tâm của thiên nhiên dành cho người làm vườn” cho thấy tác giả xem thiên nhiên là đối tượng quan tâm, trân trọng và “quà tặng” thật sự.
      • Tình cảm gắn bó lâu dài với khu vườn An Hiên (qua bút ký đăng trên “Sông Hương” 1983) chứng tỏ đây không phải “nhất thời” mà là “món khoái khẩu” của tâm hồn anh.
    4. Cái “tôi” bình dị, chân thành
      • Không khoa trương, không tô vẽ quá mức mà tả từng chi tiết: “thân nhánh dài ngoằng nằm ún đống”, “trồng một lần rồi chẳng cần ngó lại”…
      • Cách kể chân chất, như chia sẻ với bạn bè chứ không phải “viết để khoe”.

III. Kết bài

  • Khẳng định: Đoạn trích đã khắc họa chân thực vẻ đẹp trầm mặc, phong phú của khu vườn An Hiên vào mùa hạ, và đồng thời làm nổi bật cái “tôi” giàu tình yêu thiên nhiên, nhạy cảm và giàu tưởng tượng của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
  • Cảm nhận cuối cùng: Qua bút ký này, người đọc không chỉ thấy một bức tranh thực vật mỹ miều mà còn cảm nhận được tiếng lòng người viết – tiếng lòng của một kẻ yêu vườn cây, yêu đời sống thuần khiết miền Trung.
16 tháng 4 2025

Một trận bóng đá tôi từng theo dõi và không thể nào quên, là trận đấu giữa hai đội tuyển hàng đầu trong một kỳ World Cup. Ngay từ những phút đầu tiên, không khí sân cỏ đã tràn ngập sự kịch tính. Các cầu thủ bước ra sân trong ánh sáng rực rỡ, dưới tiếng hò reo không ngớt của hàng nghìn khán giả. Mỗi bước chạy, mỗi động tác của họ đều đầy quyết tâm và nhiệt huyết.

Hiệp 1 diễn ra với tốc độ chóng mặt. Những pha chuyền bóng nhanh như tia chớp, cú sút cận thành nguy hiểm làm khán giả nín thở chờ đợi. Bất ngờ, phút thứ 30, một tiền đạo tài năng đã phá vỡ hàng phòng ngự chắc chắn của đối phương, ghi bàn mở tỷ số với cú sút mạnh mẽ như sấm sét. Tiếng cổ vũ từ khán giả vang vọng khắp khán đài như một cơn sóng lớn.

Hiệp 2, trận đấu càng trở nên gay cấn hơn. Đội còn lại không chịu khuất phục, họ tổ chức tấn công với những đường bóng đầy tính toán. Đến phút cuối cùng, tưởng chừng trận đấu sẽ kết thúc với tỷ số 1-0, thì bất ngờ xảy ra. Một cầu thủ từ đội yếu thế tung cú sút xa xuất thần, đưa bóng găm thẳng vào góc chữ A của khung thành, san bằng tỷ số. Tiếng vỗ tay, la hét vang lên như pháo hoa ngày lễ hội.

Kết thúc trận đấu, cả hai đội đều nhận được sự cổ vũ nhiệt tình từ người hâm mộ. Mặc dù trận đấu chỉ là một cuộc chơi, nhưng tinh thần đoàn kết, sự cố gắng và ý chí mạnh mẽ của các cầu thủ đã truyền cảm hứng cho hàng triệu trái tim yêu thể thao trên toàn thế giới. Một khoảnh khắc khó quên không chỉ với tôi mà với cả những người đã chứng kiến nó.

16 tháng 4 2025

máy trl hả

nhanh v

22 tháng 5 2025
  • Nội dung chính
    • Bốn câu ngắn gọn nhưng chắt lọc tư tưởng: mỗi người sinh ra đều có “mục đích cuối cùng” – tương đương “con đường đích thực” mà ta theo đuổi.
    • “Thành công – thất bại cũng chỉ là một ranh giới” nhấn mạnh rằng ranh giới giữa hai khái niệm này rất mong manh, đôi khi chỉ do bản thân ta quyết định.
    • “Có người chơi vơi, cũng có người đi đến nơi” vừa diễn tả thực tế: có người vẫn lạc lối, chưa tìm ra mục đích, nhưng cũng có người đã chạm tới ước mơ, đến được nơi mình hướng đến.
  • Thông điệp và giá trị truyền tải
    • Khích lệ sự kiên định: Mỗi người cần xác định rõ “mục đích cuối cùng” để đời không rơi vào vô định.
    • Thành công – thất bại không tuyệt đối: Nếu ta coi thất bại là chấm hết, thì khó có thể bước tiếp được. Nhưng nếu nhìn vào mục đích lớn hơn, thất bại chỉ là một dấu mốc, một “ranh giới” nhỏ.
    • Khích lệ hành động: Hãy “biết đi đến nơi”, đừng để mình “chơi vơi” mãi. Bởi biết đâu, chỉ một bước ngoặt, một thái độ, hay một quyết tâm nhỏ có thể đưa ta từ “chơi vơi” tới “đến nơi”.
  • Cảm nhận cá nhân
    • Tôi rất đồng cảm với quan điểm “thành công và thất bại chỉ là một ranh giới”. Trong thực tế, sự khác biệt giữa hai khái niệm ấy thường chỉ là thái độ và tinh thần vươn lên.
    • Câu “có người chơi vơi, cũng có người đi đến nơi” gợi nhắc ta đừng đứng yên chờ thành công, mà phải tự ý thức mình đang ở đâu để định hướng cho đúng.
    • Khi tôi còn học cấp hai, từng gặp nhiều khó khăn trong học tập. Nhưng nhờ xác định được “mục đích cuối cùng” (muốn thi đỗ cấp ba nguyện vọng một, vào trường chuyên), tôi đã không bỏ cuộc, dù nhiều lần điểm số chao đảo. Chính khi đó, tôi hiểu rằng chính ý chí mới là thứ “ranh giới” giữ ta khỏi thất bại.
  • Kết luận
    • Đoạn văn/câu hát ngắn nhưng có sức khích lệ mạnh mẽ:
      • Nhắc ta “nhìn thẳng” vào mục đích.
      • Nhắc ta “đừng bị thất bại đánh gục” mà hãy coi đó là bước đệm.
      • Nhắc ta “đừng để mình chơi vơi”, phải kiên trì bước về phía trước.
Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với Mình cần trong tối nay ạ Phân tích vẻ đẹp khu vườn An Hiên và cái  “tôi”  của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện qua đoạn trích sau:(…) Vào hạ, sự chuyển dịch của trời đất như chùng lại trên cây cối; vẻ bay bướm xuân thì đã qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong mầu lục trầm trầm của lá già....
Đọc tiếp

Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với 

Mình cần trong tối nay ạ

Phân tích vẻ đẹp khu vườn An Hiên và cái  “tôi”  của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện qua đoạn trích sau:

(…) Vào hạ, sự chuyển dịch của trời đất như chùng lại trên cây cối; vẻ bay bướm xuân thì đã qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong mầu lục trầm trầm của lá già. Vườn lá không đẹp, dù vậy, nó chưa bao giờ làm cho tôi chán mắt; bởi nó toát ra khí mạnh của nhựa cây, và trong những ổ lá rậm rịt kia, các loại trái đang lớn lên dưới sức nóng hun đúc. Hạ chí trở đi, vườn An Hiên vào mùa quả, khởi đầu là mùa thơm (dứa): giống thơm Nguyệt Biều vỏ chín đỏ như lửa cắt ra từng lát tròn to vừa lòng cái đĩa bàn, vàng rệu mầu mật ong, tưởng chừng có cô gái nào đó ở trong cây đã làm sẵn hoàn chỉnh một chiếc bánh kem sinh nhật. Dâu chín vào tháng năm, tháng sáu. Cây dâu Truồi ở vườn bà Lan Hữu rất đẹp, tán lá khum khum úp sát mặt đất kín mít, bên trong rỗng, trái chín vàng hươm từng chuỗi dài đổ úp thành đống quanh gốc cây. Nhìn đống quả đầy ứ như là ai đã hái sẵn đổ ra kia, tôi chợt mỉm cười với một ý nghĩ lạ lùng: giả như đời chẳng còn nhiệm vụ gì, tôi sẽ trải một tấm chiếu nhỏ dưới vòm lá kín đáo kia, nằm đó đọc sách ăn dâu. Suốt mùa hè. (…). Cây thanh long đặc sản nổi tiếng vùng Nha Trang, có lẽ là giống cây hiền lành nhất trong vườn: thân nhánh dài ngoằng nằm ún đống trên chạc cây mức trông như một đống dây chão; trồng một lần rồi chẳng bao giờ cần ngó lại, nó sống như một vật bỏ quên sau vườn, đến mùa lại cho con người hoa trái. Cây xấu xí mà hoa đẹp thế, hoàn toàn giống hoa quỳnh, cũng nở và tàn trong một đêm nên nhiều khi muốn ngắm hoa, bà Lan Hữu đã phải thắp đèn ra vườn lúc nửa đêm. Trái Thanh Long màu cánh sen chín vào những ngày nóng nhất của mùa hè, ruột trong như bột lọc, làm mát và khỏe người; ấy là món quà hảo tâm của thiên nhiên dành cho người làm vườn (...)

                   (Trích Hoa trái quanh tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Chú thích:

 “Hoa trái quanh tôi” là bài bút kí được Hoàng Phủ Ngọc Tường đăng trên Tạp chí Sông Hương, số 3, tháng 10-1983. Ở Huế, Bà Lan Hữu có một khu vườn rất đẹp gọi là An Hiên. Tác giả là người quen thân với bà Lan Hữu, thường xuyên tới khu vườn chơi và ghi lại những cảm nhận của mình về vẻ đẹp của khu vườn xuyên suốt bốn mùa trong năm. Đoạn trích trên là cảm nhận của tác giả về các loài hoa trong khu vườn An Nhiên vào mùa hạ.

1
16 tháng 4 2025

1. Giới thiệu về đoạn trích và khu vườn An Hiên

Đoạn trích trong bài bút ký "Hoa trái quanh tôi" của Hoàng Phủ Ngọc Tường khắc họa vẻ đẹp của khu vườn An Hiên vào mùa hạ. Đây là một khu vườn nổi tiếng ở Huế, được bà Lan Hữu chăm sóc tỉ mỉ và là nơi tác giả thường xuyên lui tới, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và ghi lại những suy tư, cảm xúc về vườn tược, về sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Qua đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mô tả vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện cái "tôi" – cái nhìn riêng biệt, đầy chất thơ và trữ tình của tác giả đối với cảnh vật.

2. Vẻ đẹp khu vườn An Hiên qua sự miêu tả của tác giả

Ngay từ câu đầu tiên, tác giả đã sử dụng hình ảnh thiên nhiên mùa hạ để đưa người đọc vào không gian của khu vườn An Hiên. Mùa hạ được mô tả với sự chuyển dịch của trời đất "chùng lại trên cây cối", không còn sự tươi mới, rộn ràng của mùa xuân mà thay vào đó là sắc xanh trầm của lá già, tạo nên một không gian yên tĩnh, đằm thắm. Tác giả nhận xét rằng "vườn lá không đẹp", nhưng lại không khiến người đọc cảm thấy chán ngán. Điều này thể hiện sự gần gũi của tác giả với thiên nhiên, dù có sự thay đổi trong màu sắc của lá cây, nhưng cái "hồn" của vườn vẫn ẩn chứa trong đó – khí mạnh của nhựa cây, sức sống mãnh liệt dù không được khoác lên mình lớp áo rực rỡ.

Khi mùa quả đến, khu vườn An Hiên lại khoác lên mình những màu sắc tươi mới. Đặc biệt là dứa, loại quả đầu tiên được nhắc đến trong đoạn trích. Tác giả mô tả quả dứa Nguyệt Biều với vỏ "chín đỏ như lửa", màu sắc rực rỡ của quả như một chiếc bánh kem sinh nhật do "cô gái nào đó" đã chuẩn bị sẵn trong cây, làm nổi bật sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Vẻ đẹp của quả dứa không chỉ là ở hình thức mà còn là sự liên tưởng tinh tế của tác giả, khi mà hình ảnh chiếc bánh kem sinh nhật gợi lên sự ngọt ngào và ấm áp.

Cùng với dứa, cây dâu cũng được mô tả với vẻ đẹp mộc mạc nhưng rất ấn tượng. Cây dâu Truồi có tán lá "khum khum úp sát mặt đất", trái dâu "chín vàng hươm" tạo thành những "chuỗi dài đổ úp thành đống quanh gốc cây", giống như những quả dâu đã được hái sẵn, tạo nên một khung cảnh bình yên, tĩnh lặng. Sự miêu tả về cây dâu không chỉ là sự thể hiện vẻ đẹp của nó mà còn là sự liên tưởng của tác giả tới những kỷ niệm, những ước mơ nhỏ nhặt: "giả như đời chẳng còn nhiệm vụ gì, tôi sẽ trải một tấm chiếu nhỏ dưới vòm lá kín đáo kia, nằm đó đọc sách ăn dâu". Đây là khoảnh khắc tác giả thả mình vào thiên nhiên, tận hưởng sự bình yên mà vườn tược đem lại.

Cây thanh long – đặc sản của Nha Trang – là loài cây "xấu xí" nhưng lại có hoa đẹp, nở vào đêm, giống như hoa quỳnh. Sự miêu tả về thanh long cũng đầy ẩn dụ, khi tác giả nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ ngoài "xấu xí" của cây và vẻ đẹp lạ lùng của hoa. Điều này có thể được hiểu như một sự khẳng định rằng vẻ đẹp thật sự đôi khi không nằm ở ngoại hình, mà là ở nội dung bên trong – một triết lý sống sâu sắc của tác giả.

3. Cái "tôi" của Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện qua đoạn trích

Cái "tôi" trong đoạn trích của Hoàng Phủ Ngọc Tường là cái tôi của một người yêu thiên nhiên, một người sống nhạy cảm với những thay đổi của vườn tược. Cái "tôi" ấy không chỉ dừng lại ở sự mô tả vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn thể hiện sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên, giữa cái tôi cá nhân với thế giới xung quanh. Sự liên tưởng của tác giả với cảnh vật, với những trái cây trong vườn không chỉ là sự miêu tả đơn thuần mà còn chứa đựng những suy tư, những cảm xúc riêng biệt.

Khi tác giả mỉm cười với "ý nghĩ lạ lùng" về việc nằm dưới gốc cây dâu ăn quả, đó là một sự thể hiện cái "tôi" khát khao tìm lại sự bình yên trong tâm hồn, thoát khỏi những bộn bề của cuộc sống. Cái "tôi" ấy không cần những ồn ào, vội vã, mà chỉ muốn "trải một tấm chiếu nhỏ", một hình ảnh rất gần gũi, mộc mạc nhưng cũng rất thơ mộng. Qua đó, cái "tôi" của tác giả không chỉ yêu thiên nhiên mà còn khao khát sự thanh thản, một không gian riêng để thư giãn và tận hưởng cuộc sống.

Cái "tôi" của Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thể hiện qua cách tác giả sử dụng ngôn từ, hình ảnh để khắc họa sự sống động của thiên nhiên. Những từ ngữ như "khí mạnh của nhựa cây", "vàng rệu màu mật ong", "bánh kem sinh nhật" không chỉ là sự mô tả cụ thể về sự vật mà còn là cách tác giả gợi lên cảm xúc, sự tưởng tượng phong phú của mình. Đó là cái "tôi" của một con người tinh tế, đầy cảm hứng nghệ thuật và có khả năng nhìn nhận vẻ đẹp trong những chi tiết nhỏ bé nhất.

4. Kết luận

Qua đoạn trích trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ miêu tả vẻ đẹp của khu vườn An Hiên mà còn thể hiện cái "tôi" của mình qua sự nhạy cảm với thiên nhiên, sự hòa quyện giữa con người và cảnh vật. Cái "tôi" ấy không chỉ tìm thấy vẻ đẹp trong những loài cây trái mà còn gửi gắm những suy tư về cuộc sống, về sự bình yên và niềm vui trong những khoảnh khắc giản dị. Cách tác giả nhìn nhận vườn tược không chỉ là cái nhìn của một người yêu thiên nhiên mà còn là cái nhìn của một người có tâm hồn nhạy cảm, sâu sắc, luôn tìm kiếm vẻ đẹp ở những chi tiết bình thường nhất của cuộc sống.

Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với Mình cần trong tối nay luôn nhé Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá đoạn văn sau:“Yêu tháng chạp không biết bao nhiêu, nhưng yêu nhất là những ngày giáp tết, thời tiết sao mà đĩ thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế, lời nói, tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế.Tôi yêu hết và tôi nói là tôi yêu hết;...
Đọc tiếp

Mọi người cứu với , dùng ChatGDP cũng đc , viết hoàn chỉnh cho mình với 

Mình cần trong tối nay luôn nhé

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá đoạn văn sau:

“Yêu tháng chạp không biết bao nhiêu, nhưng yêu nhất là những ngày giáp tết, thời tiết sao mà đĩ thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế, lời nói, tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế.

Tôi yêu hết và tôi nói là tôi yêu hết; yêu ngọn cỏ gió đùa, mây trôi lãng đãng, ngọn núi đồi sim, nhựa cây mạch đất, yêu con sâu cái kiến nằm co ro trong tổ bấy giờ trỗi lên tìm lá mới hoa non, yêu cô gái mặc quần lĩnh hoa chanh lại cài một cánh hoa hồng trên mái tóc, yêu con bướm đa tình bay lượn trên giàn hoa thiên lí, cái áo nhung xanh nổi bật lên trong vườn quýt đỏ, cam vàng, trông mới lại càng yêu những giọt mưa bé tỉ ti đọng lại trên nhung mướt làm cho người đẹp óng a óng ánh như thiên thần trong mộng. Cũng may mà cứ vào tháng chạp, ở đây, thỉnh thoảng lại có những đêm xanh gió thổi hiu hiu làm cho người thức khuya cảm thấy da tê tê, lành lạnh mà nghe như thấy tết đến xuân về trước ngõ nên cũng nguôi ngoai được phần nào, chớ cứ nắng chói chan, khô héo liền liền thi chỉ thương nhớ mà héo hắt đi, sống làm sao cho nổi.

Tết ở đây thiếu gì vải lụa của Thái Lan, Đại Hàn, thiếu gì đồ ăn thức uống của Nhật, của Mỹ, thiếu gì trái ngon, gái đẹp “lô can”, nhưng cơn cớ làm sao mỗi khi có sự giao tiễn đôi mùa thì lòng lại hướng về quê cũ xa xưa, mơ lại ngày nào cùng vợ đi mua đôi ba chậu cúc vàng, quất đỏ, rồi về ăn quấy quá cho xong để lại đi ù lên Ngọc Hà mua mấy cánh mẫu đơn về để cắm bình, không quên vài tấm giấy đỏ để gói tiền mở hàng cho trẻ, một chai Mai Quế Lộ hay Sử Quốc Công, hai vợ chồng đi dưới mưa riêu riêu dặn nhau phải nhớ mua một hộp trà Thiết Quan Âm vỏ thiếc và xẻ vài chai rượu nếp cẩm hạ thổ từ tháng tám!

Nhớ lại như thế thì quên làm sao được vào những ngày hai mươi bốn, hai mươi lăm vợ thức từ bốn năm giờ sáng, khoác một cái áo lạnh trên mình ngồi giữa sập sắp xếp các món đồ đem đi biếu tết những bạn bè thân thiết. Đó là cả một vấn đề phức tạp: hộp trà Thiết Quan Âm vỏ thiếc để biếu ông Long đã đành rồi, nhưng ông Luận hôm qua đã cho rượu, chả lẽ mình lại biếu rượu nữa, thôi hay là biếu cân mứt và chục cam Xã Đoài. Hộp kẹo này đưa sang bác Thanh Châu; chị Sen ơi, hai hộp trà mạn sen tự tay mợ ướp đây là để dành cho ông Chung, ông Chước; nhưng đến Nguyễn Dân Giám thì quả là khó nghĩ. Hôm hai mươi ba mới rồi, để đánh dấu tập “Dưới rặng thông” in làm phụ bản số tết, anh ta sai người làm đội một cái quả to bằng cái nia từ Hàng Cân đến Hàng Da, đầy đủ bún thang, chả quế, giò lụa, nước xuýt, bào ngư, hầu sì, cuốn; bây giờ biết đem biếu gì đây? Ấy, chỉ có thế mà nghĩ mãi không biết làm ăn ra thế nào.”

( Trích chương 12, “Thương nhớ mười hai’ Vũ Bằng, NXB Văn Học, Hà Nội,1993)

1
17 tháng 4 2025

?

22 tháng 5 2025

“Viết một đoạn văn về một nhan đề sáng tạo một tác phẩm mới”

Giả sử em chọn nhan đề: “Chiếc Bàn Cổ Ký Ức” cho một bài tản văn/memoir (hồi ký) của riêng mình.


Đoạn văn mẫu

“Chiếc Bàn Cổ Ký Ức” là tên của tác phẩm mà tôi dự định kể về gia đình. Chiếc bàn trong phòng khách cũ kỹ, gỗ sờn màu, chính là tâm điểm của bao kỷ niệm tuổi thơ. Khi tôi còn nhỏ, bữa sáng mỗi ngày mẹ bày mâm cơm lên chiếc bàn này, rồi anh chị em quây quần bên nhau. Mùa hè, bà nội ngồi kể chuyện xưa dưới mái hiên, còn chiếc bàn đặt trang sách và chiếc đèn dầu đỏ lờ mờ. Vào dịp Tết, từng chiếc phong bao lì xì, mâm bánh mứt đều tập trung lên mặt bàn, khiến không khí ấm áp hơn. Dù giờ đã lớn, đi khắp nơi, tôi vẫn nhớ ánh nắng mai rọi qua khe rèm chiếu lên mặt bàn, và tiếng cười giòn tan của mẹ bên những tách trà chiều. Từ bao miền xa, tôi đã gom góp đủ mảnh vụn ký ức để biến chiếc bàn cũ thành “một nhân chứng sống” trong tác phẩm, để nhắc tôi rằng dù thời gian có trôi, tình cảm gia đình vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu.


4. Nguyễn Thế Nhật Duy (Ngữ văn 6)
“Nêu tâm trạng của nhân vật Ò Khìn và nhân vật Pa trong truyện ‘Chích bông ơi’ (SGK Cánh Diều 6).”

Trong truyện ngắn “Chích bông ơi” (trích SGK Cánh Diều Lớp 6), hai nhân vật chính là Ò KhìnPa. Dưới đây là phân tích ngắn:

  1. Tâm trạng của Ò Khìn
    • Ban đầu, Ò Khìn là một cậu bé hiếu động, nghịch ngợm, thích bắn bẫy chim chích bông để bán lấy tiền. Cậu không thèm để ý đến cảm xúc của loài chim nhỏ.
    • Khi nhìn thấy chú chích bông bị thương, cậu sợ hãi (vì chim vẫn còn hót), sau đó lại tò mò, muốn nuôi nấng.
    • Dần dần, tâm trạng của cậu thay đổi: thương xót, trăn trở, rồi quyết tâm cứu chữa, thấy vui khi chim khỏe lại.
    • Kết thúc, Ò Khìn xao xuyến, hạnh phúc và đầy tự hào vì đã làm bạn với chích bông, hiểu được giá trị tình bạn và tình yêu thương động vật.
  2. Tâm trạng của Pa
    • Pa (cha của cậu) ban đầu tỏ ra bực mình khi thấy Ò Khìn suốt ngày chăm bẵm chú chích bông, vì nghĩ cậu lãng phí thời gian, xao nhãng việc rẫy nương.
    • Khi nhận ra Ò Khìn biết yêu thương và trách nhiệm chăm sóc, Pa dần thông cảm, tôn trọng. Pa thấy “đứa con trai của mình đã trưởng thành, biết cảm thông với thiên nhiên.”
    • Tâm trạng Pa chuyển từ lo lắng, giận giữ sang tự hào, xúc động và đồng cảm.

Tóm tắt:

  • Ò Khìn: từ hiếu động → tò mò → thương xót → tự hào.
  • Pa: từ bực bội → lo lắng → cảm động → tự hào.
16 tháng 4 2025

Xúc giác mới đúng em nhé.

Đó là các cơ quan của con người gồm:

Mắt, mũi, tai, lưỡi, da giúp con người cảm nhận và nhận biết màu sắc, sự vật, hiện tượng, mùi, vị, nhiệt độ nóng lạnh...

16 tháng 4 2025

Xúc giác là khả năng cảm nhận và nhận biết thông qua tiếp xúc vật lý, được truyền tải bởi các dây thần kinh cảm giác dưới da. Khi chúng ta chạm, cầm, nắm, hoặc tiếp xúc với môi trường xung quanh, các dây thần kinh này sẽ gửi tín hiệu về não bộ để xử lý và tạo ra cảm giác.

nhớ tick nha :))

22 tháng 5 2025

“Nêu tâm trạng của nhân vật Ò Khìn và nhân vật Pa trong truyện ‘Chích bông ơi’ (SGK Cánh Diều 6).”

Trong truyện ngắn “Chích bông ơi” (trích SGK Cánh Diều Lớp 6), hai nhân vật chính là Ò Khìn và Pa. Dưới đây là phân tích ngắn:

  1. Tâm trạng của Ò Khìn
    • Ban đầu, Ò Khìn là một cậu bé hiếu động, nghịch ngợm, thích bắn bẫy chim chích bông để bán lấy tiền. Cậu không thèm để ý đến cảm xúc của loài chim nhỏ.
    • Khi nhìn thấy chú chích bông bị thương, cậu sợ hãi (vì chim vẫn còn hót), sau đó lại tò mò, muốn nuôi nấng.
    • Dần dần, tâm trạng của cậu thay đổi: thương xót, trăn trở, rồi quyết tâm cứu chữa, thấy vui khi chim khỏe lại.
    • Kết thúc, Ò Khìn xao xuyến, hạnh phúc và đầy tự hào vì đã làm bạn với chích bông, hiểu được giá trị tình bạn và tình yêu thương động vật.
  2. Tâm trạng của Pa
    • Pa (cha của cậu) ban đầu tỏ ra bực mình khi thấy Ò Khìn suốt ngày chăm bẵm chú chích bông, vì nghĩ cậu lãng phí thời gian, xao nhãng việc rẫy nương.
    • Khi nhận ra Ò Khìn biết yêu thương và trách nhiệm chăm sóc, Pa dần thông cảm, tôn trọng. Pa thấy “đứa con trai của mình đã trưởng thành, biết cảm thông với thiên nhiên.”
    • Tâm trạng Pa chuyển từ lo lắng, giận giữ sang tự hào, xúc động và đồng cảm.

Tóm tắt:

  • Ò Khìn: từ hiếu động → tò mò → thương xót → tự hào.
  • Pa: từ bực bội → lo lắng → cảm động → tự hào.
22 tháng 5 2025

“Trình bày cảm nhận của em về 4 câu thơ đầu của bài thơ ‘Không có gì tự đến đâu con’”

4 câu thơ đầu (trích):

“Không có gì tự đến đâu con,
Luôn phải khơi nguồn, tự mình vun.
Cơ may chỉ mở thoảng qua,
Muốn thành tài, con hãy siêng năng.”

  1. Nội dung cơ bản của 4 câu thơ
    • Không có thứ gì tự nhiên rơi vào tay, mọi thành quả đều do chính mình vun đắp.
    • “Cơ may” chỉ đến thoảng qua, nếu không nắm bắt, sẽ tuột mất.
    • Muốn thành tài, cần siêng năng, chăm chỉ không ngừng.
  2. Cảm nhận chung
    • Bài thơ gửi gắm thông điệp về sự cần cù, tự lực, không dựa dẫm.
    • Tác giả khuyên học trò: chớ ngồi chờ may mắn; phải chủ động học trau dồi, giữ gìn cơ hội, không bỏ phí.
  3. Phân tích vẻ đẹp nghệ thuật
    • Thể thơ 4 chữ kết hợp với vần AABB rất dễ nhớ, dễ thuộc, phù hợp dặn dò học trò.
    • Từ “khơi nguồn” (hình ảnh khơi suối, khơi nước) gợi sự bắt đầu từ gốc, đào sâu rễ rắc, ngụ ý phải tìm khát vọng, năng lực bên trong.
    • “Cơ may chỉ mở thoảng qua” là cách nói ẩn dụ: cơ hội như cánh cửa thoáng mở rồi khép chớp nhoáng; phải nhanh tay nắm lấy.
    • Câu cuối “Muốn thành tài, con hãy siêng năng” khẳng định chân lý: siêng năng, chăm chỉ là con đường duy nhất dẫn đến thành công.
  4. Cảm nhận cá nhân
    • Mỗi khi đọc 4 câu thơ này, em cảm thấy được động viên: không ngại khó, lao vào học tập, rèn luyện mỗi ngày.
    • Em nhớ lời dạy “không có gì tự đến đâu con”, nhắc em không ỷ lại, không lười biếng.
    • Kể cả khi gặp khó trong học bài, em luôn tự nhủ: phải kiên trì, tìm hiểu từ gốc, chớ bỏ cuộc.

Kết lại, 4 câu thơ đầu là lời khuyên giản dị nhưng sâu sắc: mọi thành tựu đều do chính mình làm ra, và lòng siêng năng sẽ biến “cơ may thoảng qua” thành thành công bền vững.