soạn bài đêm nay bác không ngủ.
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Các luận điểm chính trong truyện ngắn Anh Hai của Lý Thanh Thảo có thể triển khai như sau
Luận điểm 1 Tình cảm anh em sâu nặng và thiêng liêng, nhân vật Anh Hai luôn yêu thương, quan tâm và sẵn sàng hi sinh vì em, thể hiện sự gắn bó máu thịt trong gia đình
Luận điểm 2 Vẻ đẹp của người anh trong hoàn cảnh khó khăn, Anh Hai giàu trách nhiệm, biết lo toan, chịu đựng vất vả để em được sống và học tập tốt hơn
Luận điểm 3 Sự trưởng thành trong nhận thức của người em, qua những hi sinh thầm lặng của anh, người em hiểu hơn về tình thân và biết trân trọng gia đình
Luận điểm 4 Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm, truyện ca ngợi tình cảm gia đình giản dị mà cao đẹp, nhắc nhở mỗi người biết yêu thương, sẻ chia và sống có trách nhiệm với người thân
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn một là tự sự
Câu 2 Vì trong cuộc sống khi muốn đạt được điều gì con người thường phải chấp nhận những ràng buộc hoặc đánh đổi nhất định, không có sự may mắn hay thành công nào hoàn toàn tự nhiên mà không kèm theo điều kiện
Câu 3 Người đàn ông ước có nhà đẹp, ước giàu có và cuối cùng ước mình mù một mắt để hàng xóm mù cả hai mắt, kết quả là mỗi lần ông ước thì người hàng xóm đều có được gấp đôi, em cho rằng ước mơ cuối cùng thể hiện sự đố kị, ích kỉ và mù quáng vì chỉ muốn người khác khổ hơn mình
Câu 4 Vì lòng đố kị khiến con người trở nên nhỏ nhen, ích kỉ, dễ nảy sinh hận thù và hành động sai trái, không chỉ làm tổn hại người khác mà còn làm bản thân sống trong đau khổ và tiêu cực
Câu 5 Việc trích dẫn đoạn văn một giúp đưa ra một câu chuyện cụ thể làm dẫn chứng sinh động, từ đó làm nổi bật vấn đề về lòng đố kị và tăng sức thuyết phục cho lập luận
Câu 6 Thông điệp em tâm đắc nhất là cần sống cao thượng và biết vui trước thành công của người khác vì điều đó giúp tâm hồn thanh thản và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn
Câu 1
Truyện Cậu bé và cây si già là một câu chuyện ngắn gọn nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về cách ứng xử và lòng trắc ẩn. Tác phẩm xây dựng tình huống đơn giản, một cậu bé khắc tên mình lên thân cây si già, hành động tưởng như vô hại nhưng lại gây đau đớn cho cây. Thông qua lời thoại giữa cây và cậu bé, ý nghĩa câu chuyện dần được bộc lộ.
Hình ảnh cây si già được nhân hóa, biết đau, biết nói, biết hỏi han nhẹ nhàng. Khi bị khắc lên thân mình, cây không trách móc gay gắt mà dùng lời lẽ ôn tồn để trò chuyện. Cách hỏi của cây vừa khéo léo vừa thấm thía, đặc biệt là câu hỏi vì sao cậu không khắc tên lên người mình. Chính câu hỏi ấy khiến cậu bé nhận ra sự vô lí trong hành động của mình.
Nhân vật cậu bé đại diện cho sự vô tư, thiếu suy nghĩ của con người khi gây tổn hại cho người khác hay cho thiên nhiên. Khi nghe cây hỏi, cậu rùng mình vì biết đau và sợ đau, từ đó hiểu ra rằng cây cũng có cảm giác như mình.
Truyện gửi gắm thông điệp hãy biết đặt mình vào vị trí của người khác trước khi hành động. Đừng làm điều mình không muốn người khác làm với mình. Qua cách kể giản dị, đối thoại ngắn gọn, tác phẩm để lại bài học đạo đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về lòng nhân ái và sự tôn trọng.
Câu 2
Trong cuộc sống, cách ứng xử giữa người với người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Từ câu chuyện về cậu bé và cây si già, ta nhận ra rằng trước khi làm điều gì, mỗi người cần biết đặt mình vào vị trí của người khác. Khi ta không muốn bị tổn thương, bị xúc phạm hay bị đối xử thiếu tôn trọng thì cũng không nên làm điều đó với người khác.
Thực tế cho thấy có những lời nói vô tình có thể làm người khác buồn rất lâu, có những hành động thiếu suy nghĩ có thể gây ra tổn thương khó bù đắp. Nếu ai cũng biết suy nghĩ thấu đáo, biết lắng nghe và cảm thông, các mối quan hệ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Sự tôn trọng, chân thành và lòng nhân ái chính là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh.
Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cách ứng xử đúng mực, biết yêu thương, chia sẻ và cư xử có trách nhiệm. Khi ta trao đi sự tử tế, ta cũng sẽ nhận lại sự tử tế, đó là quy luật giản dị nhưng bền vững của cuộc sống.
1 U tương ứng với mẹ
2 Bầm tương ứng với mẹ
3 Thầy tương ứng với bố
4 Bu tương ứng với mẹ
5 Mần tương ứng với làm
6 Răng tương ứng với sao
7 Mô tương ứng với đâu
8 Rứa tương ứng với thế
9 Khoai lang gọi là củ khoai mật tương ứng với khoai lang
10 Ngô tương ứng với bắp
Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng có tính thuyết phục cao vì người viết triển khai luận điểm rõ ràng, mạch lạc và bám sát tác phẩm. Tác giả lần lượt phân tích sự thức tỉnh của ông Diểu trước vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên, qua đó làm nổi bật quá trình chuyển biến trong nhận thức nhân vật. Các dẫn chứng được trích từ truyện khá tiêu biểu, nhất là những chi tiết về tiếng kêu của đàn khỉ và hành động phóng sinh, giúp lập luận cụ thể và sinh động. Bên cạnh đó, người viết kết hợp phân tích và bình luận, đưa ra những nhận xét hợp lí về ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh hoa tử huyền và lối đi khác, làm sáng rõ tư tưởng nhân văn của tác phẩm. Nhờ hệ thống lí lẽ chặt chẽ và cảm nhận tinh tế, bài viết tạo được sự đồng thuận và giúp người đọc hiểu sâu hơn giá trị cái đẹp trong truyện.
Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng đã thể hiện tính thuyết phục cao nhờ hệ thống lí lẽ rõ ràng, dẫn chứng cụ thể và cách phân tích hợp lí. Trước hết, người viết bám sát tác phẩm, trích dẫn nhiều chi tiết tiêu biểu như khung cảnh rừng xuân tươi đẹp, tiếng kêu thảm thiết của đàn khỉ, tâm trạng sợ hãi và day dứt của ông Diểu. Những dẫn chứng ấy giúp làm nổi bật quá trình thức tỉnh và hướng thiện của nhân vật. Bên cạnh đó, bài viết triển khai luận điểm theo trình tự logic, từ vẻ đẹp thiên nhiên, đến vẻ đẹp của sự hướng thiện, rồi kết thúc ở sự hài hòa giữa con người và tự nhiên. Cách phân tích không chỉ dừng ở việc kể lại nội dung mà còn làm rõ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh lối đi khác hay hoa tử huyền. Giọng văn giàu cảm xúc, kết hợp với lập luận chặt chẽ, khiến người đọc nhận ra thông điệp nhân văn sâu sắc về tình yêu thiên nhiên và sự thức tỉnh lương tri. Nhờ vậy, văn bản tạo được sức thuyết phục cả về lí trí lẫn cảm xúc.
Hai đoạn trích đều viết về tình cảm tuổi trẻ trong không gian làng quê nhưng có sắc thái riêng. Ở đoạn thơ của Hàn Mặc Tử, cảm xúc được bộc lộ trực tiếp, mạnh mẽ và đầy say mê. Nhà thơ tập trung khắc họa vẻ đẹp thiếu nữ qua làn môi, ánh mắt, cử chỉ làm duyên, từ đó thể hiện sự rung động nồng nhiệt, có phần táo bạo của cái tôi trữ tình. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, màu sắc tươi tắn, giọng điệu sôi nổi tạo nên một bức tranh xuân trẻ trung, căng tràn sức sống. Trong khi đó, đoạn thơ của Nguyễn Bính lại thiên về nỗi niềm thầm lặng. Tình cảm được đặt trong không gian gần gũi với giậu mồng tơi, mái hiên, con bướm trắng, gợi vẻ mộc mạc, dân dã. Cái tôi trữ tình kín đáo, e dè, chỉ dám gửi gắm ước mong qua giấc mơ và hình ảnh ẩn dụ. Nếu Hàn Mặc Tử nghiêng về sự đắm say trực diện thì Nguyễn Bính nhấn mạnh nỗi buồn và khát khao thầm kín. Cả hai đều góp phần làm phong phú vẻ đẹp của thơ tình làng quê Việt Nam.
Hai đoạn trích đều thể hiện sâu sắc tâm tư của thế hệ trẻ trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, song mỗi đoạn lại có điểm nhấn riêng về nội dung. Ở đoạn trích trong Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc tập trung khắc họa nỗi day dứt, trăn trở của một người lính trẻ trước kẻ thù và trước trách nhiệm của bản thân. Hình ảnh bom đạn, cái chết, máu và nước mắt gợi lên hiện thực chiến tranh tàn khốc, từ đó làm nổi bật khát vọng được trực tiếp ra trận, được cống hiến và chiến đấu cho Tổ quốc. Nội dung đoạn trích nghiêng về ý thức trách nhiệm và lí tưởng sống cao đẹp của tuổi trẻ. Trong khi đó, đoạn trích trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm lại nhấn mạnh sự hi sinh thầm lặng của tuổi xuân. Tác giả ý thức rõ những mất mát riêng tư, những ước mơ hạnh phúc bị gác lại, nhưng trên hết vẫn khẳng định ước mơ lớn lao là Độc lập, Tự do cho đất nước. Nếu đoạn trích thứ nhất nổi bật ở nỗi khắc khoải muốn dấn thân, thì đoạn trích thứ hai làm sáng lên vẻ đẹp của sự hi sinh và trưởng thành trong gian khổ. Cả hai đều cho thấy lí tưởng sống cao cả và tinh thần yêu nước mãnh liệt của thế hệ trẻ thời chiến.
Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 40 km/ giờ, đến B nghỉ 30 phút. Lúc về, đi với vận tốc 25 km/ giờ. Biết thời gian cả đi lẫn về và nghỉ là 5 giờ 40 phút. Tính quãng đường AB?