viết bài văn biểu cảm về nhân vật dì bảy trong văn bản"người ngồi đợi trước hiên nhà"của Huỳnh Như Phương(trên 1200 từ)
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
-Em đồng ý
-Gia đình là tổng hòa, là của chung, không phải của riêng ai
-Công việc nhà là công việc dọn dẹp, chăm sóc nhà cửa, gồm rất nhiều công việc nhỏ lẻ, không tên
-Người vợ, người mẹ cũng có những công việc riêng, cũng có những mối quan tâm riêng
-Nếu chỉ có mẹ, có vợ làm việc, tức là chúng ta thờ ơ, quan tâm và rất đágn chê trách
-Phải ý thức gìn giữ hạnh phúc gia đình bằng việc san sẻ công việc nhà
Gia đình là cái nôi hạnh phúc. Thế nhưng, nhiều người lại không có ý thức gìn giữ hạnh phúc mà đổ hết công việc cho người vợ, người mẹ. Vì thế, có ý kiến cho rằng "trong gia đình mọi người cần biết yêu thương se chia công việc nhà cho nhau đó ko phải là việc riêng của người vợ, người mẹ".
Ý kiến trên là ý kiến đúng đắn. Ý kiến nhằm khẳng định rằng ai cũng có trách nhiệm với các công việc nhà.
Công việc nhà là công việc không tên. Nó là lau nhà, phơi đồ, giặt đồ, rửa bát, quét nhà, quét sân, gấp chăn, dọn dẹp,...
Chúng ta dễ dàng thấy được một tình trạng phổ biến là người phụ nữ thì lao mình vào công việc nhà mà không được nghỉ ngơi. Dù họ đi làm cả ngày nhưng họ vẫn phải lao động quần quật, nhọc nhằn khi về đến nhà. Trong khi người chồng, người con thì ngồi chơi, xem phim và không có ý định giúp đỡ.
Chúng ta phải hiểu rằng người phụ nữ không thể nào ba đầu sáu tay. Nếu để họ phải lao động quần quật như thế, tinh thần họ sẽ trở nên nặng nề mệt mỏi. Hơn hết, rất nhiều người trong số họ sẽ có thể bị trầm cảm, bị mệt mỏi và dần dần buông xuôi hạnh phúc gia đình. Gia đình là của chung, nên nếu như không cùng cố gắng gìn giữ hạnh phúc thì con người mãi mãi không thể có được cuộc sống vui vẻ. Chung tay làm công việc nhà, đó là nghĩa vụ, là trách nhiệm. Cả bạn, cả tôi, chúng ta đều không được phép từ chối.
Công việc nhà cần được san sẻ. Đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Và tất cả chúng ta đều cần san sẻ chứ không được đổ nên vai của bất kì một ai.
Trong gia đình, yêu thương và sẻ chia công việc với nhau là điều vô cùng quan trọng. Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi mỗi người được sinh ra, lớn lên và nhận được tình yêu thương. Khi các thành viên biết quan tâm, giúp đỡ và chia sẻ công việc, gia đình sẽ trở nên gắn bó, ấm áp và hạnh phúc hơn. Yêu thương không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn qua hành động cụ thể hằng ngày. Việc cùng nhau san sẻ công việc như dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, chăm sóc ông bà, cha mẹ hay em nhỏ giúp giảm bớt gánh nặng cho mỗi người. Điều đó còn thể hiện sự tôn trọng và trách nhiệm của từng thành viên đối với gia đình. Khi mọi người cùng chung tay, không ai cảm thấy bị bỏ rơi hay chịu thiệt thòi, từ đó tình cảm gia đình ngày càng bền chặt. Ngược lại, nếu trong gia đình chỉ một người phải gánh vác tất cả công việc, lâu dần sẽ dẫn đến mệt mỏi, căng thẳng và dễ phát sinh mâu thuẫn. Sự thiếu sẻ chia khiến tình cảm gia đình phai nhạt, không khí gia đình trở nên nặng nề. Vì vậy, mỗi người cần ý thức được vai trò của mình, chủ động giúp đỡ những công việc phù hợp với khả năng. Tóm lại, yêu thương và sẻ chia công việc trong gia đình là nền tảng để xây dựng một mái ấm hạnh phúc. Mỗi người hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất để góp phần giữ gìn sự ấm áp, yêu thương trong gia đình mình.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là biểu cảm.
Câu 2. Hai từ láy trong đoạn thơ là nhẹ nhàng và khẽ vỗ về.
Câu 3. Đoạn thơ thể hiện tình cảm yêu thương, biết ơn sâu sắc của người con đối với mẹ, ca ngợi sự hi sinh thầm lặng, bao dung và vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời con.
Câu 4. Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ là so sánh và ẩn dụ. Hình ảnh mẹ được ví như ánh sáng và vầng trăng, qua đó làm nổi bật vai trò dẫn đường, soi sáng và che chở của mẹ đối với con trong cuộc sống, đặc biệt khi con gặp khó khăn hay lạc lối.
Câu 5. Thông điệp của lời thơ là mỗi người hãy trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ, bởi mẹ luôn hi sinh vô điều kiện và là điểm tựa tinh thần vững chắc trong suốt cuộc đời con.
Phần II. Viết Trong các truyện ngụ ngôn em đã học, nhân vật để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất là Thỏ trong truyện Thỏ và Rùa. Thỏ là con vật nhanh nhẹn, tự tin vào khả năng của mình nhưng lại kiêu ngạo và chủ quan. Chính sự tự mãn đã khiến Thỏ coi thường đối thủ, mải vui chơi và ngủ quên trên đường đua. Ngược lại, Rùa tuy chậm chạp nhưng kiên trì, bền bỉ và quyết tâm nên đã giành chiến thắng. Qua hình ảnh nhân vật Thỏ, truyện ngụ ngôn gửi đến người đọc bài học sâu sắc rằng không nên kiêu căng, chủ quan trước bất cứ việc gì, bởi sự cố gắng, kiên trì mới là yếu tố quyết định dẫn đến thành công.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Thể thơ: Tự do.
Câu 2. Anh/chị có suy nghĩ gì về lời khuyên của cha mẹ được thể hiện trong bài thơ?
Bài thơ Không có gì tự đến đâu Con là những lời khuyên chân thành của cha mẹ về đức tính kiên trì, bền bỉ, giàu nghị lực để vượt qua những khó khăn thử thách trong hành trình khôn lớn. Những đức tính đó sẽ trui rèn cho con trở thành một con người mạnh mẽ, trưởng thành và đạt được những thành quả trong cuộc sống sau này.
Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung những dòng thơ sau:
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.
Mùa bội thu phải một nắng hai sương.
Ba dòng thơ trên trước hết cho ta hiểu: Muốn có được trái ngọt, hoa thơm, mùa màng bội thu phải trải qua quá trình tích lũy, trải qua những khắc nghiệt của cuộc đời, trải qua những tháng ngày vất vả, cực nhọc chăm sóc, vun trồng.. Qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh: Sự cần mẫn kiên trì, quyết tâm vượt gian khổ sẽ mang đến những thành quả tốt đẹp.
Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:
Như con chim suốt ngày chọn hạt,
Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.
Biện pháp tu từ: so sánh.
Việc so sánh với chú chim chăm chỉ cần mẫn chọn hạt là lời của cha mẹ muốn dạy cho con cái sự kiên trì, tỉ mỉ, cần mẫn trong cuộc sống thì sau này mới gặt hái được quả ngọt.
Biện pháp tu từ nhân hóa: bao dung.
Nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thời gian. Thời gian vẫn trôi theo dòng chảy của cuộc sống, nhưng chính thời gian cũng sẽ tạo nên những điều kì diệu của cuộc sống.
Câu 5. Từ nội dung hai câu thơ "Không có gì tự đến dẫu bình thường - Phải bằng cả bàn tay và nghị lực", hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của nghị lực trong cuộc sống.
Gợi ý
Nghị lực giống như những nấc thang, đưa ta đến gần hơn với đỉnh cao của thành công. Không có nghị lực, thầy Kí sao có thể viết được bằng chân và trở thành thầy giáo? Không có nghị lực, Bác có dám tay không sang Pháp tìm đường cứu nước? Không có nghị lực, anh Nguyễn Công Hùng khuyết tật bốn chi vẫn trở thành hiệp sĩ công nghệ thông tin? Nghị lực sống làm nên giá trị con người, khẳng định vị thế của con người. Người càng giàu nghị lực, càng có được cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa và được xã hội ghi nhận. Người không có nghị lực, sẽ rất khó có được thành quả lớn lao. Vì vậy, dù trong nghịch cảnh, con người có thể đánh mất tất cả, nhưng còn nghị lực thì còn tất cả.
Câu 1 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ là lời nhắn nhủ của cha mẹ dành cho con cái.
Câu 3 (1.0 điểm):
Cụm từ “một nắng hai sương” có ý nghĩa chỉ sự vất vả, gian nan, khó nhọc trong lao động, cuộc sống. Nó thể hiện sự cần cù, chịu khó và nỗ lực không ngừng để đạt được thành quả.
Câu 4 (1.0 điểm):
- Biện pháp tu từ so sánh: “Như con chim suốt ngày chọn hạt”.
- Tác dụng: So sánh hình ảnh con người với con chim chọn hạt giúp nhấn mạnh sự chăm chỉ, kiên trì, cần mẫn trong cuộc sống. Nó khuyến khích con người phải luôn cố gắng, lựa chọn điều tốt đẹp để vươn lên.
Câu 5 (1.0 điểm):
Một thông điệp ý nghĩa rút ra từ bài thơ là: Mỗi người phải tự nỗ lực vươn lên, rèn luyện ý chí và nghị lực để đạt được thành công, không nên trông chờ vào may mắn hay sự giúp đỡ của người khác.
gọi biểu thức đó là c ta có
c= 1×99 + 2×98 + 3×97 + ... + 98×2 + 99×1
C = 1×(100 - 1) + 2×(100 - 2) + 3×(100 - 3) + ... + 98×(100 - 98) + 99×(100 - 99)
C = 1×100 - 12 + 2×100 - 22 + 3×100 - 32 + ... + 98×100 - 982 + 99×100 - 992
C = (1×100 + 2×100 + 3×100 + ... + 98×100 + 99×100) - (12 + 22 + 32 + ... + 992)
C = 100×(1 + 2 + 3 + ... + 98 + 99) - [(1 + 0)×1 + (1 + 1)×2 + (1 + 2)×3 + ... + (1 + 98)×99]
C = 100×(1 + 99)×99:2 + (1 + 0×1 + 2 + 1×2 + 3 + 2×3 + ... + 99 + 98×99)
C = 50×100×99 + [(1 + 2 + 3 + ... + 99) + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)]
C = 495000 + [(1+99)×99:2 + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)]
C = 495000 + 50 × 99 + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)
C = 495000 + 4950 + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)
Đặt A = 0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99
3A = 1×2×(3-0) + 2×3×(4-1) + ... + 98×99×(100-97)
3A = 1×2×3 - 0×1×2 + 2×3×4 - 1×2×3 + ... + 98×99×100 - 97×98×99
3A = (1×2×3 + 2×3×4 + ... + 98×99×100) - (0×1×2 + 1×2×3 + ... + 97×98×99)
3A = 98×99×100
A = 98×33×100
A = 323400
C = 495000 + 4950 + 323400
C = 823350
1×99 + 2×98 + 3×97 + ... + 98×2 + 99×1
C = 1×(100 - 1) + 2×(100 - 2) + 3×(100 - 3) + ... + 98×(100 - 98) + 99×(100 - 99)
C = 1×100 - 12 + 2×100 - 22 + 3×100 - 32 + ... + 98×100 - 982 + 99×100 - 992
C = (1×100 + 2×100 + 3×100 + ... + 98×100 + 99×100) - (12 + 22 + 32 + ... + 992)
C = 100×(1 + 2 + 3 + ... + 98 + 99) - [(1 + 0)×1 + (1 + 1)×2 + (1 + 2)×3 + ... + (1 + 98)×99]
C = 100×(1 + 99)×99:2 + (1 + 0×1 + 2 + 1×2 + 3 + 2×3 + ... + 99 + 98×99)
C = 50×100×99 + [(1 + 2 + 3 + ... + 99) + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)]
C = 495000 + [(1+99)×99:2 + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)]
C = 495000 + 50 × 99 + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)
C = 495000 + 4950 + (0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99)
Đặt A = 0×1 + 1×2 + 2×3 + ... + 98×99
3A = 1×2×(3-0) + 2×3×(4-1) + ... + 98×99×(100-97)
3A = 1×2×3 - 0×1×2 + 2×3×4 - 1×2×3 + ... + 98×99×100 - 97×98×99
3A = (1×2×3 + 2×3×4 + ... + 98×99×100) - (0×1×2 + 1×2×3 + ... + 97×98×99)
3A = 98×99×100
A = 98×33×100
A = 323400
C = 495000 + 4950 + 323400
C = 823350
- Hành vi của Phương và nhóm bạn là bạo lực học đường. Vì các bạn thường xuyên trêu chọc, bắt nạt, nói những lời mỉa mai, xúc phạm về nhân phẩm và có những hành vi cố ý gây ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của Hùng
- Nếu là bạn của Hùng, em sẽ khuyên Hùng nên báo ngay cho giáo viên chủ nhiệm/ nhà trường để kịp thời can thiệp và xử lí
-Hành vi của Phương và nhóm bạn đối với Hùng chính là bạo lực học đường. Bạo lực học đường không chỉ giới hạn ở hành động đánh đập mà còn bao gồm lời nói và hành động gây tổn thương về tinh thần. Ban đầu, nhóm của Phương chỉ mỉa mai ngoại hình và cách ăn mặc của Hùng, nhưng sau đó đã có những hành vi nghiêm trọng hơn như xô đẩy, lấy đồ dùng học tập, viết những lời xúc phạm. Những hành vi này làm ảnh hưởng đến tâm lý của Hùng, khiến bạn ấy cảm thấy sợ hãi, mất tự tin và có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập. Vì vậy, đây là một hình thức bạo lực học đường cần được ngăn chặn
-Nếu là bạn của Hùng, em sẽ khuyên bạn ấy nên mạnh dạn chia sẻ vấn đề này với thầy cô giáo hoặc bố mẹ để nhận được sự giúp đỡ. Bên cạnh đó, Hùng có thể tâm sự với những người bạn đáng tin cậy để có sự an ủi và hỗ trợ. Đồng thời, Hùng cần giữ vững tinh thần, không nên để những lời lẽ và hành động của nhóm bạn bắt nạt làm ảnh hưởng đến bản thân. Nếu nhóm của Phương tiếp tục có những hành vi xấu, Hùng có thể nhờ sự can thiệp của nhà trường để bảo vệ quyền lợi của mình. Quan trọng nhất, Hùng không nên chịu đựng một mình mà cần tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời
Olm chào em. Thay mặt các cô cũng như đội ngũ Olm và các bạn nữ của cộng đồng tri thức hàng đầu Việt Nam Olm cảm ơn những tình cảm tốt đẹp mà em đã giành cho Olm và cho riêng phái nữ.
Chúc em luôn an nhiên, mạnh khỏe, hạnh phúc và gặt hái nhiều thành công. Cảm ơn em đã tin tưởng, yêu mến và đồng hành cùng Olm.
Có lẽ người ra đề không nên có những từ sắp xếp thiếu ý nghĩa tích cực với học sinh em nhỉ?
Trong dòng chảy của văn học viết về gia đình và những con người bình dị, nhân vật dì Bảy trong văn bản “Người ngồi đợi trước hiên nhà” của Huỳnh Như Phương để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc và lặng lẽ đến nao lòng. Dì không phải là một nhân vật lớn lao, không có hành động phi thường hay lời nói đao to búa lớn, nhưng chính sự lặng thầm, nhẫn nại và yêu thương vô điều kiện của dì đã khiến hình ảnh ấy in đậm trong tâm trí người đọc. Dì Bảy là hiện thân của biết bao người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh, sống trọn đời vì người khác mà quên mất bản thân mình.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về dì Bảy là hình ảnh một người phụ nữ luôn ngồi đợi trước hiên nhà. Cái hiên nhà quen thuộc ấy không chỉ là không gian vật chất mà còn là nơi gửi gắm cả cuộc đời chờ đợi, hi vọng và yêu thương của dì. Dì ngồi đó, lặng lẽ, bền bỉ, ngày này qua ngày khác, như thể thời gian có thể trôi đi, mùa có thể thay đổi, nhưng tấm lòng của dì thì vẫn nguyên vẹn, không hề phai nhạt. Hình ảnh ấy vừa giản dị, vừa ám ảnh, khiến tôi bất giác chậm lại, tự hỏi: phải chăng trong cuộc đời này, có những tình cảm chỉ tồn tại trong im lặng nhưng lại bền vững hơn mọi lời nói?
Dì Bảy không hiện lên với những lời than thở hay oán trách số phận. Trái lại, dì sống âm thầm, cam chịu, dường như đã quen với việc hi sinh và chờ đợi. Dì chờ người thân, chờ một sự trở về, chờ một niềm hi vọng mong manh mà chính dì cũng không dám gọi tên. Sự chờ đợi ấy không ồn ào, không bi lụy, mà lặng lẽ như một phần tất yếu của cuộc sống. Chính điều đó khiến tôi xúc động, bởi không phải ai cũng có đủ kiên nhẫn và bao dung để chờ đợi suốt một quãng đời dài như thế.
Điều khiến tôi cảm phục nhất ở dì Bảy là tấm lòng yêu thương vô điều kiện. Dì yêu thương bằng hành động, bằng sự hi sinh thầm lặng chứ không cần lời khẳng định. Dì lo toan cho gia đình, quan tâm đến từng người, từng việc nhỏ, nhưng lại chẳng bao giờ đòi hỏi sự đáp lại. Dì giống như một cái bóng lặng lẽ phía sau, luôn sẵn sàng che chở, nâng đỡ người khác, dù bản thân mình có thể chịu nhiều thiệt thòi. Đọc về dì, tôi nhận ra rằng có những tình yêu không cần được gọi tên, không cần được ca ngợi, nhưng lại là nền tảng để giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Ở dì Bảy, tôi còn cảm nhận được nỗi cô đơn rất con người. Đó không phải là sự cô đơn ồn ào, đau đớn, mà là nỗi cô đơn lặng thầm, âm ỉ, kéo dài theo năm tháng. Dì ngồi trước hiên nhà, nhìn ra khoảng không gian quen thuộc, như đang trông ngóng một điều gì đó xa xôi. Có lẽ trong sâu thẳm tâm hồn, dì cũng có những khát khao rất đời thường: được quan tâm, được thấu hiểu, được sẻ chia. Nhưng dì chọn cách giấu kín những mong ước ấy, để tiếp tục làm chỗ dựa cho người khác. Chính sự kìm nén ấy khiến nỗi cô đơn của dì trở nên day dứt và khiến tôi không khỏi xót xa.
Nhân vật dì Bảy còn khiến tôi nghĩ nhiều đến thân phận của người phụ nữ trong gia đình truyền thống. Họ thường là những người hi sinh nhiều nhất nhưng lại nhận về ít nhất. Cuộc đời họ gắn liền với bếp núc, với sự chờ đợi, với những lo toan không tên. Dì Bảy là đại diện cho những người phụ nữ như thế – những con người âm thầm giữ lửa cho gia đình, dù đôi khi chính họ cũng cần được sưởi ấm. Văn bản không lên án, không phán xét, mà chỉ nhẹ nhàng khắc họa, để từ đó người đọc tự cảm nhận và suy ngẫm.
Tôi đặc biệt ấn tượng với cách tác giả xây dựng hình ảnh dì Bảy thông qua những chi tiết nhỏ, đời thường. Không có những biến cố lớn, không có cao trào kịch tính, nhưng từng cử chỉ, từng khoảnh khắc của dì đều thấm đẫm cảm xúc. Chính sự giản dị ấy làm nên sức mạnh của nhân vật. Dì Bảy không cần phải làm điều gì to tát để trở nên đáng nhớ; chỉ cần ngồi đó, chờ đợi, yêu thương và hi sinh, dì đã đủ để khiến người đọc lặng người suy nghĩ.
Đọc về dì Bảy, tôi không chỉ cảm nhận được nỗi niềm của một nhân vật văn học, mà còn thấy thấp thoáng hình ảnh của những người phụ nữ ngoài đời thực: bà, mẹ, dì, cô – những người đã dành cả đời để chăm lo cho gia đình. Có thể chúng ta đã quen với sự hi sinh ấy đến mức coi đó là điều hiển nhiên, mà quên mất việc bày tỏ lòng biết ơn và yêu thương. Nhân vật dì Bảy như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, rằng hãy biết trân trọng những người đang âm thầm vì mình mà hi sinh.
Từ nhân vật dì Bảy, tôi học được bài học về sự nhẫn nại và lòng bao dung. Dì không sống cho riêng mình, mà sống vì người khác, vì gia đình. Dù cuộc sống có thể không công bằng, dù sự chờ đợi có thể kéo dài vô vọng, dì vẫn chọn cách sống tử tế và yêu thương. Điều đó khiến tôi tự hỏi bản thân: liệu trong cuộc sống hiện đại, vội vã và thực dụng, chúng ta có còn đủ kiên nhẫn và bao dung như dì Bảy hay không?
Khi gấp lại trang sách, hình ảnh dì Bảy ngồi trước hiên nhà vẫn còn đọng lại trong tôi như một nốt trầm buồn nhưng đẹp. Dì không nói nhiều, không đòi hỏi, không than trách, nhưng chính sự im lặng ấy lại vang lên mạnh mẽ trong lòng người đọc. Dì Bảy không chỉ là một nhân vật văn học, mà còn là biểu tượng của tình yêu thương thầm lặng, của sự hi sinh bền bỉ và của những giá trị nhân văn sâu sắc.
Có lẽ, điều khiến nhân vật dì Bảy trở nên đáng nhớ không chỉ nằm ở câu chuyện của riêng dì, mà ở chỗ dì đại diện cho rất nhiều con người trong cuộc sống. Những con người ấy có thể không được nhắc đến, không được ghi nhận, nhưng họ chính là nền tảng để gia đình và xã hội tồn tại. Và chính vì thế, nhân vật dì Bảy đã chạm đến trái tim tôi bằng sự giản dị, chân thành và đầy nhân ái.
Dì Bảy khiến tôi hiểu rằng, trong cuộc đời này, không phải lúc nào ánh sáng cũng đến từ những điều rực rỡ. Đôi khi, ánh sáng đến từ một người lặng lẽ ngồi trước hiên nhà, mang trong mình cả một trời yêu thương và hi sinh mà không cần ai phải gọi tên. Đó chính là vẻ đẹp sâu lắng và bền bỉ nhất của con người – vẻ đẹp mà tôi sẽ còn nhớ mãi khi nghĩ về nhân vật dì Bảy.