K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) đưa ra những giải pháp hợp lí để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.        Đường vào Yên Tử                          Hoàng Quang Thuận Đường vào Yên Tử có khác...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) đưa ra những giải pháp hợp lí để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

       Đường vào Yên Tử

                         Hoàng Quang Thuận

Đường vào Yên Tử có khác xưa
Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
Trập trùng núi biếc cây xanh lá
Đàn bướm tung bay trong nắng trưa.

Cây rừng phủ núi thành từng lớp
Muôn vạn đài sen mây đong đưa
Trông như đám khói người Dao vậy(1)
Thấp thoáng trời cao những mái chùa.

                  (Thi vân Yên Tử(2), NXB Giáo dục, 2015)

* Chú thích:

(1) Người dân tộc Dao đốt lá cây rừng làm rẫy.

(2) “Thi vân Yên Tử” có nghĩa là được viết trên đỉnh mây ngàn của non thiêng Yên Tử. Tác giả Hoàng Quang Thuận đã sáng tác tập thơ này vào năm 1997, tại Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử, chùa Lân, khi ông hành hương về viếng Phật Hoàng Trần Nhân Tông. 

64
13 tháng 4

câu 1: Di tích lịch sử là những nơi lưu giữ lại dấu tích của quá khứ nó không chỉ mang lại giá trị về vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần to lớn ,những câu chuyện hào hùng của dân tộc. Thế nhưng, hiện nay rất nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của con người và môi trường. Để khắc phục tình trạng này, trước hết chúng ta cần nâng cao ý thức của mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, trong việc giữ gìn và bảo vệ di sản bằng những việc như: không xả rác, không vẽ bậy hay làm hư hại các hiện vật. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách đầu tư hợp lí cho việc trùng tu, tôn tạo di tích một cách khoa học, giữ nguyên giá trị vốn có. Các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường quản lí, xử lí nghiêm những hành vi vi phạm để răn đe. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và quảng bá di tích cũng là giải pháp hiệu quả, giúp di sản đến gần hơn với mọi người. Là một học sinh, em nhận thấy bản thân cần có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn các di tích lịch sử, từ những hành động nhỏ như giữ vệ sinh chung khi tham quan, tìm hiểu và giới thiệu cho bạn bè về giá trị của di sản. Vì vậy chúng ta cần chung tay bảo vệ giữ gìn, mỗi người cần có ý thức, các di tích lịch sử sẽ luôn được bảo tồn và trường tồn cùng thời gian.

câu 2:

Bài thơ “Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thanh tịnh, đồng thời gợi lên chiều sâu văn hóa ,tâm linh của vùng đất thiêng Yên Tử. Bài thơ được viết theo thể thơ 7 chữ, tái hiện con đường hành hương lên Yên Tử với những dấu ấn của thời gian và con người.

" Đường vào Yên Tử có khác xưa

vẹt đá mòn chân lễ hội mùa

trập trùng núi biếc cây xanh lá

Đàn bướm tung bay trong nắng vàng"

ở 4 câu thơ đầu này tác giả đã miêu tả con đường đi đến Yên Tử với những dấu ấn vừa quen thuộc vừa mới mẻ. Câu thơ "Đường vào Yên Tử có khác xưa" gợi lên sự thay đổi theo và từ đó khiến chúng ta tò mò hơn về vẻ đẹp hiện tại. Sau đó là câu "vẹt đá mòn chân lễ hội mùa" gợi lên không gian Yên Tử là một nơi thiêng liêng , nơi mà có nhiều khác đến thăm quan thể hiện được sức thu hút lâu dài của Yên Tử.Hai câu tiếp theo mở rông được khung cảnh thiên nhiên với màu xanh trập trùng của rừng núi và hình ảnh " Đàn bướm tung bay trong nắng vàng" đầy sức sống, tạo nên không gian trong trẻo , tươi tắn rộn ràng mà vẫn thanh bình.

" cây rừng phủ núi thành từng lớp

muôn vạn đài sen mây đong đưa

trông như đám khói người Dao vậy

thấp thoáng trời cao những mái chùa."

ở 4 câu cuối này , vẫn là khắc hoạ vẻ đẹp của Yên Tử nhưng có gắn với tâm linh. Hình ảnh" cây rừng phủ núi thành từng lớp" tạo nên sự bao trùm dày đặc của thiên nhiên. Ở hình ảnh "muôn vạn đài sen mây đong đưa" sử dụng yếu tố tạo sự liên tưởng độc đáo , cảm giác thơ mộng và huyền ảo. Đặc biệt , có thêm hình ảnh" trông như đám khói người Dao vậy" tác giả đã đưa đời sống nhân dân vào bức tranh thiên nhiên làm cho cảnh vật thêm gần gũi và chân thực. Kết thúc bài bằng " thấp thoáng trời cao những mái chùa." làm cho bài thơ gợi lên điểm đến linh thiêng. Hình ảnh chùa ẩn hiện giữa mây không chỉ là một hình ảnh đẹp mà còn mang ý nghĩa giá trị sâu sắc về tâm linh trong đời sống.

Bài thơ được sử dụng ngôn ngữ tinh tế giàu tính biểu cảm tạo nên không gian thơ mộng vừa thực vừa ảo , ngoài ra kết cấu thơ chặt chẽ dẫn dắt người đọc từ cảnh vật đến cảm xúc về tâm linh . Có biện pháp tu từ được sử dụng là hình ảnh ẩn dụ miêu tả sinh độnglafm nổi bật vẻ đẹp của Yên Tử và những người tu hành đến nơi đây.

"Đường vào Yên Tử" là bài thơ không chỉ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện ý nghĩa sâu sắc về sự giác ngộ Phật pháp. Nghệ thuật tinh tế cùng nội dung giàu cảm xúc đã làm nên ý nghĩa giá trị của tác phẩm. Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về một Yên Tử linh thiêng, nơi con người tìm về bình an và giác ngộ.



13 tháng 4

Câu 1:

Hiện nay những di tích lịch sử đang dần bị suy thoái và hỏng hóc như chùa thầy (Hà Nội) bị hư hỏng do biến cố thời gian mà không được sử lí . Trước thực trạng ấy em mạnh dạng đưa ra một số giải pháp để hạn chế sự xuống cấp của các di tích lịch sử.Về phía nhà nước cần đầu tư xây dựng và nâng cấp những di tích lịch sử quá xuống cấp. Ngoài ra các cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm các hành vi phá hoại di tịch lịch sử. Nhà trường cần có những buổi ngoại khóa tuyên truyền cho học sinh về việc bảo vệ các di tích lịch sử. Cuối cùng mỗi chúng ta cần nâng cao ý thức bảo vệ và giữ gìn di tích khi tham quan không nên xả rác hay vẽ bậy làm hư hại các hiện vật quý giá. Tóm lại việc bảo vệ các di tích lịch sử là trách nhiệm của tất cả mọi người. Nên chúng ta cùng chung tay giữ gìn để các di tích sẽ luôn tồn tại

Câu 2:

Tác giả Hoàng Quang Thuận là một tác giả đa tài sự xuất sắc ấy được thế hiện một cách rõ nét qua bài thơ "Đường vào Yên Tử ". Bài thơ được sáng tác tại Thiền Viện Trúc Lâm khi ông hành hương đến viếng Phật Hoàng Trần Nhân Tông . Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú chữ đặc sắc . Tác phẩm nói lên vẻ đẹp hùng vĩ và thiêng liêng của vùng đất thiêng Yên Tử qua đó nói lên tình yêu ,sự tôn trọng thiên nhiên của tác giả .

Hai câu thơ đầu (câu đề) mở ra khung cảnh thiên nhiên của núi Yên Tử hiện lên một cách trân thực : "Đường vào Yên Tử có khác xưa; Vệt đá mòn chân lễ hội mùa " . Trước hết, con đường "có khác xưa " thể hiện sự lâu đời của Yên Tử qua bao năm tháng vẫn vẹn nguyên. Chi tiết "vệt đá mòn chân lễ hội mùa " nhằm nói lên sự đông đúc nhộn nhịp của những du khách đến với Yên Tử. Từ đó nhằm ca ngợi sự lâu đời và thiêng liêng của chốn Yên Tử .

Ở hai câu tiếp theo (câu thực) :"trập trùng núi biếc cây xanh lá ;Đàn bướm tung bay trong nắng trưa ". Hình ảnh "trập trùng núi, cây xăng, đàn bướm tung bay trong nắng " thể hiện khung cảnh thiên nhiên hiện ra một cách trân thực, tạo nên khung cảnh tươi sáng, thơ mộng.

Kế tiếp là hai câu luận :"Cây rừng phủ núi thành từng lớp; Muôn vạn đài sen mây đong đưa ". Hình ảnh "mây đong đưa ";"cây rừng phủ núi " thể hiện khung cảnh hùng vĩ ,thiêng liêng của Yên Tử khiến chúng ta có những cảm nhận trân thực về thiên nhiên Yên Tử .

Cuối cùng là hai câu kết :"Trông như đám khói người Dao vậy; Thấp thoáng trời cao những mái chùa ". Chi tiết "Đám khói người Dao " làm không gian thêm phần thiêng liêng và mờ ảo. Những mái chùa "thấp thoáng trời cao những mái chùa " càng làm nổi bật vẻ đẹp tâm linh của Yên Tử nơi gắn liền với tín ngưỡng của con người .

Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Hùng vĩ với vẻ đẹp tâm linh của Yên Tử. Qua đó thế hiện thông điệp hãy biết trân trọng thiên nhiên gìn giữ những di tích lịch sử mà cha ông đã để lại .

Bài thơ không chỉ làm người đọc ấn tượng với nội dung mà còn làm người đọc ấn tượng với những nghệ thuật đặc sắc. Biện pháp tu từ ẩn dụ "đám khói người Dao " ẩn dụ về phong tục đốt lá cây rừng làm rẫy của người Dao từ đó nói lên sự tinh tế và hiểu biết sâu rộng của tác giả. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi giúp bài thơ thêm phần trân thực và sâu sắc .Thể thơ thất ngôn bát cú tạo âm điệu đặc sắc với luật bằng trắc đặc trưng kết hợp với vần lưng, vần chân tạo nên âm điệu trầm bổng phù hợp với không khí thiêng liêng huyền bí của Yên Tử .

Tóm lại, Đường vào Yên Tử không chỉ là bức tranh thiên nhiên đẹp mà còn là một hành trình sâu sắc của tác giả. Qua đó, Hoàng Quang Thuận đã thể hiện tình yêu thiên nhiên và sự trân trọng những di tích lịch sử linh thiêng




(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Đô thị cổ Hội An được Tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới     Đô thị cổ Hội An nối với biển Đông qua Cửa Đại, phía nam giáp huyện Duy Xuyên, phía tây giáp Điện Bàn, cách Đà Nẵng 20km về phía bắc. Từ thế kỷ XVII về trước, Hội An thông thương với Đà Nẵng qua đường sông Cổ Cò. Sau này,...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Đô thị cổ Hội An được Tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới

     Đô thị cổ Hội An nối với biển Đông qua Cửa Đại, phía nam giáp huyện Duy Xuyên, phía tây giáp Điện Bàn, cách Đà Nẵng 20km về phía bắc. Từ thế kỷ XVII về trước, Hội An thông thương với Đà Nẵng qua đường sông Cổ Cò. Sau này, dòng sông bị bồi lấp. Đi ngược về phía tây, cả đường sông và đường bộ là những làng mạc trù phú tiếp nối với rừng Trường Sơn giàu lâm thổ sản.

     Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, suy giảm dần từ thế kỷ XIX, để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thời. Đứng về tuổi thọ, Hội An tồn tại trong thời gian không dài. Về quy mô của một đô thị trong thời thịnh vượng của nó cũng chưa phải là to lớn. Tuy nhiên về những phương diện khác, Hội An có vị trí, vai trò đáng chú ý và mang những đặc điểm riêng, tạo nên dáng vẻ và những giá trị lịch sử - văn hóa độc đáo. Trong khi hầu hết các đô thị cổ khác, trải qua những biến thiên của lịch sử và những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên đều bị hủy hoại, hoặc được cải tạo hoàn toàn theo kiểu hiện đại, chỉ để lại trên mặt đất vài di tích rời rạc, thì Hội An được bảo tồn khá nguyên vẹn. Có thể coi đây là trường hợp duy nhất của Việt Nam và cũng là trường hợp hiếm thấy trên thế giới.

OLM, Ngữ văn 9, Đọc hiểu văn bản thông tin

 Ảnh: Phố cổ Hội An

     Chính vì những giá trị đó, mà năm 1985, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định công nhận đây là Di tích Văn hóa cấp quốc gia và khoanh vùng bảo vệ di tích phố cổ Hội An.

     […] Trong hội thảo quốc tế về Đô thị cổ Hội An trong các ngày 22, 23-3-1990, đã có 38 tham luận (trong đó có 12 tham luận của các nhà khoa học nước ngoài) đã đề cập đến nhiều vấn đề của Hội An trong lịch sử và hiện trạng. Các báo cáo cũng gợi mở nhiều vấn đề để tranh luận, đặt ra những hướng tìm tòi mới có ý nghĩa.

     Đặc biệt, trong hội thảo quốc tế này, một số báo cáo đã đặt ra vấn đề nghiên cứu sâu hơn thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chămpa. Nơi đây còn ẩn tàng dấu vết một thương cảng cổ của vương quốc Chămpa, một “Lâm Ấp Phố” bên cửa sông lớn Thu Bồn. Và Hội An một mặt kế thừa những thành quả khai phá của Chiêm cảng xưa, mặt khác được trực tiếp chuẩn bị từ thế XV, khi người Việt đến tụ cư tại đây và tạo thành một cửa ngõ giao thương của Đàng Trong Việt Nam với thế giới bên ngoài. Hội An còn là một trung tâm giao lưu văn hóa Đông - Tây, là cái nôi hình thành chữ quốc ngữ, và trung tâm truyền bá đạo Thiên Chúa, đạo Phật ở Đàng Trong.

     Vẫn còn khá nguyên vẹn những di tích bến cảng, các phố cổ, các nhà liền kế, nhà thờ tộc họ, đình chùa, đền miếu, hội quán của người Hoa, lăng mộ của người Nhật, người Hoa, và độc đáo nhất cây cầu mang tên Cầu Nhật Bản. Những loại hình kiến trúc đa dạng cùng các phong tục tập quán, lễ hội đã phản ánh một chặng đường phát triển, hội nhập và giao thoa để tạo nên một sắc thái văn hóa riêng của Hội An, kết hợp hài hòa giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh.

     Ngày 4-12-1999, tổ chức UNESCO đã ra quyết định công nhận phố cổ Hội An là Di tích Văn hóa thế giới. Như vậy là trên đất Quảng Nam, có hai Di tích Văn hóa thế giới là: Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. 

(Theo danang.gov.vn)

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?

Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì? 

Câu 3. Phân tích cách trình bày thông tin trong câu văn: “Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, suy giảm dần từ thế kỷ XIX, để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thời.”.

Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ nào được sử dụng trong văn bản? Hãy nêu tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ đó trong việc biểu đạt thông tin trong văn bản.

Câu 5. Mục đích và nội dung của vản bản trên là gì?  

122

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin. Cụ thể là bản tin hoặc bài giới thiệu về di sản văn hóa. Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì? Đối tượng thông tin chính là: Phố cổ Hội An và việc nơi này được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới cùng với Khu đền tháp Mỹ Sơn tại Quảng Nam. Câu 3. Phân tích cách trình bày thông tin trong câu văn: "Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI... vang bóng một thời." Cách trình bày: Thông tin được trình bày theo trình tự thời gian (tuyến tính). Phân tích: Tác giả liệt kê các mốc thời gian quan trọng gắn liền với sự biến đổi của Hội An: Thế kỷ XVI: Giai đoạn hình thành. Thế kỷ XVII-XVIII: Giai đoạn hưng thịnh nhất. Thế kỷ XIX: Giai đoạn suy giảm. Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung được quá trình lịch sử dài, sự thăng trầm và biến đổi của thương cảng Hội An qua các thời kỳ. Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ nào được sử dụng? Nêu tác dụng. (Lưu ý: Dựa trên phần văn bản hiển thị, phương tiện phi ngôn ngữ thường là hình ảnh, sơ đồ hoặc số liệu. Ở đoạn trích này chủ yếu thấy số liệu thời gian). Phương tiện: Các con số, mốc thời gian (4-12-1999, thế kỷ XVI, XVII-XVIII, XIX). Tác dụng: Giúp thông tin trở nên chính xác, khách quan và có tính xác thực cao. Giúp người đọc dễ dàng theo dõi và ghi nhớ các mốc lịch sử quan trọng. Câu 5. Mục đích và nội dung của văn bản trên là gì? Mục đích: Cung cấp thông tin xác thực về sự kiện Hội An trở thành di sản thế giới và tóm lược quá trình lịch sử của nơi này nhằm quảng bá, giới thiệu di sản. Nội dung: Thông báo sự kiện ngày 4-12-1999 UNESCO công nhận Phố cổ Hội An là Di sản Văn hóa thế giới. Khẳng định vị thế của tỉnh Quảng Nam khi có hai di sản thế giới (cùng với Mỹ Sơn). Tóm tắt lịch sử hình thành, phát triển và suy yếu của thương cảng Hội An.

Câu 1: văn bản trên thuộc văn bản thông tin

Câu 2: văn bản được nói đến là phố cổ nghệ an

Câu 3: nói đến nền văn hóa của phố cổ nghệ an nói đến nền văn hóa tươi đẹp phú quý

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây. TIẾNG VIỆT CỦA CHÚNG MÌNH TRẺ LẠI TRƯỚC MÙA XUÂN                                                Phạm Văn Tình Tiếng Việt chúng mình...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

TIẾNG VIỆT CỦA CHÚNG MÌNH TRẺ LẠI TRƯỚC MÙA XUÂN

                                               Phạm Văn Tình

Tiếng Việt chúng mình có từ thời xa lắm
Thuở mang gươm mở cõi dựng kinh thành
Vó ngựa hãm Cổ Loa, mũi tên thần bắn trả
Vẽ nên hồn Lạc Việt giữa trời xanh.
Bao thế hệ đam mê sống lại thời chiến trận
Bài Hịch năm nào hơn mười vạn tinh binh
Cả dân tộc thương nàng Kiều rơi lệ
Lời Bác truyền gọi ta biết sống vượt lên mình.
Tiếng Việt ngàn năm trong ta là tiếng mẹ
Là tiếng em thơ bập bẹ hát theo bà
Xốn xang lời ru tình cờ qua xóm nhỏ
Ơi tiếng Việt mãi nồng nàn trong câu hát dân ca!
Anh lại cùng em bước vào thiên niên kỷ
Bỗng gặp lại quê hương qua lời chúc mặn mà
Lời chúc sớm mai, ngày mồng một Tết
Qua tấm thiếp gửi thăm thầy, thăm mẹ, thăm cha.
Tiếng Việt ngàn đời hôm nay như trẻ lại
Bánh chưng xanh, xanh đến tận bây giờ
Bóng chim Lạc bay ngang trời, thả hạt vào lịch sử
Nảy lộc đâm chồi, thức dậy những vần thơ.

* Chú thích: Nhân dịp tham dự tọa đàm "Tiếng Việt ân tình" chào mừng ngày Tôn vinh tiếng Việt 08/09/2024, PGS. TS. Phạm Văn Tình bày tỏ niềm vui khi được chia sẻ về nét đẹp của tiếng Việt. Thầy Tình đã gửi đến các bạn khán giả bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" do chính mình sáng tác. 

38

Câu 1: Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Đoạn văn tham khảo: Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn, là niềm tự hào của mỗi dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ, việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự trong sáng ấy thể hiện ở việc sử dụng đúng chuẩn mực phát âm, chính tả, ngữ pháp và việc lựa chọn từ ngữ tinh tế, giàu sắc thái. Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận giới trẻ đang lạm dụng "ngôn ngữ mạng", viết tắt vô tội vạ hoặc chêm xen tiếng nước ngoài một cách khiên cưỡng, làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng mẹ đẻ. Giữ gìn sự trong sáng không phải là bài trừ cái mới, mà là tiếp nhận tinh hoa một cách có chọn lọc để làm giàu thêm tiếng Việt. Mỗi cá nhân cần ý thức được trách nhiệm của mình, trau dồi vốn từ, đọc nhiều tác phẩm văn học giá trị và luôn cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói. Bảo vệ tiếng Việt chính là bảo vệ bản sắc văn hóa và sức sống của dân tộc Việt Nam.

8 tháng 4


c1 Tiếng Việt là linh hồn của dân tộc Việt Nam, gắn liền với bề dày lịch sử và nét văn hóa độc đáo của chúng ta. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, sự lạm dụng từ ngữ ngoại lai, sử dụng teencode tùy tiện đã làm mất đi vẻ trong sáng vốn có của ngôn ngữ mẹ đẻ.Chúng ta cần có ý thức tự giác bảo vệ tiếng Việt: trước hết là sử dụng đúng chuẩn mực chính tả, phát âm và ngữ pháp, tránh chèn lẫn từ ngữ nước ngoài không cần thiết. Thứ hai, hãy ưu tiên sử dụng lời ăn tiếng nói thuần Việt, không dùng từ tục tĩu hay chửi bậy làm ô nhiễm ngôn ngữ. Cuối cùng, học sinh nên trau dồi vốn từ ngữ qua đọc sách, tham gia hoạt động văn học để nâng cao khả năng biểu đạt chính xác và đẹp đẽ.Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là bảo vệ công cụ giao tiếp, mà còn là giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng những gì ông cha ta đã để lại cho thế hệ sau.


Câu 2: Bài nghị luận phân tích bài “Tiếng Việt của chúng ta trẻ lại trước mùa xuân”


Bài thơ Tiếng Việt của chúng ta trẻ lại trước mùa xuân của nhà thơ ẩn danh đã khơi gợi tình yêu sâu sắc đối với tiếng Việt, đồng thời bày tỏ sự lo lắng trước thực trạng sử dụng ngôn ngữ không đúng chuẩn của giới trẻ. Bài thơ kết hợp giữa hình ảnh mùa xuân thanh bình và vẻ đẹp của tiếng nói dân tộc, mang đến thông điệp cấp bách về việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ mẹ đẻ.

Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh mùa xuân yên bình: “Trước mùa xuân, tiếng Việt của chúng ta trẻ lại / Không còn hàm hồ, không còn xấu xa”. Nhà thơ khẳng định tiếng Việt vốn trong sáng, thuần túy, gắn liền với nét đẹp tự nhiên và tâm hồn người Việt. Sau đó, bài thơ chỉ ra thực trạng đáng lo: “Nhưng giờ đây, có những lời nói đã bị ô nhiễm / Được lai tạp bởi những từ ngữ lạ, không thuộc về mình”. Đó là những lời sử dụng teencode tùy tiện, chèn lẫn từ ngoại lai không cần thiết làm mất đi bản sắc ngôn ngữ.

Nhà thơ gọi mọi người cùng giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt: “Hãy giữ gìn tiếng nói của chúng ta / Để nó luôn trong sáng, luôn đẹp đẽ”. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không phải là cấm sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, mà là sử dụng một cách có chọn lọc, phù hợp hoàn cảnh. Bài thơ nhấn mạnh rằng tiếng Việt là niềm tự hào của dân tộc, khi ta bảo vệ ngôn ngữ mẹ đẻ, ta đang bảo vệ bản sắc dân tộc.

Bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, kết hợp hình ảnh mùa xuân để làm nổi bật vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt. Nhà thơ đối chiếu giữa tiếng Việt thuần túy và tiếng Việt bị ô nhiễm, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về thực trạng hiện nay. Sử dụng câu đối xứng, lặp lại từ “luôn” nhấn mạnh ý nghĩa giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ, tạo cảm động sâu sắc trong lòng người đọc

Bài thơ Tiếng Việt của chúng ta trẻ lại trước mùa xuân là một lời kêu gọi đầy tình cảm từ trái tim người yêu nước, nhắc nhở mọi người không được quên đi niềm tự hào về ngôn ngữ dân tộc. Hãy cùng nhau giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, để nó luôn là biểu hiện của vẻ đẹp tâm hồn người Việt Nam, và được truyền lại cho thế hệ sau.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Chữ ta      Vừa ở Xơ-un (Hàn Quốc) về nước, đi công tác ở một số thành phố, thấy cần phải viết ngay một điều.      Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ”, có quan hệ chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Chữ ta

     Vừa ở Xơ-un (Hàn Quốc) về nước, đi công tác ở một số thành phố, thấy cần phải viết ngay một điều.

     Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ”, có quan hệ chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn Quốc to hơn phía trên. Đi đâu, nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bẳng hiệu chữ Hàn Quốc. Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta, nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài phải lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác.

     Rồi báo chí ở Hàn Quốc khá nhiều. Tôi không biết chữ Hàn Quốc nhưng cũng xem qua khá nhiều tờ báo. Có một số tờ báo, tạp chí, số báo xuất bản bằng tiếng nước ngoài, in rất đẹp. Những các tờ báo phát hành ở trong nước đều không có mấy trang cuối viết bằng tiếng nước ngoài, trừ một số tạp chí khoa học, ngoại thương có in ở trang cuối mục lục bằng tiếng nước ngoài để người đọc nước ngoài nhờ dịch những bài cần đọc. Trong khi đó, ở ta, khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, xem ra để cho “oai”, trong khi đó, người đọc trong nước lại bị thiệt mất mấy trang thông tin.

     Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.

12-4-1994

(Hữu Thọ, theo Bình luận báo chí thời kì đổi mới, NXB Giáo dục, 2000)

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?

Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? 

Câu 3. Để làm sáng tỏ cho luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ, bằng chứng nào?

Câu 4. Chỉ ra một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan mà tác giả đưa ra trong văn bản.

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả.

72
1 tháng 5 2025

Câu 1.Văn bản "Chữ ta" thuộc kiểu văn bản nghị luận. Trong văn bản, tác giả trình bày quan điểm cá nhân, lập luận bằng dẫn chứng cụ thể, nhằm bày tỏ suy nghĩ về việc sử dụng tiếng nước ngoài ở Việt Nam và khẳng định cần phải giữ gìn, tôn trọng tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của dân tộc.

Câu 2.Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là thái độ của người Việt đối với tiếng mẹ đẻ trong bối cảnh mở cửa, hội nhập với thế giới. Tác giả phê phán việc lạm dụng tiếng nước ngoài trong bảng hiệu, báo chí ở Việt Nam, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc tôn trọng và đề cao tiếng Việt.

Câu 3.Tác giả đã sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam để làm rõ luận điểm:

  • Ở Hàn Quốc:
    • Mặc dù là một quốc gia phát triển, có quan hệ rộng rãi với phương Tây, nhưng họ vẫn giữ gìn và đề cao ngôn ngữ dân tộc.
    • Quảng cáo có ở nhiều nơi, nhưng không đặt ở công sở, hội trường hay danh lam thắng cảnh.
    • Trên các bảng hiệu, chữ Hàn Quốc luôn được viết to, đặt phía trên, còn chữ tiếng Anh (nếu có) thì nhỏ, nằm phía dưới.
    • Báo chí chủ yếu viết bằng tiếng Hàn, chỉ một số tạp chí khoa học hoặc ngoại thương mới có mục lục bằng tiếng nước ngoài để phục vụ người đọc nước ngoài.
  • Ở Việt Nam:
    • Có tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài: chữ tiếng Anh to hơn chữ Việt, xuất hiện nhiều trên các bảng hiệu ở nơi công cộng.
    • Một số tờ báo của nhà nước có thói quen tóm tắt các bài viết bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, gây lãng phí thông tin đối với người đọc trong nước.
    • Câu 4.
  • Thông tin khách quan:
    “Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh.”
    → Đây là một quan sát thực tế về Hàn Quốc, mang tính khách quan.
  • Ý kiến chủ quan:
    “Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.”
    → Đây là suy nghĩ, đánh giá mang tính cá nhân của tác giả, thể hiện ý kiến chủ quan.
  • Câu 5.
  • Tác giả lập luận rõ ràng, chặt chẽ và thuyết phục. Tác giả sử dụng phép so sánh và đối chiếu giữa hai quốc gia (Hàn Quốc và Việt Nam) để nêu bật sự khác biệt trong cách ứng xử với ngôn ngữ dân tộc.
    Lập luận được củng cố bằng những quan sát thực tế cụ thể và đi kèm với nhận xét sâu sắc, từ đó làm nổi bật quan điểm về việc cần giữ gìn, tôn trọng tiếng mẹ đẻ như một biểu hiện của lòng tự trọng dân tộc.


Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (cụ thể là nghị luận xã hội/bình luận báo chí). Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? Vấn đề chính là hiện tượng "sính ngoại" hình thức của một số tờ báo trong nước khi tóm tắt bài viết bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối chỉ để cho "oai", gây lãng phí không gian thông tin cho người đọc nội địa. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ, bằng chứng nào? Bằng chứng: Nhiều tờ báo, kể cả báo ngành của nhà nước, có "mốt" tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối. Lí lẽ: Việc làm này chủ yếu để cho "oai" chứ không thực sự phục vụ người đọc nước ngoài như mục đích ban đầu (so sánh với cách làm của nước ngoài là in mục lục để dịch bài cần đọc). Gây thiệt hại cho người đọc trong nước vì mất đi diện tích cho các thông tin hữu ích khác. Câu 4. Chỉ ra một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan trong văn bản. Thông tin khách quan: "khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối". (Đây là sự thật đang diễn ra). Ý kiến chủ quan: "xem ra để cho “oai”" hoặc "Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm." (Đây là nhận xét, đánh giá riêng của tác giả). Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. Chặt chẽ và sắc sảo: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu (cách làm của nước ngoài và cách làm "biến tướng" ở ta). Ngôn ngữ phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu cay: Sử dụng các từ ngữ như "mốt", "cho oai" để chỉ ra sự lố lăng của hình thức. Nâng tầm vấn đề: Từ một hiện tượng nhỏ trên báo chí, tác giả nâng lên thành vấn đề về lòng tự trọng quốc gia trong bối cảnh hội nhập, khiến người đọc phải suy ngẫm.

Câu 1 Hình tượn người phụ nữ trong bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" của nguyễn quan thiều  hiện lên đầy ám ảnh với vẻ đẹp lam lũ, vất vả nhưng vô cùng kiên cường. Qua những chi tiết tả thực như "ngón chân xương xẩu", "móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái", tác giả khắc họa sâu sắc sự nhọc nhằn của những người phụ nữ lao động nghèo. Đôi chân ấy không chỉ gánh nước mà còn gánh cả gánh nặng cuộc đời, thời gian "năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm". Vẻ đẹp của họ không nằm ở sự kiều diễm mà ở sự bền bỉ, chịu thương chịu khó, thầm lặng cống hiến sức mình cho cuộc sống. Hình ảnh hoán dụ "gánh nước sông" vừa nhấn mạnh công việc vất vả, vừa gợi lên thân phận trôi nổi, bấp bênh của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Đoạn thơ không chỉ thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước những kiếp người "đàn bà gánh nước" mà còn ngợi ca phẩm chất chịu đựng, sức sống tiềm tàng và tình yêu thương gia đình cao quý của họ. Tóm lại, hình tượng người phụ nữ trong bài thơ là biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng, chịu thương chịu khó. 

Câu 2 Hội chứng "burnout" (kiệt sức) đang trở thành một vấn đề đáng báo động trong giới trẻ hiện nay, không chỉ ở môi trường làm việc mà còn cả học tập. Đó là trạng thái kiệt quệ về thể chất, tâm lý và cảm xúc, dẫn đến mất động lực, giảm năng suất và cảm giác tách biệt. Nguyên nhân sâu xa đến từ áp lực thành tích, sự kỳ vọng của xã hội và áp lực đồng trang lứa, khiến người trẻ không ngừng chạy đua trong xã hội hiện đại. Burnout không chỉ là mệt mỏi thông thường mà là sự "cháy sạch" năng lượng bên trong. Biểu hiện dễ thấy là việc người trẻ mất hứng thú với những đam mê trước đây, luôn trong trạng thái căng thẳng, lo âu, hay quên, giảm khả năng tập trung và thường xuyên muốn tách biệt khỏi xã hội. Nhiều bạn trẻ cảm thấy mình phải "hoàn hảo", luôn phải bận rộn để chứng tỏ giá trị bản thân, dẫn đến tình trạng làm việc quá sức.Nguyên nhân của hội chứng này phần lớn đến từ môi trường xã hội cạnh tranh khốc liệt. Sự phát triển của mạng xã hội tạo ra "áp lực đồng trang lứa", khi thấy người khác thành công sớm, giới trẻ cảm thấy tự ti và ép buộc mình phải chạy nhanh hơn. Ngoài ra, việc thiếu cân bằng giữa thời gian học tập/làm việc và nghỉ ngơi cũng là yếu tố chính.Hậu quả của burnout là vô cùng nghiêm trọng. Nó không chỉ gây ảnh hưởng đến hiệu quả học tập, công việc mà còn dẫn đến các bệnh lý nguy hiểm về tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu và suy giảm thể chất nghiêm trọngĐể vượt qua burnout, giới trẻ cần học cách lắng nghe cơ thể và tâm trí mình. Cần dám sống chậm lại, thiết lập ranh giới rõ ràng giữa công việc và cuộc sống, dành thời gian nghỉ ngơi, tập thể dục và tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn bè, gia đình hoặc chuyên gia tâm lý. Hãy nhớ rằng: "Sức khỏe tinh thần là nền tảng của mọi thành công".

Tóm lại, burnout là một căn bệnh thời đại của giới trẻ. Chúng ta cần thay đổi tư duy về thành công, trân trọng sức khỏe bản thân và dũng cảm đối mặt với áp lực để có thể sống một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc hơn\(\)

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:             Những người đàn bà gánh nước sôngNhững ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà máiĐã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấyNhững người đàn bà xuống gánh nước sôngNhững bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướtMột bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

             Những người đàn bà gánh nước sông

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bám vào mây trắng

Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết nổi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy
Sau những người đàn bà gánh nước sông là lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.

                                                                1992

                                                  - Nguyễn Quang Thiều -

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. 

Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì?

Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

174

Câu1 thể thơ tự do

Câu 2 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm xúc tâm tư của tác giả ngoài ra bài thơ cảm xúc nốt hợp với phương thức tự sư kế lại những trải nghiệm quan sát và miêu tả hình ảnh những lời câu dòng sông

Câu 3 tác dụng của điệp ngữ việt lặp lại hai dòng đà nằm năm mười lăm năm là mươi lăm và nửa đời tôi thấy có tác dụng cho nhấm mạch sự bền bỉ kèo dài của thời và sự ám ảnh khơ nguôi trong tâm trí tác giả tạo nghịp điệu da diết xoáy sâu vào cảm xác về nỗi dục hoặc một sự thật hiểu nhiên mà tác giả đã chứng kiếm suất nửa đời người khẳng định tính xác thực và chiều sâu của những chiêm nghiệm mà nhà thơ nhấn truyền tải

Câu4đề tài: Viết về những chiêm nghiệm cuộc sống, sự thức tỉnh trước nỗi đau hoặc thực tại khắc nghiệt (thông qua hình ảnh những lưỡi câu và con cá) Thể chủ đề hiện sự đồng cảm với nỗi đau, sự thức tỉnh về lương tâm và lòng trắc ẩn của con người trước những tổn thương mà thế giới xung quanh phải gánh chịu.Câu 5 suy nghĩ cá nhân : Bài thơ gợi lên suy nghĩ về sự thấu cảm. Con người cần có cái nhìn sâu sắc hơn về nỗi đau của vạn vật xung quanh, từ đó biết trân trọng sự sống và sống nhân văn hơn, tránh xa những hành động vô tâm có thể gây ra tổn thương kéo dài

11 tháng 3 2025

trả lời giúp mình với

17 tháng 3 2025

hỏi nhiều thế chs say get k



28 tháng 1

Hai văn bản đều nói về vai trò quan trọng của động vật đối với con người và nhấn mạnh việc con người cần yêu thương quan tâm và đối xử tốt với chúng. Cả hai đều cho thấy động vật không chỉ mang lại niềm vui lợi ích tinh thần mà còn giúp con người sống nhân ái có trách nhiệm hơn. Điểm giống nhau này giúp em hiểu rằng việc bảo vệ và đối xử thân thiện với động vật là cần thiết góp phần xây dựng một cuộc sống tốt đẹp và hài hòa hơn.

11 tháng 3 2025

là từ đầu nghĩa gốc