K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau: XINH NHÃ TRẢ THÙ NHÀ (Trích sử thi Xinh Nhã)     Mấy ngày sau, cây kơ-lông mới đổ. Xinh Nhã tiếp tục chặt cành. Một tháng, hai tháng, ba tháng. Xinh Nhã mới làm xong chiếc khiên. Hàng trăm, hàng nghìn dân làng nhấc khiên không nổi. Xinh Nhã bước tới, một tay nâng khiên, một tay giơ lên đầu, đội về buôn. Về tới nhà, ở một ngày, nghỉ một tháng, Xinh Nhã suy tính chuyện...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

XINH NHÃ TRẢ THÙ NHÀ

(Trích sử thi Xinh Nhã)

    Mấy ngày sau, cây kơ-lông mới đổ. Xinh Nhã tiếp tục chặt cành. Một tháng, hai tháng, ba tháng. Xinh Nhã mới làm xong chiếc khiên. Hàng trăm, hàng nghìn dân làng nhấc khiên không nổi. Xinh Nhã bước tới, một tay nâng khiên, một tay giơ lên đầu, đội về buôn. Về tới nhà, ở một ngày, nghỉ một tháng, Xinh Nhã suy tính chuyện đi đòi xương cho cha, trả thù cho mẹ.

    (Đoạn dưới đây miêu tả cuộc chiến đấu cuối cùng của Xinh Nhã với anh em Gia-rơ Bú.)

    [...] Hai bên đánh nhau. Năm em trai của Gia-rơ Bú đã bỏ đầu tại gốc cây đa, bỏ thân tại núi lạ. Gia-rơ Bú bứt rứt, ngồi không yên, nằm không được, tay trái lấy chiếc khiên, tay phải nắm cán đao, Gia-rơ Bú đi vào rẫy của Hơ-bia Bơ-lao.

    Xinh Nhã: - (Gặp Gia-rơ Bú) Ở Gia-rơ Bú, ai chạy trước?

    Gia-rơ Bú: - Hỡi con chim linh mọc chưa đủ lông cánh, hãy múa thử đi!

    Xinh Nhã quay khiên múa. Đất bụi bay mù mịt như mây trời tháng Bảy. Xinh Nhã nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, phăng qua đầu đèo, nhanh hơn bầy chim diều, chim ó. Gia-rơ Bú nhìn theo, tối mày tối mặt, không đoán được đường đao của Xinh Nhã chĩa về hướng nào.

    Gia-rơ Bú: - Được, bây giờ ta không giết được mày thì ta sẽ tìm cách phá sạch làng mày! Té ra đứa nào cũng là đầu đen máu đỏ cả sao?

    Xinh Nhã: - (Ngừng múa) Ơ Gia-rơ Bú! Ta đang đứng ở phía Mặt Trời mọc đây rồi. Bây giờ thì ngươi múa đi, ta đuổi theo.

    Gia-rơ Bú múa lúng túng, múa loanh quanh như con gà mắc tóc, như sao lạc đường. Đường đao chỉ đâm vào giữa trống không. Xinh Nhã mới đi một bước, đã chém trúng ngay chân Gia-rơ Bú.

    Xinh Nhã: - Ơ Gia-rơ Bú, máu gì chảy ở chân đấy?

    Gia-rơ Bú: - Máu con vắt ở núi Hơ-mũ cắn tao.

    Gia-rơ Bú múa tiếp, Xinh Nhã chém luôn cánh tay phải, chiếc đao rơi rỏn rẻn...

    Xing Nhã: - Tại sao khiên của ngươi rơi mất rồi?

    Gia-rơ Bú: - Không phải! Đó là tiếng kêu của chiếc lục lạc cho trẻ con chơi, tiếng và của con diều đói gió đấy!

    Gia-rơ Bú cố sức múa nữa, nhưng lần này chưa kịp trở tay thì chiếc khiên đã bị Xinh Nhã đánh vỡ tung, rơi xuống đất. Cuối cùng đôi bên chỉ còn Pơ-rong Mưng và Xinh Nhã đánh nhau.

    [...] Trên trời, dưới đất, mây mưa mịt mù, gió bão ầm ầm, đổ cây lở núi. Hai bên đánh nhau từ khi trái kho-la chín, đến mùa kê trổ, vẫn không phân thắng bại. Cả hai đều kiệt sức, ngã trước chòi của Hơ-bia Bơ-lao.

    (Cuối cùng, nhờ sự giúp sức của Hơ-bia Bơ-lao, Xinh Nhã giết chết Pơ-rong Mưng - người cuối cùng trong bảy anh em nhà Gia-rơ Bú, trả thù cho cha, cứu mẹ già thoát khỏi cuộc sống nô lệ.)

(Theo Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.

Câu 2. Xinh Nhã tìm gặp Gia-rơ Bú để làm gì?

Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu sau: Gia-rơ Bú múa lúng túng, múa loanh quanh như con gà mắc tóc, như sao lạc đường. 

Câu 4. Nhận xét một phẩm chất nổi bật của Xinh Nhã được thể hiện trong văn bản.

Câu 5. Theo anh/chị, qua hình ảnh người anh hùng Xinh Nhã, người dân Ê-đê muốn thể hiện ước mong gì?

0
Đọc văn bản sau:     Thần Mưa là vị thần hình Rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi. Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

    Thần Mưa là vị thần hình Rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi. Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội. Do đó mà có lần ở hạ giới phải lên kiện trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày. Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình thần Mưa có khi không làm hết, nên có lần Trời mở một cuộc thi chọn các giống thủy tộc có tài trở thành Rồng hút nước phun mưa giúp sức thần Mưa. Cuộc thi Rồng đó, Trời đã chọn lấy địa điểm ở cửa Vũ (Vũ Môn) thuộc Hà Tĩnh ngày nay. Do đó mà trong dân gian đã có câu hát về việc cá gáy hóa Rồng: Mồng ba cá đi ăn thề, Mồng bốn cá về cá vượt Vũ Môn.

    Khi trời đất mới sinh, chính Trời phải làm mưa cho dân sự làm ăn. Sau vì khó nhọc quá, Trời không làm lấy mưa nữa. Trời mới sai Rồng lấy nước phun xuống làm ra mưa. Nhưng vì số Rồng trên trời ít, không đủ làm mưa cho điều hòa khắp mọi nơi, Trời mới đặt ra một kỳ thi kén các vật lên làm Rồng gọi là thi Rồng. Khi chiếu Trời ban xuống dưới Thuỷ phủ, vua Thuỷ Tề loan báo cho các giống dưới nước ganh đua mà dự thi. Trời cắt một viên Ngự sử ra sát hạch. Hạch có ba kỳ, mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa Rồng. Trong một tháng trời, bao nhiêu loài Thủy tộc đến thi đều bị loại cả, vì không con nào vượt qua được cả ba đợt sóng. Sau có con cá rô nhảy qua được một đợt thì bị rơi ngay, nên chỉ có một điểm. Có con tôm nhảy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa Rồng, thì đến lượt thứ ba, đuối sức ngã bổ xuống, lưng cong khoăm lại và chất thải lộn lên đầu. Hai con cùng phải trở lại yên nghiệp ở đồng như trước. Đến lượt cá chép vào thi, thì gió thổi ào ào, mây kéo đầy trời, chép vượt luôn một hồi qua ba đợt sống, vào lọt cửa Vũ Môn. Cá chép đỗ, vây, đuôi, râu, sừng tự nhiên mọc đủ, dáng bộ oai nghi, cá chép hóa Rồng phun nước làm ra mưa.

(Trích Thần Mưa, Quyển ba: Thần thoại (Việt Nam - Trung Hoa), Tuyển tập văn chương nhi đồng, Doãn Quốc Sĩ, NXB Sáng Tạo, 1970, tr. 32 - 33)​

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2. Theo văn bản, vì sao có cuộc thi vượt Vũ Môn?

Câu 3. Vì sao có thể khẳng định Thần Mưa là nhân vật thần thoại?

Câu 4. Các chi tiết kì ảo được sử dụng trong văn bản có ý nghĩa gì?

Câu 5. Theo anh/chị, hình ảnh cá chép vượt Vũ Môn có ý nghĩa gì đối với giới trẻ ngày nay?

1
3 tháng 1

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính:  Tự sự (kể lại sự việc và các nhân vật).

Câu 2.

-Do công việc phân phối nước quá nặng nề, một mình Thần Mưa không làm hết.

-Số lượng Rồng trên trời quá ít, không đủ để làm mưa điều hòa khắp mọi nơi.

-Vì vậy, Trời mở cuộc thi để chọn các loài thủy tộc có tài năng hóa Rồng nhằm hỗ trợ phun mưa.

Câu 3.

-Nguồn gốc và hình dáng: Là vị thần có hình Rồng, do Trời sai phái.

-Năng lực siêu nhiên: Có khả năng hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời phun mưa cho thế gian.

-Chức năng: Giải thích hiện tượng tự nhiên (mưa, hạn hán, lũ lụt) theo quan niệm của người xưa.

Câu 4. Ý nghĩa của các chi tiết kì ảo:

-Giúp giải thích các hiện tượng tự nhiên (mưa, lũ, hạn hán) và đặc điểm của các loài vật (tôm lưng cong, cá chép hóa rồng) một cách thú vị.

-Làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, lôi cuốn và mang đậm màu sắc huyền bí.

-Tôn vinh vẻ đẹp của sự nỗ lực và khát vọng vươn tới tầm cao mới qua hình ảnh vượt Vũ Môn.

Câu 5. Ý nghĩa của hình ảnh "Cá chép vượt Vũ Môn" đối với giới trẻ ngày nay:

-Biểu tượng của nghị lực: Nhắc nhở về tinh thần kiên trì, vượt qua khó khăn, thử thách để đạt được mục tiêu.

-Khát vọng đổi đời: Khuyến khích việc không ngừng học hỏi, rèn luyện tài năng để "hóa rồng" (thành công) trong cuộc sống.

-Bài học về sự chuẩn bị: Thành công chỉ đến với những ai có đủ thực lực và lòng quyết tâm, không ngại gian khổ.

Đọc đoạn trích sau: SỰ TÍCH ÔNG ĐÙNG, BÀ ĐÙNG     Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, nghĩa là ông bà khổng lồ.    Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, ngập lênh láng khắp...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau:

SỰ TÍCH ÔNG ĐÙNG, BÀ ĐÙNG

    Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, nghĩa là ông bà khổng lồ.

   Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy.

   Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay.

   Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” như bây giờ.

(Theo Truyện cổ dân tộc Mường)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.

Câu 2. Theo văn bản, vì sao hai nhân vật chính được gọi là ông Đùng, bà Đùng?

Câu 3. Nêu tác dụng của của những chi tiết kì ảo trong văn bản.

Câu 4. Nêu nhận xét về thời gian, không gian trong văn bản.

Câu 5. Qua văn bản, anh/chị hãy cho biết vì sao người thời cổ lại lí giải sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng bằng quá trình sáng tạo thế giới của các nhân vật siêu nhiên?

3
3 tháng 1

Câu 1.Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể giấu mặt, gọi tên các nhân vật).

Câu 2. Vì họ có thân hình cao lớn khác thường (cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất). Trong tiếng Mường, "Đùng" có nghĩa là khổng lồ.

Câu 3. Tác dụng của những chi tiết kì ảo:

-Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, sinh động.

-Tôn vinh sức mạnh phi thường của con người trong việc chinh phục thiên nhiên.

-Thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa.

Câu 4. Nhận xét về thời gian, không gian:

-Thời gian: Mang tính phiếm chỉ, cổ xưa ("Ngày xửa ngày xưa"), đặc trưng của truyện thần thoại/truyền thuyết.

-Không gian: Không gian vũ trụ đang trong quá trình hình thành, hoang sơ, rộng lớn (xứ Mường Bi, núi cao, sông Đà).

Câu 5.

-Do trình độ nhận thức thời bấy giờ còn hạn chế, chưa giải thích được các hiện tượng tự nhiên bằng khoa học.

-Thể hiện khát vọng hiểu biết và mong muốn làm chủ thiên nhiên của con người cổ đại.

-Gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng và lòng biết ơn đối với tổ tiên, những người có công khai phá đất đai.



Câu 1.

Ngôi kể của người kể chuyện là ngôi thứ ba (ngôi kể chuyện), sử dụng các đại từ như "họ", "ông Đùng, bà Đùng", "hồi ấy", "thấy vậy" để kể lại sự việc một cách khách quan, không trực tiếp tham gia vào câu chuyện.

Câu 2.

Hai nhân vật chính được gọi là ông Đùng, bà Đùng vì họ là những người khổng lồ, cao lớn khác thường, đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất, thể hiện sức mạnh và tầm vóc phi thường của họ trong truyền thuyết dân gian Mường.

Câu 3.

Những chi tiết kì ảo như nhân vật khổng lồ cao lớn, làm việc chỉ trong một ngày để san lấp đất đai, đào sông, tạo ra cảnh quan mới, giúp văn bản trở nên hấp dẫn, huyền bí, thể hiện trí Tưởng tượng phong phú của dân tộc Mường, đồng thời nhấn mạnh công lao to lớn của các anh hùng trong việc hình thành thế giới tự nhiên.

Câu 4.

Thời gian trong văn bản là "ngày xửa ngày xưa" – một khái niệm cổ điển, mơ hồ, không cụ thể, tạo không gian cho sự kỳ ảo và truyền thuyết. Không gian là "xứ Mường Bi" với địa hình cao thấp, lồi lõm, cây cối hoang dại, nước ngập lênh láng, sau đó được biến đổi thành cánh đồng bằng phẳng và sông Đà, phản ánh sự chuyển biến từ hoang vu sang văn minh.

Câu 5:

Người thời cổ lí giải sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng (như sông Đà, thác ghềnh) bằng quá trình sáng tạo của các nhân vật siêu nhiên để giải thích nguồn gốc tự nhiên một cách dễ hiểu, gần gũi, thể hiện niềm tin vào sức mạnh của con người và các vị thần, đồng thời giáo dục thế hệ sau về công lao lao động và sự gắn bó với đất đai, thiên nhiên.Bạn có muốn tôi phân tích thêm về ý nghĩa văn


Đọc văn bản sau: Có tiếng hát nào văng vẳng khơi xa Tôi đi tìm em nàng tiên bé nhỏ Em ở đâu giữa muôn trùng sóng bể Sóng bồn chồn vỡ dưới chân tôi… Tôi đã tin cổ tích tự lâu rồi, Như em vẫn tin tình yêu có thực. Đi hết tuổi thơ tôi còn day dứt, Hoàng tử vô tình hay Andecxen quên? Biển mặn mòi như nước mắt của em, Cho tôi mơ về những điều không thể. Em là nàng tiên mang trái tim...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

Có tiếng hát nào văng vẳng khơi xa
Tôi đi tìm em nàng tiên bé nhỏ
Em ở đâu giữa muôn trùng sóng bể
Sóng bồn chồn vỡ dưới chân tôi…

Tôi đã tin cổ tích tự lâu rồi,
Như em vẫn tin tình yêu có thực.
Đi hết tuổi thơ tôi còn day dứt,
Hoàng tử vô tình hay Andecxen quên?

Biển mặn mòi như nước mắt của em,
Cho tôi mơ về những điều không thể.
Em là nàng tiên mang trái tim trần thế,
Bởi biết yêu nên đã hoá con người.

Thôi ngủ đi em biển đã xa rồi,
Biển đã xa em đừng thao thức nữa…
Khi tình yêu không là hai nửa
Nguyên vẹn bao giờ mà vỡ tan thêm…

Thôi ngủ đi nào, đêm Andecxen
Dẫu tuyết lạnh vào ngày mai bão tố,
Dẫu thạch thảo nở hoa bốn mùa dang dở,
Que diêm cuối cùng sẽ cháy trọn tình yêu.

(Lời ru miền cổ tích, Hoàng Cẩm Giang, rút từ tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 12/2008)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2. Văn bản gợi nhắc đến những tác phẩm nào của nhà văn Andecxen?

Câu 3. Theo anh/chị, việc gợi nhắc các tác phẩm của nhà văn Andecxen trong văn bản có tác dụng gì?

Câu 4. Phân tích giá trị của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu thơ Biển mặn mòi như nước mắt của em.

Câu 5. Nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của nhân vật trữ tình được thể hiện trong khổ thơ cuối.

24
27 tháng 1

Câu 1:

9 tháng 2

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm. Câu 2. Văn bản gợi nhắc đến các tác phẩm của nhà văn An-đéc-xen : Nàng tiên cá Hoàng tử bé Câu 3. Việc gợi nhắc các tác phẩm của An-đéc-xen có tác dụng: Gợi không gian cổ tích, mộng mơ, trong trẻo. Làm nổi bật niềm tin vào tình yêu, cái đẹp và điều thiện. Tăng chiều sâu cảm xúc và ý nghĩa biểu tượng cho bài thơ. Câu 4. Biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ “Biển mặn mòi như nước mắt của em” có giá trị: Gợi nỗi đau buồn, mất mát, xót xa trong tình yêu. Làm hình ảnh thơ trở nên cụ thể, giàu cảm xúc. Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của nhân vật trữ tình với “em”. Câu 5. Vẻ đẹp của nhân vật trữ tình trong khổ thơ cuối: Là người chung thủy, giàu yêu thương, luôn tin vào tình yêu đích thực. Dù tổn thương vẫn giữ niềm tin vào cái đẹp và điều thiện. Mang vẻ đẹp nhân văn, lãng mạn và giàu cảm xúc.

Đọc văn bản sau: Miền Trung Câu ví dặm nằm nghiêng Trên nắng và dưới cát Đến câu hát cũng hai lần sàng lại Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm. Miền Trung Bao giờ em về thăm Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ Không ai gieo mọc trắng mặt người. Miền Trung Eo đất này thắt đáy lưng ong Cho tình người đọng mật Em...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

Miền Trung
Câu ví dặm nằm nghiêng
Trên nắng và dưới cát
Đến câu hát cũng hai lần sàng lại
Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm.

Miền Trung
Bao giờ em về thăm
Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt
Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ
Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ
Không ai gieo mọc trắng mặt người.

Miền Trung
Eo đất này thắt đáy lưng ong
Cho tình người đọng mật
Em gắng về
Đừng để mẹ già mong...

(Trích Miền Trung, Hoàng Trần Cương, Thơ hay Việt Nam thế kỉ XX, NXB Văn hóa Thông tin, 2006, tr. 81 - 82)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Chỉ ra hai hình ảnh trong đoạn trích cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung.

Câu 3. Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về con người và mảnh đất miền Trung?

Miền Trung
Eo đất này thắt đáy lưng ong
Cho tình người đọng mật

Câu 4. Việc vận dụng thành ngữ trong dòng thơ Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt có tác dụng gì?

Câu 5. Anh/Chị hãy nhận xét về tình cảm của tác giả đối với miền Trung được thể hiện trong đoạn trích.

26
27 tháng 1

Câu 1: thể thơ tự do

Câu2: hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt cuar thiên nhiên miền Trung là

-“ trên nắng và dưới cát” diễn tả cái nóng và sộ khô cằn

-“gió bão là tốt tươi như cỏ” so sánh ngược để nhấn mạnh thiên tai xảy ra thường xuyên và dữ dội

9 tháng 2

Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Câu 2. Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung: “Trên nắng và dưới cát” → nắng nóng, khô hạn. “Sao lụt tai rồi vẫn dày dứt quanh năm” → bão lũ, thiên tai triền miên. Câu 3. Những dòng thơ giúp hiểu rằng: Miền Trung là mảnh đất nghèo khó, khắc nghiệt. Con người miền Trung chịu thương chịu khó, giàu tình nghĩa, gắn bó sâu nặng với quê hương. Câu 4. Việc vận dụng thành ngữ trong câu “Mảnh đất nghèo mỏng tới không kịp rớt” có tác dụng: Nhấn mạnh sự nghèo nàn, khô cằn của đất đai miền Trung. Tăng tính hình ảnh, biểu cảm, làm câu thơ gần gũi với đời sống. Câu 5. Qua đoạn trích, tác giả thể hiện tình cảm yêu thương, xót xa, gắn bó sâu nặng với miền Trung; vừa cảm thông trước những gian khó, vừa trân trọng vẻ đẹp tâm hồn con người nơi đây.

Đọc văn bản sau: Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồng Rút những cọng rơm vàng về kết tổ Đã dạy ta với cánh diều thơ nhỏ Biết kéo về cả một sắc trời xanh Biết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành "Tuổi của mụ" con nằm tròn bụng mẹ Để con quý yêu tháng ngày tuổi trẻ Buổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi... Biết ơn trò chơi tuổi nhỏ mê...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồng
Rút những cọng rơm vàng về kết tổ
Đã dạy ta với cánh diều thơ nhỏ
Biết kéo về cả một sắc trời xanh

Biết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành
"Tuổi của mụ" con nằm tròn bụng mẹ
Để con quý yêu tháng ngày tuổi trẻ
Buổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi...

Biết ơn trò chơi tuổi nhỏ mê ly
"Chuyền chuyền một..." miệng, tay buông bắt
Ngôn ngữ lung linh, quả chuyền thoăn thoắt
Nên một đời tiếng Việt mãi ngân nga...

Biết ơn dấu chân bấm mặt đường xa
Những dấu chân trần, bùn nặng vết
Ta đi học quen dẫm vào không biết
Dáng cuộc đời in mãi dáng ta đi...

(Trích Lời chào - trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Dẫn theo Tư liệu Ngữ văn 12, NXB Giáo dục, tr.69)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn trích.

Câu 2. Trong đoạn trích, nhân vật trữ tình bày tỏ lòng biết ơn đối với những đối tượng nào?

Câu 3. Dấu ngoặc kép trong dòng thơ "Chuyền chuyền một..." miệng, tay buông bắt có công dụng gì? 

Câu 4. Nêu hiệu quả của phép lặp cú pháp được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 5. Thông điệp nào trong đoạn trích có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?

43
27 tháng 1

Câu 1

Thể thơ tự do

Câu2:

Nhân vật trữ tình bày tỏ lòng biết ơn đối với người mẹ

Câu3 dấu ngoặc kép được dùng để đánh dấu từ ngữ được trích dẫn trực tiếp

Câu4 Hiệu quả của phép lặp cú nháp “Biết ơn..” nhấn mạnh thái độ sống nhân nghĩa, thuỷ chung,

- tạo nhịp điệu tự sự kết nối hình ảnh và thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức

Câu 5: thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em là lòng biết ơn và trách nhiệm của cá nhân đối với cội nguồn, nhân dân

Câu 1 thể thơ tự do

Câu 2

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên. Bài đọc:     (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên.

Bài đọc:

    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

    (1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

    - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

    Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

    (2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh TrìLan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)

1

Trong "Chuyện tình ở Thanh Trì" tác giả đã khéo léo vẽ lên một bức tranh sinh động về cuộc sống và con người trong xã hội Việt Nam trước cách mạng, với những mâu thuẫn sâu sắc và bi kịch con người bị xã hội phong kiến kìm hãm. Câu chuyện tình yêu giữa hai nhân vật chính không chỉ là một cuộc đấu tranh tình cảm mà còn là sựu phản ánh chân thực về những định kiến, bất công và sự phân biệt giai cấp trong xã hội đương thời. Tình yêu của họ bị ràng buộc bởi những quy tắc khắt khe của gia đình, dòng tộc và xã hội, khiến họ không thê tự do sống thật với bản thân. Hình ảnh những con người trong tác phẩm, dù đầy khát vọng và ước mơ, lại phải gánh chịu những đớn đau khi tình yêu chân thành của họ không thể vượt qua được các chuẩn mực xã hội. Qua đó, ông tái hiện một xã hội đầy bất công, nơi mỗi cá nhân đều phải đánh đổi hạnh phúc cá nhân vì trách nhiệm và những quy ước phong kiến. Câu chuyện không chỉ là một bi kịch tình yêu mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ về một xã hội mà ở đó con người không thể lựa chọn hạnh phúc cho mình.

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Nguyễn Sinh trong đoạn trích trên. Bài đọc:     (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Nguyễn Sinh trong đoạn trích trên.

Bài đọc:

    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

    (1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

    - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

    Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

    (2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)

1

Đoạn trích "Chuyện tình ở Thanh Trì" trích "Lan trì kiến văn lục" đã nói lên sự vượt lên rào cản số phận của tình yêu đôi lứa ở xã hội xưa. Tuy vậy, em lại đặc biệt ấn tượng sâu sắc khi tìm hiểu về nhân vật chàng trai trong truyện - Nguyễn Sinh. Có thể thấy rõ trong văn bản, chàng là một người có dung mạo đẹp, tư chất vốn đã thông minh, đã thế giọng hát lại trong trẻo, ngọt ngào nhưng hoàn cảnh của chàng lại rất éo le, khốn khó. Bởi Nguyễn Sinh từ nhỏ đã mồ côi cha, phải tạm gác lại việc học, tìm một công việc tạm bợ mà sinh sống qua ngày - chèo đò. Thế nhưng, khi cô con gái nhà giàu họ Trần đem lòng cảm mến chàng, nhờ người manh mối thì cha của nàng lại phá vỡ tình cảm giữa họ. Chính sự việc này khiến chàng khổ tâm, đau lòng, dằn vặt bản thân, phẫn chí mà bỏ đi xa để lập nghiệp, tự nhủ với lòng rằng sẽ tìm đủ tiền để cưới xin được nàng. Nhưng số phận lại lần nữa trêu đùa chàng trai tội nghiệp, khi mà đã rạng danh trở về, ao ước được thấy nụ cười của người mình yêu, chàng lại hay tin rằng cô gái vì quá buồn lòng mà đã ra đi mãi mãi. Từ hành động sắm sửa lễ vật đến điếu nàng cho đến sự việc nhận lấy món quà cuối cùng mà người thương để lại, có thể thấy Nguyễn Sinh là người chung thủy, tấm lòng son sắc, không phụ bạc người mình yêu và cái chết cũng không thể chia lìa được tình cảm thiêng liêng, to lớn ấy của họ. Qua hình tượng Nguyễn Sinh, nhà văn Vũ Trinh muốn nói lên khát vọng được bày tỏ của tình cảm đôi lứa, tình cảm thuần khiết, trong trẻo, đáng quý nhất và phê phán những lối hủ tục thời phong kiến của xã hội xưa.


(2 điểm) Viết đoạn văn phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Tặng một vầng trăng sáng” của nhà văn Lâm Thanh Huyền. Bài đọc: TẶNG MỘT VẦNG TRĂNG SÁNG     Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vằng, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.     Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Tặng một vầng trăng sáng” của nhà văn Lâm Thanh Huyền.

Bài đọc:

TẶNG MỘT VẦNG TRĂNG SÁNG

    Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vằng, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.

    Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của mình bị kẻ cắp lục lọi, kẻ cắp tìm không ra của cải gì, lúc sắp sửa bỏ đi thì gặp thiền sư ở cổng. Thì ra, sợ kẻ trộm giật mình, thiền sư từ nãy đến giờ cứ đứng đợi ở cổng. Ngài chắc chắn kẻ trộm không tìm được bất cứ đồ đạc gì đáng giá, liền cởi chiếc áo ngoài của mình cầm sẵn trong tay.

    Kẻ cắp đang trong lúc kinh ngạc bối rối thì thiền sư nói:

    - Từ đường rừng núi xa xôi, cậu đến thăm tôi, dù thế nào đi nữa cũng không thể để cậu ra về tay không! Đêm lạnh, cậu hãy mang theo chiếc áo này!

    Vừa nói, ngài vừa khoác chiếc áo lên người kẻ cắp. Hắn ta lúng túng không biết làm thế nào, cúi đầu chuồn thẳng. Nhìn theo bóng kẻ cắp đi dưới ánh trăng vằng vặc, rồi mất hút trong rừng núi, thiền sư không khỏi cảm thương rồi khảng khái thốt lên:

    - Hỡi con người đáng thương kia, ta chỉ mong được tặng cậu một vầng trăng sáng.

    Sau khi tiễn đưa kẻ cắp bằng mắt, thiền sư đi vào am tranh ngồi thiền, ngài nhìn trăng sáng ngoài cửa sổ rọi vào khoảng không trong nhà.

    Hôm sau, dưới sự vuốt ve dịu dàng, ấm áp của ánh trăng, từ trong buồng thiền sâu thẳm, ngài mở mắt ra nhìn thấy chiếc áo ngoài mà ngài đã khoác lên người kẻ cắp được gấp gọn gàng tử tế đặt ở cửa. Vô cùng sung sướng, thiền sư lẩm bẩm nói:

    - Cuối cùng ta đã tặng cậu ấy một vầng trăng sáng.

(Lâm Thanh Huyền, Truyện cực ngắn, NXB Quân Đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.7-8)

Chú thích: Tác giả Lâm Thanh Huyền (1953 - 2019). Ông là nhà văn, nhà thơ có nhiều giải thưởng văn học. Đặc điểm trong văn của ông là sự dung hợp, lĩnh hội giữa tôn giáo và văn học. Ngôn ngữ trong sáng, giàu đẹp, kinh nghiệm sống phong phú, thấm nhuần tinh thần Phật Giáo với những triết lí nhân sinh sâu sắc.

1

Truyện ngắn "Tặng một vầng trăng sáng" của Lâm Thanh Huyền gây ấn tượng sâu sắc bởi những nét đặc sắc nghệ thuật độc đáo. *Thứ nhất, tác phẩm xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà giàu chất thiền*. Tình huống thiền sư bắt gặp kẻ trộm trong am tranh của mình vốn đã éo le, nhưng cách ứng xử của ngài lại càng bất ngờ: không tức giận, không hô hoán mà chủ động đứng đợi, cởi áo tặng. Chính sự "ngược đời" ấy đã đẩy kịch tính lên cao và làm nổi bật tư tưởng của truyện. *Thứ hai, nghệ thuật xây dựng nhân vật tương phản làm nổi bật chủ đề*. Một bên là kẻ trộm lén lút, lo sợ, nghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần. Một bên là thiền sư ung dung, tự tại, giàu lòng từ bi. Sự đối lập này khiến hành động "tặng áo" của thiền sư càng trở nên cao đẹp, cảm hóa được cái ác. *Thứ ba, ngôn ngữ truyện ngắn gọn, hàm súc nhưng giàu hình ảnh và chất thơ*. Hình ảnh "vầng trăng sáng" vừa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho lòng từ bi, trí tuệ, cho vẻ đẹp của tâm hồn đã giác ngộ. Lời văn nhẹ nhàng mà thấm thía, không triết lý khô khan nhưng vẫn khiến người đọc phải suy ngẫm. *Cuối cùng, kết cấu truyện mở* với hình ảnh vầng trăng đã "tặng" cho kẻ trộm đã khép lại tác phẩm nhưng mở ra sự thức tỉnh trong tâm hồn nhân vật và cả người đọc. Chính những đặc sắc nghệ thuật ấy đã làm nên sức hấp dẫn và giá trị nhân văn sâu sắc cho truyện ngắn.

(2 điểm) Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đức trong truyện ngắn Thằng gù của Hạ Huyền. Bài đọc: ​THẰNG GÙ      Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đức trong truyện ngắn Thằng gù của Hạ Huyền.

Bài đọc:

THẰNG GÙ

     Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm từ trong phòng học (phòng học của chúng tôi ở tầng hai), tôi thấy thằng Gù chăn trâu ngoài cánh đồng. Cái hình người gấp khúc, chỗ đỉnh gù cao hơn chỏm đầu khiến tôi nhận ngay ra nó. Nó và con trâu giống như hai chấm đen nổi lên giữa màu xanh rười rượi của cánh đồng. Nó đứng nhìn về phía trường học. Tiếng đọc bài đồng thanh của chúng tôi vang vang lan tỏa ra xung quanh. Chắc nó nghe được tiếng đọc bài. Cái chấm đen gấp khúc, bé nhỏ dường như bất động. Chỉ có con trâu thỉnh thoảng lại vươn cổ lên kêu “nghé ọ” một hồi dài.

     Thằng Gù lảng tránh tất cả các trò chơi của chúng tôi. Những tiếng trêu chọc: “Ê, con lạc đà châu Phi.”, “Tránh ra chúng mày ơi cho bà còng đi chợ.” làm nó càng cúi gập người xuống, mắt dí vào bụng. Nó im lặng len lét vòng qua chỗ chúng tôi đang chơi đùa. Có lần, nó bỏ chạy. Bọn trẻ cười ré khi thấy cái hình gấp khúc đó cứ như lăn về phía trước. Chao ôi, thằng Gù...

     [...] Một buổi chiều mưa vừa dứt, nắng mới tưng tửng hé sáng vạt đồi, chúng tôi chợt nghe tiếng đàn ghi ta vang lên từ chiếc loa nén nào đó. Có người hát rong về làng. Đây quả là cả một sự kiện đối với cái làng đang mê mệt, thiếp lặng đi sau những trận mưa ròng rã này. Chúng tôi ùa ra xem. Người lớn, trẻ con, vòng trong, vòng ngoài lố nhố vây quanh đoàn người hát rong. Tôi gọi là đoàn vì họ có tới ba người. Hai đứa trẻ và một người đàn ông mang kính đen, đeo cây đàn ghi ta trước bụng, Trong hai đứa trẻ, có một đứa giống hệt thằng bé tật nguyền của làng tôi. Nó cũng bị gù.

     Nó biểu diễn nhiều trò. Buồn cười nhất là trò trồng cây chuối. Không phải nó trồng cây chuối bằng tay và đầu như lũ trẻ chúng tôi thường làm. Nó trồng bằng cái lưng gù. Đoạn gấp giữa đỉnh gù và đầu thành cái đế đỡ đôi chân khẳng khiu của nó dựng đứng. Mỗi lần nó trồng cây chuối mọi người lại cười ồ. Có người hứng chí vỗ tay hét: “Trồng lại đi, thế thế...”. Nghe tiếng hô, thằng gù đỏ căng mặt mày, lên gân tì cái lưng gù xuống đất cố duỗi thẳng đôi chân. Phải trồng cây chuối nhiều lần nên trán nó ướt nhầy mồ hôi. Đã thế tiếng hô “Làm lại đi.” vẫn thúc giục không ngớt.

     Giữa lúc đó thì nó chen chân vào. Thằng Gù của làng tôi. Tiếng cười rộ: “À, hai thằng gù. Đức ơi, mày trồng thêm cây chuối nữa đi.”. Tôi nín thở nhìn theo nó. Nó chen vào làm gì, cho tiền những người hát rong chăng? Tiếng ghi ta điện vẫn bập bùng, rấm rứt. Nó từ từ đi đến bên “cây chuối” người. Đỡ thằng bé gù đứng thẳng lại, nó bỗng quắc mắt nhìn vòng người vây quanh. Bất ngờ nó thét:

     - Thế mà cười được à? Đồ độc ác!

     Sau tiếng thét của nó, đám đông bừng tỉnh. Tiếng cười tắt lặng. Người đàn ông đang gảy đàn cũng dừng tay sững sờ. Tất cả các cặp mắt dồn về nó. Khuôn mặt thằng Đức đẫm lệ. Nó móc túi áo ngực lôi ra những đồng tiền được gấp cẩn thận đặt vào lòng mũ của người hát rong. Đôi vai nó rung rung thổn thức. Cái vòng người đang vây quanh tự nhiên gãy vỡ. Đứt từng quãng. Không ai bảo ai, từng người một lặng lẽ tan dần. Tất cả bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng cúi gằm mặt xuống. Tiếng sấm ì ùng từ dãy núi dội đến. Hình như trời lại sắp mưa.

(Theo Hạ Huyền, Con gái người lính đảo, NXB Giáo dục, 2003)

1

Trong truyện ngắn Thằng Gù của Hạ Huyền, nhân vật Đức hiện lên là một cậu bé bất hạnh nhưng giàu nghị lực và khát khao được học tập. Đức bị tật nguyền, lưng gù nên thường bị mọi người gọi bằng cái tên đầy mặc cảm là “thằng Gù”. Dù đã hơn mười tuổi, em vẫn chưa được đến trường như bao bạn bè cùng trang lứa. Hình ảnh Đức chăn trâu ngoài đồng, lặng lẽ hướng mắt về phía trường học giữa tiếng đọc bài vang lên đã gợi lên niềm khao khát tri thức tha thiết và nỗi buồn tủi của một đứa trẻ thiệt thòi. Ngoại hình “gấp khúc”, chiếc lưng gù khiến Đức trở nên nhỏ bé, cô đơn nhưng bên trong em vẫn là một tâm hồn trong sáng, ham học và giàu ước mơ. Qua nhân vật Đức, tác giả bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với những số phận bất hạnh trong cuộc sống, đồng thời nhắc nhở mọi người cần biết yêu thương, tôn trọng và sẻ chia với những người khuyết tật. Truyện còn gửi gắm thông điệp ý nghĩa về quyền được học tập và được đối xử công bằng của mỗi con người.