K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

1
12 tháng 2

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là nghị luận

Câu 2 Chủ thể bài viết là vua Lê Lợi, xưng trẫm

Câu 3 Mục đích chính là kêu gọi và khuyến khích việc tiến cử, tìm kiếm, trọng dụng hiền tài để xây dựng đất nước, các đường lối tiến cử gồm yêu cầu quan lại từ tam phẩm trở lên mỗi người cử một người có tài, thưởng cho người tiến cử đúng, cho phép người có tài tự tiến cử, không phân biệt ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa

Câu 4 Người viết đưa ra dẫn chứng về thời thịnh trị xưa hiền sĩ đầy triều, các quan đời Hán Đường biết tiến cử người tài như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, cách nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực, lấy từ lịch sử Trung Quốc, có sức thuyết phục cao

Câu 5 Chủ thể bài viết là người có tầm nhìn xa, biết trọng dụng nhân tài, khiêm nhường, lo lắng cho vận mệnh đất nước, tha thiết cầu hiền, có tinh thần trách nhiệm và tư tưởng tiến bộ trong việc dùng người

Câu 1

Nghệ thuật lập luận trong bản "Chiếu cầu hiền tài" đạt đến trình độ bậc thầy, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lý lẽ sắc bén và tình cảm chân thành. Bố cục chặt chẽ: Đầu tiên, tác giả đưa ra tiên đề về mối quan hệ giữa người hiền và thiên tử: người hiền phải do thiên tử sử dụng, như sao sáng chầu về Bắc Thần. Đây là chân lý khách quan, tạo điểm tựa vững chắc cho toàn bộ bài chiếu. Cách đặt vấn đề khéo léo: Thay vì ra lệnh cứng nhắc, tác giả dùng lối nói khiêm nhường, thấu hiểu tâm lý sĩ phu thời bấy giờ (những người còn e ngại, ẩn dật). Việc thẳng thắn thừa nhận những thiếu sót của triều đại mới và sự cần thiết của nhân tài giúp xóa bỏ khoảng cách quân thần. Hệ thống câu hỏi tu từ: Những câu hỏi liên tiếp như "Hay là thời đại đang ở trong buổi ban đầu...?" đã tác động mạnh mẽ vào lòng tự trọng và trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đất nước.Chính sách cụ thể, rộng mở: Cuối bài, việc đưa ra các con đường tiến cử đa dạng, không phân biệt thứ bậc đã minh chứng cho thái độ cầu thị thực chất.

Kết luận: Với ngôn ngữ trang trọng nhưng tha thiết, lập luận của bài chiếu không chỉ thuyết phục bằng lý trí mà còn thu phục bằng nhân tâm, biến việc ra giúp nước thành một nghĩa vụ vẻ vang và tự nhiên của người hiền.

Câu 2:

Bài làm.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, "chất xám" đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, quyết định sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay đang đứng trước một nghịch lý đau lòng: chúng ta nỗ lực đào tạo nhân tài nhưng lại chưa giữ chân được họ, dẫn đến hiện tượng "chảy máu chất xám" ngày càng trầm trọng.

"Chảy máu chất xám" không đơn thuần là việc một cá nhân đi định cư, mà là sự thất thoát nguồn lực trí tuệ ưu tú nhất của dân tộc. Nhìn vào thực tế, phần lớn các quán quân của những cuộc thi tri thức danh giá hay các du học sinh xuất sắc sau khi tốt nghiệp tại Úc, Mỹ, hay Châu Âu đều chọn ở lại làm việc thay vì trở về. Tại sao họ lại ra đi? Câu trả lời không chỉ nằm ở mức lương nghìn đô, mà còn ở một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi trí tuệ được tôn trọng tuyệt đối và không bị kìm kẹp bởi những cơ chế cũ kỹ. Hậu quả của hiện tượng này là vô cùng lớn. Khi những bộ óc thông minh nhất ra đi, đất nước sẽ thiếu đi những đầu tàu dẫn dắt các ngành công nghệ mũi nhọn, khiến nền kinh tế dễ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Chúng ta mất đi "vốn liếng" quý nhất để hiện đại hóa quê hương. Để giải quyết vấn đề này, không thể chỉ kêu gọi bằng lòng yêu nước viển vông. Chính phủ và các doanh nghiệp cần có những "cú hích" mạnh mẽ về chính sách: tạo ra môi trường nghiên cứu tự do, công bằng và chế độ đãi ngộ xứng đáng. Chúng ta cần hiểu rằng, nhân tài không cần sự ưu ái, họ cần sự công nhận và không gian để tỏa sáng

Tóm lại, hiền tài là nguyên khí quốc gia. Để nguyên khí ấy không bị "chảy" đi mất, chúng ta cần biến Việt Nam thành một mảnh đất đủ màu mỡ để những hạt giống trí tuệ có thể bám rễ và xanh tươi. Bản thân mỗi người trẻ cũng cần ý thức được rằng, đỉnh cao của sự thành đạt chính là dùng tài năng để phụng sự cho nơi mình đã sinh ra.






13 tháng 4

Câu 1 : Trong văn bản Chiếu cầu hiền, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả mở đầu bằng cách nêu lên quy luật tất yếu: hiền tài là nguyên khí của quốc gia, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của người tài đối với sự hưng thịnh của đất nước. Cách lập luận này tạo nền tảng lí lẽ vững chắc, mang tính khái quát cao. Tiếp đó, ông phân tích thực trạng: nhân tài còn bị bỏ sót, chưa được trọng dụng đúng mức. Việc đưa ra thực trạng vừa cụ thể vừa khách quan giúp tăng tính xác thực cho lập luận. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng lí lẽ kết hợp với cảm xúc, thể hiện tấm lòng chân thành của người đứng đầu đất nước, mong mỏi người hiền ra giúp dân, giúp nước. Cuối cùng, lời chiếu mang tính kêu gọi, khích lệ, vừa mềm mỏng vừa tha thiết, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí và tình, lập luận của Nguyễn Trãi trở nên thuyết phục, thể hiện tư tưởng tiến bộ và tầm nhìn xa rộng. Câu 2 : Hiện nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm tại Việt Nam. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống lâu dài, thay vì cống hiến cho đất nước. Hiện tượng này không chỉ phản ánh xu hướng toàn cầu hóa mà còn đặt ra nhiều suy nghĩ về môi trường phát triển trong nước. Trước hết, cần hiểu rằng “chảy máu chất xám” là sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc du học hay làm việc ở nước ngoài là điều bình thường. Tuy nhiên, khi số lượng người tài không quay trở về ngày càng tăng, điều đó trở thành vấn đề đáng lo ngại. Thực tế cho thấy nhiều học sinh, sinh viên giỏi sau khi du học đã chọn ở lại nước ngoài vì điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và môi trường phát triển thuận lợi hơn. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Trước hết là do môi trường làm việc trong nước còn hạn chế, chưa thực sự tạo điều kiện để người tài phát huy hết năng lực. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cũng khiến nhiều người chưa yên tâm cống hiến. Ngoài ra, cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu ở một số lĩnh vực còn thiếu thốn, chưa theo kịp các nước phát triển. Về phía cá nhân, không ít người mong muốn được trải nghiệm môi trường quốc tế, phát triển bản thân và có cuộc sống tốt hơn. Hệ quả của “chảy máu chất xám” là rất lớn. Khi nguồn nhân lực chất lượng cao rời đi, đất nước sẽ thiếu hụt lực lượng nòng cốt cho phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới và hội nhập. Đồng thời, việc đào tạo một nhân tài tốn nhiều thời gian, công sức, nếu họ không quay về cống hiến thì đó cũng là sự lãng phí nguồn lực quốc gia. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Không phải ai ra nước ngoài cũng là “mất đi”, bởi nếu có chính sách phù hợp, họ vẫn có thể đóng góp cho quê hương bằng nhiều cách khác nhau như hợp tác nghiên cứu, đầu tư hay chuyển giao công nghệ. Vì vậy, điều quan trọng là tạo ra môi trường trong nước đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài. Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người tài. Đồng thời, cần đầu tư mạnh vào giáo dục, khoa học – công nghệ và cải thiện môi trường sáng tạo. Về phía bản thân mỗi người trẻ, cần có ý thức trách nhiệm với đất nước, biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. “Chảy máu chất xám” chính là một thách thức nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn nhận lại và hoàn thiện môi trường phát triển. Khi biết tận dụng và có chính sách phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ trở thành động lực quan trọng giúp đất nước tiến xa hơn trong tương lai.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

13

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong bài Chiều cầu hiền tài là: Nghị luận

Câu 2: Chủ thể bài viết là: Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ)

Câu 3:mục đích chính là nhằm kêu gọi, thuyết phục các sĩ phu Bắc Hà (trí thức triều đại cũ Lê - Trịnh) từ bỏ tị hiềm, ra cộng tác với triều đại Tây Sơn để tham gia xây dựng, chấn hưng đất nước

-các lối tiến cử người hiền tài được quy định cụ thể nhằm tìm kiếm người tài giúp vua Quang Trung xây dựng đất nước, bao gồm: các quan lại trọng triều được phép tiến cử người có tài nghệ, và những người ở ẩn (nhân sĩ) được phép dâng sớ tự tiến cử

Câu 4:


12 tháng 4

l Đọc hiểu

Câu 1

-PTBĐ chính là nghị luận.

Câu 2

-chủ thể bài viết: Vua Lê Thái Tổ người ban bố tờ chiếu.

Câu 3

-mục đích chính: kêu gọi những người có tài năng, đức độ đang ẩn dật hoặc chưa được trang dụng gia vũ nước, xây dựng triều đại mới sau chiến tranh.

-các đường lối tiến cử:

+ các quan Văn Võ đại thần, công hậu, đại tu từ tam phẩm trở nên lên, mỗi người đều được tiến cử 1 người ở triều đình

+ những người có tài năng nhưng bị khuất lấp ở hàng Quan nhỏ, không ai tiến cử thì có thể tự mình đề đạt.

Câu 4

-dẫn chứng: tác giả đưa ra cặp tiền bối gương mẫu nhất trong lịch sử như Tiêu Hà tiến cử tào tham, ngụy vô tri tiến cử Trần Bình, địch Nhân Kiệt tiến cử cửu linh…

-nhận xét: cách nêu dẫn chứng thuyết phục, sử dụng các tấm gương lịch sử có sức nặng về uy tín, cho thấy việc tiến cử người hiền là truyền thống tốt đẹp của triều đại thịnh trị.

Câu 5

-chủ thể bài viết hiện lên là 1 bậc minh quân có tầm nhìn xa trông rộng, hết lòng vì dân vì nước. Ông thể hiện thái độ cầu thị, khiêm nhường, biết trọng dụng nhân tài và có tấm lòng bao dung, gạt bỏ những định kiến nhỏ nhặt để thu phục lòng người.

ll viết

Câu 1

Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong triều cầu hiển tài thể hiện sự sắc sảo và đầy sức thuyết phục. Trước hết, hệ thống lập luận được sắp xếp cực kỳ chặt chẽ từ việc khẳng định quy luật khách quan đến việc bày tỏ nỗi lòng thành khẩn của quân vương, và cách cuối cùng là đưa ra những chính sách cụ thể. Cách sử dụng dẫn chứng lịch sử làm tăng tính thuyết phục, chứng minh rằng hiện tại là” nguyên khí”, là nhân tố quyết định sự thịnh trị . trong bài chiếu mang tính mệnh lệnh của bậc thiên tử, vừa chân thành, tha thiết như lời tâm tình, giúp xoá bỏ . Đặc biệt, việc sử dụng các hình ảnh so sánh ví von tạo nên gợi cảm lớn. Chính nghệ thuật lập luận kết hợp hài hòa giữa’ lý’ và’ tình’ đã giúp bà chiếu trở thành 1 áng áng văn chính luận mẫu mực, có sức lay động lòng người sâu sắc.

Câu 2

từ xa xưa, cha ông ta đã khẳng định hiển tài là nguyên khí của quốc gia. Trong văn bản’ chiếu cầu hiện tài’, vua lê thánh tông không ngần ngại để chiêu mộ người có tài . Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với 1 thực trạng đó là’ chảy máu chất xám’ là hiện tượng những người có trình độ chuyên môn cao, năng lực xuất chúng rời bỏ quê hương để tìm cơ hội việc làm và định cư tại các quốc gia phát triển.

Thực trạng này diễn ra vô cùng phức tạp. chúng ta dễ dàng bắt gặp những những trường hợp như các quán quân chương trình’ đường lên đỉnh olympia’ hay các thủ khoa đại học, du học sinh xuất sắc khi tu nghiệp tại các nước ngoài đều chọn ở lại Úc, Mỹ, Đức chấm chấm đó là những nước phát triển mạnh thay vì trở về quê hương. Không chỉ dừng lại ở sinh viên, nhiều nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành cũng âm thầm rời bỏ các cứu trong nước để đầu quân cho các . Việt Nam vô tình trở thành nơi đào tạo nguồn lực chất lượng cao cho thế giới. Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ các yếu tố khách quan quan. Trước hết, môi trường làm việc trong nước ta còn nhiều hạn chế, thiếu thốn trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, khiến những người có đam mê khoa học có lòng phát triển hết khả năng. Thứ 2, chế độ đãi ngộ, lương bổng tại Việt Nam Trung vẫn còn thấp so với mặt bằng quốc tế, chưa đủ đảm bảo để cuộc sống ổn định cho mọi người. Đáng ngại hơn, 1 số môi trường, cơ chế tuyển dụng và thăng tiến vẫn còn nặng tính quan hệ khiến những người có thực lực thật sự cảm thấy bị xem nhẹ và thiếu đi sự .

Hậu quả của chảy chất xám là vô cùng Khi những bộ óc tinh hoa nhất dưới đi, đất nước sẽ mất đi động lực then chốt để đột phá về kinh tế và Việt Nam và các cường quốc sẽ ngày càng bị nới rộng. Chúng ta không chỉ mất đi nguồn lực trí tuệ mà còn làm lãng phí nhiều ngân sách đào tạo và tâm huyết của xã hội.

Để khắc phục tình trạng chúng ta cần 1 cuộc cách mạng trong tư duy quản lý nhân sự, nhà nước cần xây dựng những đặc khu kinh tế, các vị nghiên để những người có tài có đất sử dụng. Quan trọng hơn, cần thực hiện những chính sách trải thảm đỏ 1 cách thực chất không chỉ là tiền lương, mà là sự tôn trọng, tự do sáng tạo và lộ trình thăng tiến minh bạch dựa trên năng lực. Chúng ta cần đào tạo 1 môi trường mà ở đó người giỏi cảm thấy họ được cống hiến và được thừa nhận ngay trên chính sở trường của mình.

Tóm lại, nhân tài không phải là tài nguyên vô tận nếu không biết giữ gìn, nguyên khí sẽ cạn kiệt. Mỗi cá nhân trẻ tuổi chúng ta, bên cạnh việc rèn luyện tài năng, cũng cần nuôi dưỡng lòng yêu nước và Ý thức trách nhiệm. Tuy nhiên yêu nước cần được tiếp bởi những chính sách đúng đắn từ phía xã hội. Chỉ khi có những sự đồng hành giữa cá nhân và quốc tế, chúng ta mới có thể biến chảy máu chất xám thu hút chất xám, Việt Nam sánh vai với các cường quốc.

12 tháng 2

Bài thơ Mẹ và quả của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc tâm tình sâu lắng về tình mẫu tử, đồng thời gửi gắm những suy ngẫm triết lí về sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Qua hình ảnh những “quả” trong vườn và “quả” của đời người, nhà thơ đã thể hiện tình yêu thương, lòng biết ơn và nỗi trăn trở của người con trước công lao sinh thành dưỡng dục.

Trước hết, hình ảnh người mẹ hiện lên gắn liền với công việc lao động quen thuộc: trồng cây, chăm cây, chờ quả chín. Những câu thơ mộc mạc đã khắc họa một người mẹ tần tảo, kiên nhẫn và giàu đức hi sinh. Mẹ chăm chút từng quả trong vườn cũng như chăm chút cho con khôn lớn từng ngày. Hình ảnh “những mùa quả mẹ tôi hái được” không chỉ là thành quả lao động mà còn là biểu tượng cho bao năm tháng nhọc nhằn, vất vả của mẹ.

Từ hình ảnh thực ấy, nhà thơ mở rộng thành tầng nghĩa biểu tượng. “Quả” không chỉ là trái ngọt của cây mà còn là “quả” của đời người, là đứa con mà mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng. Nếu như quả trong vườn có ngày chín, thì “quả” của mẹ cũng lớn lên, trưởng thành. Tuy nhiên, điều khiến người đọc xúc động là nỗi băn khoăn của người con: liệu mình đã thực sự trở thành “quả ngọt” xứng đáng với công lao của mẹ hay chưa. Câu hỏi ấy chứa đựng sự tự vấn, thể hiện tấm lòng hiếu thảo và ý thức trách nhiệm của người con.

Giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, hình ảnh mang tính biểu tượng sâu sắc. Cách xây dựng hình tượng “quả” xuyên suốt bài thơ tạo nên sự thống nhất và chiều sâu ý nghĩa. Nhà thơ không nói trực tiếp đến hi sinh mà để hình ảnh và cảm xúc tự ngân vang, khiến người đọc tự cảm nhận.

Qua bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã ca ngợi tình mẹ bao la và nhắc nhở mỗi người con phải biết trân trọng, biết sống sao cho xứng đáng với công lao sinh thành. Mẹ và quả không chỉ là bài thơ về gia đình mà còn là lời nhắc nhở về đạo lí làm người, về lòng biết ơn và sự trưởng thành.

12 tháng 2

Bài thơ Bài học đầu cho con của Đỗ Trung Quân là lời tâm tình của người cha dành cho con về bài học đầu đời, bài học nhận diện và yêu thương quê hương, đất nước, mở đầu bài thơ là những câu hỏi hồn nhiên của con trẻ về quê hương là gì, có ý nghĩa ra sao, từ đó người cha nhẹ nhàng giải thích bằng những hình ảnh gần gũi như chùm khế ngọt, con diều biếc, cầu tre nhỏ, là nơi con sông quê tắm mát tuổi thơ, những hình ảnh bình dị ấy gợi lên một không gian thân thuộc, ấm áp và giàu kỉ niệm, quê hương không phải điều gì trừu tượng xa vời mà hiện hữu trong từng sự vật, từng trải nghiệm gắn bó với tuổi thơ mỗi con người, điệp ngữ quê hương được lặp lại nhiều lần vừa tạo nhịp điệu tha thiết vừa nhấn mạnh ý nghĩa thiêng liêng của hai tiếng quê hương, qua đó tác giả khẳng định quê hương là nguồn cội, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và hình thành nhân cách con người, giọng thơ thủ thỉ, chân thành, giàu cảm xúc kết hợp với hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi đã làm nổi bật thông điệp sâu sắc rằng tình yêu quê hương bắt đầu từ những điều bình thường nhất, đó chính là bài học đầu tiên và quan trọng nhất mà cha muốn trao cho con.

Câu 1 (2.0 điểm):           Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.  Câu 2 (4.0 điểm):           Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.                        BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG                      ...
Đọc tiếp

Câu 1 (2.0 điểm):

          Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật. 

Câu 2 (4.0 điểm):

          Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.

                       BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

                       Bên kia sông Đuống

                       Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

                       Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

                       Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

                       Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

                       Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

                       Ruộng ta khô

                       Nhà ta cháy

                       Chó ngộ một đàn

                       Lưỡi dài lê sắc máu

                       Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

                       Mẹ con đàn lợn âm dương

                       Chia lìa trăm ngả

                       Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

                       Bây giờ tan tác về đâu?

(Hoàng Cầm)

 

99
15 tháng 3 2025


Câu 1 ; trong cuộc sống này chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta biết yêu thương vạn vật . Yêu thương vạn vật là yêu những điều nhỏ nhặt bên cạnh chính mình , ta không nên vì nó nhỏ bé mà ghét bỏ nó cũng không nên vì nó to lớn mà sợ hãi nó . Yêu thương vạn vật sẽ dạy cho ta trân trong những gì ta có từ đó chân trọng cuộc sống này giống như hoa hậu nguyễn thúc thùy tiên một người thành công khi còn rất trẻ ở cô chúng ta học được một trong những yếu tố thành công chính là lòng yêu thương từ những điều nhỏ nhất

câu 2 Bên này – bên kia, một dòng sông chia cách hai khoảng trời, chia cách đôi bờ Kinh Bắc một bên là vùng tự do, một bên đã bị giặc chiếm đóng. Cấu trúc “sao nhớ tiếc” “sao xót xa” ẩn chứa đầy tâm trạng đớn đau, mà nhớ, tiếc nuối xót xa. Chữ “sao” như xoáy vào lòng người đọc một nỗi nhức nhối, đau đáu, khôn nguôi, xưa là thanh bình đẹp đẽ, nay là đau đớn chia lìa. Ở đây nỗi đau đã lên đến tột cùng và được cụ thể hoá như là có thể cảm giác được quê hương như là một phần máu thịt, bởi thế quê hương bị chia cắt cũng giống như con người mất đi một phần cơ thể mình. “Như rụng bàn tay – một hình ảnh so sánh thật tự nhiên, giản dị nhưng rất sâu sắc đã tiếp thêm tình yêu nỗi nhớ khôn nguôi của Hoàng Cầm đối với mảnh đất Kinh Bắc. Nỗi nhớ này là điểm xuất phát, sự bùng nổ cho cảm hứng về quê hương Kinh Bắc tuôn chảy dào dạt trong mạch thơ của ông. Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng:

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Bằng những câu thơ trên, nhà thơ đã khái quát được nét vẽ đẹp nhất, sống động và điển hình nhất bức tranh làng quê Kinh Bắc. Một bức tranh đầy màu sắc, ánh sáng và hương vị. Lời giới thiệu “quê hương ta lúa nếp thơm nồng” hết sức mộc mạc, nó như một nét vẽ bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam gợi dậy bao ám ảnh trong lòng người đọc về một quê hương thanh bình yên ả. Những bức tranh Đông Hồ là hình ảnh đặc trưng của quê hương Kinh Bắc thể hiện được bản sắc văn hoá tinh hoa của con người trên từng nét vẽ. Đó là sự kết tinh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người Kinh Bắc. Những bức tranh Đông Hồ do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những đề tài quen thuộc phản ánh tâm tư khát vọng trong sáng lãng mạn và không kém phần dí dỏm của người liên doanh: đám cưới chuột, đàn lợn, hứng dừa, đánh ghen... chúng được vẽ trên giấy dó, giấy điệp, vẽ bằng chất liệu cỏ cây, hoa lá, đất cát quê hương. Như vậy nét tươi trong của tranh Đông Hồ không chỉ gợi ra cái tươi tắn trong trẻo mà còn chứa nét đẹp rạng ngời tinh khôi. Chữ “sáng bừng” được dùng khá độc đáo, nó không còn là tính từ mà đã được sử dụng như một động từ không chỉ để chỉ ánh sáng mà còn khẳng định sức sống kỳ diệu của dân tộc. “Màu dân tộc” trở thành một ẩn dụ độc đáo của Hoàng Cầm, qua đó thể hiện niềm kiêu hãnh của nhà thơ về bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Bởi quê hương xiết bao yêu dấu, tự hào sống trọn trong trái tim khói lửa, nhà thơ đã diễn tả nồi đau xót căm hờn xen lẫn sự tiếc nuối xót thương với những hình ảnh đầy ấn tượng:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu

Câu thơ đầu giống như câu thơ bản lề làm chuyển đổi mạch cảm xúc của bài thơ. Tác giả gọi những ngày giặc xâm chiến là những ngày “khủng khiếp” cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Nhiều hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để gọi tả sự khốc liệt này, hình ảnh “lửa hung tàn” gợi ra sự tàn bạo của kẻ thù đồng thòi là tiếng nói tố cáo phê phán gay gắt chiến tranh. Nếu ở khổ thơ phía trên nhịp thơ đều đặn dàn trải ổn định thì đến khổ thơ này những câu thơ ngôn ngắt nhịp mạnh dồn dập liên tiếp chỉ tội ác chồng chất của kẻ thù cùng với niềm căm thù ngút tròi và nổi đau tột cùng của con người Từ láy “ngùn ngụt” không chi là từ gợi hình chi ngọn lửa mà chính là lòng căm thù của con người bị đốt cháy – những câu thơ của Hoàng Cầm rất giàu sắc thái biểu cảm, bao trùm lên không gian là sự hoang tàn, vắng lạnh, xơ xác, không còn cái vẻ thanh bình, cái nét trù phú tươi tắn. Tất cả chi là một cảnh tượng chia li chết chóc. Chữ kiệt cùng được dùng rất hay – không gian càng trở nên sâu thẳm, nỗi đau được biểu hiện tột cùng. Điều đặc biệt là tác giả không miêu tả cụ thể hình ảnh con người nhưng dấu ấn về cuộc sống chia li hoang tàn vẫn được biểu hiện rõ, ông đã mượn hình ảnh nhũng con vật vô tri trong bức tranh Đông Hồ để nói về nỗi đau của con người, đây là một dụng ý nghệ thuật sâu xa của nhà thơ Hoàng Cầm. Đằng sau nỗi đau là hình ảnh quê hương Kinh Bắc với những phong tục tập quán, những hội hè, đình đám, được gợi nhắc lại hết sức sống động:

Chỉ bằng vài nét phác hoạ, Hoàng Cầm đã dựng nên trước mắt người đọc từng bức chân dung cụ thể của con người Kinh Bắc, họ đều rạng ngời với vẻ đẹp truyền thống, những người thiếu nữ, có vẻ đảm đang tháo vát, nhũng cụ già phúc hậu, những em nhỏ ngây thơ tinh nghịch. Rõ ràng ở đây ta thấy niềm yêu mến sâu sắc của tác giả. Những nỗi ám ảnh trong Hoàng Cầm sâu sắc nhất có lẽ là hình ảnh người con gái Kinh Bắc. Ông đã dùng những câu thơ đẹp nhất, tài hoa nhất để gợi tả họ:

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng

Chữ “Có nhớ” đặt ở đầu câu thơ là lời gợi nhắc đầy ám ảnh, hình ảnh “khuôn mặt búp sen” gợi tả khuôn mặt người con gái vừa đoan trang, trong trắng, phúc hậu vừa dịu dàng, và đây cũng là nét vẽ điển hình nhất của người con gái Kinh Bắc nói riêng và của người con gái Việt Nam nói chung. Và gắn liền với hình ảnh “cô hàng xén ràng đen”, đây lại là một phong tục tập quán cổ truyền, một nét vẽ truyền thống người con gái Kinh Bắc. Cái hay nhất của đoạn thơ trên là biện pháp tu từ so sánh giữa nụ cười thiếu nữ Kinh Bắc với ánh nắng mùa thu. Dường như ở đây có một sự giao hoà giữa vẻ đẹp con người và vẻ đẹp thiên nhiên đất trời. Nét rạng ngời tươi tắn trong nụ cười cô gái cũng giống với nét rạng ngời tươi tắn của nắng mùa thu chứ không phải cái nắng nóng bỏng gay gắt của mùa hè hay yếu ớt ảm đạm của mùa đông, nắng thu như toả trong nó một sức sống mạnh mẽ. Đến đây người đọc như không còn thấy dấu tích của chiến tranh, bởi vậy câu thơ ẩn chứa một niềm tin tưởng lạc quan của con người. Một không gian Kinh Bắc nhộn nhịp, tấp nập được gợi tả qua một loạt những câu thơ tiếp, hình ảnh người người đông đúc trong một không khí tưng bừng náo nức đã khẳng định một sức sống mạnh mẽ của quê hương Kinh Bắc. Tình yêu quê hương Kinh Bắc tràn đầy trong những vần thơ. Trong hoài niệm của Hoàng Cầm về con người Kinh Bắc có hình ảnh người mẹ:

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm

Những câu thơ đậm màu sắc tả thực. Từ láy “còm cõi” đã diễn tả rất tinh tế vóc dáng khổ hạnh của người mẹ đồng thời chỉ rõ những vất vả, nhọc nhằn, lo toan mà người mẹ phải chịu đựng, trong lòng người đọc như dâng lên sự cảm thương sâu sắc. Gian hàng của người mẹ chẳng có gì, dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng, vài thếp giấy đã hoen vàng. Các từ “dăm”, “vài” là các từ chỉ số nhiều nhưng trong cảm nhận của người đọc, người ta ngỡ như chỉ những thứ hàng hoá ít ỏi, sơ sài của người mẹ, chữ “hoen” được sử dụng rất hay, “hoen” không chỉ là sương thấm vào giấy mà như thấm cả giọt nước mắt, mồ hôi của mẹ. Đi liền với hình ảnh người mẹ là tội ác của kẻ thù:

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo

Tác giả gọi kẻ thù là “lũ quỷ mắt xanh” – một hình ảnh ẩn dụ chỉ tội ác tàn bạo và dã man của kẻ thù, từ láy “trừng trợn” không chỉ gợi dáng vẻ nạt nộ, doạ dẫm của kẻ thù mà con góp phần lột tả sống động chân dung của kẻ khát máu, quân cướp bóc. Không những thế, chữ “chợt” chỉ gót giày quân xâm lược đột ngột, bất ngờ, không gian thanh bình bỗng chốc bị phá vỡ. Tác giả sử dụng những từ mạnh mang sắc thái biểu cảm cao “khua” “đạp”, “xì xồ”, “tan”, “gầy teo” diễn tả những hành động dã man liên tiếp của kẻ thù những tội ác chồng chất. Hình ảnh con người hàng xóm, quê hương như bị thu hẹp lai dưới gót giày tàn bạo của quân xâm lược. Qua đó ta thấy tội ác kẻ thù càng tăng, niềm căm thù càng trở nên mạnh mẽ, nỗi đau càng trở nên sâu thẳm. Tột cùng nỗi đau thương trong tâm hồn thi sĩ được đúc kết, gửi gắm qua hai câu thơ lục bát đầy xúc động:

Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vét máu loang chiều mùa đông

Không gian hoang sơ hiu quạnh được gọi tả với vài chiếc lá đa thưa thớt, một chiều mùa đông nhuộm đỏ: đỏ của mầu máu, đỏ của ráng chiều. Câu thơ có khả năng gây ấn tượng cực mạnh đối với người đọc. Câu lá đa lác đác trước lều” gợi âm điệu buồn tẻ, rời rạc, điểm nhịp cho không gian vắng vẻ, thưa thớt, hiu quạnh của làng quê Việt Nam trong những ngày tháng kẻ tù xâm lược các từ “vài ba”, loang được sử dụng rất đắt giúp người đọc cảm nhận được từng vết máu đan...

29 tháng 1

Câu 1 (khoảng 200 chữ) Suy nghĩ về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.



Trong cuộc sống, con người không tồn tại một cách đơn lẻ mà luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên, muôn loài và môi trường xung quanh. Vì thế, yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà còn là trách nhiệm của mỗi con người. Khi biết yêu thương cây cỏ, động vật và thiên nhiên, con người học được cách sống nhân ái, bao dung và hài hòa hơn với thế giới. Yêu thương vạn vật giúp con người trân trọng sự sống, hiểu rằng mỗi sinh linh đều có giá trị riêng. Một hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, bảo vệ động vật hay tiết kiệm tài nguyên cũng thể hiện tình yêu với vạn vật. Ngược lại, nếu con người sống ích kỉ, tàn phá thiên nhiên, ngược đãi động vật thì cuối cùng chính con người sẽ phải gánh chịu hậu quả từ ô nhiễm môi trường, thiên tai hay dịch bệnh. Trong xã hội hiện đại, việc giáo dục ý thức yêu thương vạn vật càng trở nên cần thiết. Khi con người biết sống chan hòa với thiên nhiên, thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn, bền vững hơn. Yêu thương vạn vật cũng chính là yêu thương cuộc sống và tương lai của chính mình.





Câu 2 (khoảng 600 chữ) Phân tích đoạn thơ “Bên kia sông Đuống” để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.



Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là khúc bi ca thấm đẫm nỗi đau và tình yêu quê hương da diết. Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đầy xót xa của quê hương Kinh Bắc từ một miền đất thanh bình, giàu bản sắc văn hóa sang cảnh điêu tàn, đổ nát bởi chiến tranh, qua đó thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu nước và nỗi căm thù giặc cháy bỏng của nhà thơ.


Trước khi chiến tranh ập đến, quê hương hiện lên với vẻ đẹp yên bình, trù phú và đậm đà hồn dân tộc. “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” – hình ảnh lúa nếp không chỉ gợi sự no đủ, ấm êm mà còn mang hương vị thân thương của làng quê Bắc Bộ. Cùng với đó, “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” đã gợi lên một không gian văn hóa truyền thống đặc sắc, nơi nghệ thuật dân gian gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân. Những “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là sắc màu của tranh vẽ mà còn là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, cho vẻ đẹp thuần khiết, lạc quan của con người Kinh Bắc. Quê hương trong ký ức nhà thơ là một miền đất đẹp đẽ, yên vui, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên và gìn giữ trọn vẹn những giá trị văn hóa lâu đời.


Thế nhưng, chiến tranh đã tàn nhẫn phá vỡ tất cả. “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp / Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” – hai câu thơ như một nhát cắt dữ dội, đánh dấu bước ngoặt bi thương của số phận quê hương. Hàng loạt hình ảnh đau xót hiện ra: “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”, “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu”. Những hình ảnh ấy không chỉ phản ánh hiện thực tang thương mà còn cho thấy sự hủy diệt toàn diện của chiến tranh: từ con người đến cảnh vật, từ sự sống đến niềm vui đều bị vùi dập không thương tiếc. Giọng thơ dồn dập, từ ngữ mạnh mẽ đã khắc họa rõ nét bộ mặt tàn bạo của kẻ thù và nỗi đau tột cùng của quê hương bị giày xéo.

Đau đớn hơn cả là chiến tranh không chỉ cướp đi cuộc sống yên bình mà còn làm tan vỡ những giá trị tinh thần thiêng liêng. Những hình ảnh văn hóa dân gian quen thuộc như tranh Đông Hồ, “đám cưới chuột” – biểu tượng cho đời sống vui tươi, no đủ – giờ đây chỉ còn là hoài niệm. Sự đối lập gay gắt giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương đã làm nổi bật nỗi tiếc nuối, xót xa khôn nguôi của nhà thơ trước sự mất mát không gì bù đắp nổi của quê hương.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện chân thực hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng, niềm đau thương và lòng căm thù giặc sâu sắc. Tác phẩm đồng thời thức tỉnh trong lòng người đọc ý thức trân trọng hòa bình, gìn giữ những giá trị văn hóa dân tộc và trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước – bởi đó là những điều thiêng liêng không gì có thể thay thế.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: NÊN BỊ GAI ĐÂM          (1) Núi lửa nào hay mình làm đau trái đất. Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương. Bão tố nào hay mình làm đau những cánh rừng. Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối. Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.          (2) Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NÊN BỊ GAI ĐÂM

         (1) Núi lửa nào hay mình làm đau trái đất. Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương. Bão tố nào hay mình làm đau những cánh rừng. Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối. Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.

         (2) Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng vườn. Nắng chói đâu hay mình làm đau những giọt sương đậu hờ trên mép lá. Bụi bay đâu hay mình làm đau những làn hương. Con ong đâu hay tiếng đập cánh vụng về làm giật mình nụ hoa út ít. Lá rơi nào hay mình làm tổn thương giấc mơ của cánh chuồn kim thiêm thiếp sau ngọn cỏ góc ao.

         (3) Tiếng chuông rền làm tổn thương hoàng hôn. Bước chân mau làm tổn thương những con đường. Gót giày khua làm tổn thương lối ngõ. Nếp áo nhàu làm tổn thương bao ấp iu của gió. Vệt lá lăn làm tổn thương thảm rêu nhung ẩm ướt bên thềm.

         (4) Ngòi bút sắc làm đau trang giấy. Nét mực hoen làm đau con chữ gầy. Câu thơ suông làm tổn thương ánh đèn tri kỉ. Giọng ca trơn làm tổn thương điệu nhạc say đắm. Ngón tay bấm bâng quơ làm tổn thương bao âm giai ẩn trong mỗi phím đàn.

         (5) Lần lỗi hẹn làm đau điểm hẹn. Cái bắt tay ơ hờ làm đau nhịp tim sâu. Nụ cười tắt mau làm tổn thương những thắc thỏm mong cầu. Tiếng thở dài làm tổn thương ánh nhìn ngân ngấn. Thoáng chau mày làm đau giọt mồ hôi lau vội lúc cuối ngày.

         (6) Thế giới cần nâng niu quá đỗi. Ta sống đời lại thô tháp làm sao. Ta làm tổn thương những dòng sông. Ta làm tổn thương những mặt đầm. Ta làm tổn thương những mảnh vườn. Ta làm tổn thương những mùa hoa trái. Ta làm tổn thương những bình minh yên ả. Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng. Ta làm đau những niềm người quá đỗi mong manh…

        (7) Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa…

         (8) Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.

(Chu Văn Sơn)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0.5 điểm): Nêu nội dung của văn bản trên.

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn (7).

Câu 4 (1.0 điểm): Trong câu văn: “Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.” Vì sao tác giả lại nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”? 

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ văn bản là gì?

108
26 tháng 1

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm




Câu 2:

Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.



Câu 3:

Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”… → Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng. → Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.



Câu 4:

Vì sao tác giả nói: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”? Vì đó là hình ảnh ẩn dụ: “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn. → Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.



Câu 5:

Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 2:

Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.

Câu 3:

Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”…

→ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng.

→ Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.

Câu 4:

Hình ảnh ẩn dụ “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn.

→ Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.

Câu 5:

Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.

4 tháng 2


Câu 1

Bài thơ Những người đàn bà bán ngô nướng của Nguyễn Đức Hạnh đã khắc họa cảm động số phận những người phụ nữ lao động nghèo giữa phố thị. Hình ảnh họ hiện lên với “những nhem nhuốc bên ngoài che giấu / bao ngọt lành, nóng hổi bên trong”, cho thấy vẻ lam lũ bề ngoài đối lập với tấm lòng giàu yêu thương. Tác giả đặc biệt xót xa trước thái độ “thờ ơ”, “rẻ rúng” của người qua đường, qua đó phê phán sự vô cảm của xã hội. Câu thơ “người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi con” là ẩn dụ giàu sức gợi, diễn tả sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Bài thơ sử dụng thể tự do, giọng điệu trữ tình, nhiều hình ảnh gần gũi như hạt ngô, mùi thơm bếp lửa, bờ vai cha… tạo nên không gian ấm áp mà day dứt. Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ và ngôn ngữ giản dị giúp người đọc thấu hiểu hơn những mảnh đời nhỏ bé. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp nhân văn: hãy biết trân trọng, cảm thông với những người lao động bình dị quanh ta.

Câu 2

Nghị luận về câu nói của Vivian Greene

“Cuộc sống không phải là để chờ đợi cơn bão đi qua, cuộc sống là để học được cách khiêu vũ trong mưa.” Câu nói của Vivian Greene gửi đến mỗi người thông điệp sâu sắc về thái độ sống tích cực trước nghịch cảnh. Cuộc đời không phải lúc nào cũng êm đềm; khó khăn, thử thách giống như những cơn mưa bất chợt. Nếu chỉ đứng yên chờ bão tan, ta sẽ lãng phí thời gian và cơ hội. Điều quan trọng là dám bước vào “cơn mưa” ấy với bản lĩnh và niềm tin.

“Khiêu vũ trong mưa” là hình ảnh ẩn dụ cho việc chủ động thích nghi, biến nghịch cảnh thành trải nghiệm có ý nghĩa. Người biết sống tích cực sẽ không gục ngã trước thất bại mà xem đó là bài học để trưởng thành. Lịch sử và thực tế đã chứng minh nhiều con người thành công nhờ dám đối diện thử thách: những vận động viên vượt chấn thương để chạm tới huy chương, những học sinh nghèo nỗ lực học tập để đổi thay số phận. Chính tinh thần lạc quan giúp họ mạnh mẽ hơn sau mỗi lần vấp ngã.

Ngược lại, nếu chỉ than thân trách phận, con người dễ rơi vào bi quan, bỏ lỡ cơ hội hoàn thiện mình. Cuộc sống hiện đại đầy biến động: áp lực học tập, công việc, dịch bệnh, thiên tai… Tất cả đều là “những cơn bão” không thể tránh. Thái độ đúng đắn không phải trốn chạy mà là rèn luyện kĩ năng, ý chí để vượt qua. Biết tìm niềm vui trong gian khó, ta sẽ giữ được cân bằng và khám phá nhiều giá trị mới.

Tuy nhiên, “khiêu vũ trong mưa” không có nghĩa là liều lĩnh bất chấp, mà cần đi cùng sự tỉnh táo và chuẩn bị. Mỗi người phải trang bị tri thức, sức khỏe, kĩ năng sống và sự sẻ chia với cộng đồng. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường để thế hệ trẻ học cách đối diện thử thách một cách nhân văn.

Là học sinh, em nhận thấy mình phải tập sống chủ động: không nản chí khi điểm số chưa như ý, không né tránh khó khăn mà cố gắng từng ngày. Em sẽ rèn luyện ý chí, nuôi dưỡng ước mơ và lan tỏa năng lượng tích cực tới bạn bè. Bởi chỉ khi dám “khiêu vũ trong mưa”, ta mới cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của cuộc sống.

Câu nói của Vivian Greene nhắc nhở rằng hạnh phúc không nằm ở hoàn cảnh thuận lợi mà ở cách con người đối diện hoàn cảnh. Hãy sống bản lĩnh, lạc quan để biến mỗi cơn mưa cuộc đời thành điệu nhảy của niềm tin và hi vọng.


Câu 1:

Bài thơ "Những người đàn bà bán ngô nướng" của Nguyễn Đức Hạnh là một tiếng lòng xót xa và trân trọng đối với những thân phận lao động nghèo. Về nội dung, tác phẩm khắc họa hình ảnh người phụ nữ lam lũ, "nhem nhuốc" bên lề đường, nhưng ẩn sâu bên trong là cả một tấm lòng hy sinh cao cả: "bán dần từng mảnh đời mình nuôi con". Bài thơ không chỉ tả thực cái nghèo mà còn tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn — những giá trị "ngọt lành, nóng hổi" bền bỉ như hương vị của bắp ngô nướng dù trải qua "cháy" vẫn "còn thơm". Về nghệ thuật, thể thơ tự do giúp mạch cảm xúc tuôn trào tự nhiên. Tác giả sử dụng thành công thủ pháp đối lập giữa cái nhìn "thờ ơ" của người đời với sự tận hiến của người mẹ, cùng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi như "mảnh đời", "hạt ngô - giọt lệ". Qua đó, bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc niềm thấu cảm sâu sắc và bài học về thái độ trân trọng đối với những giá trị bình dị mà thiêng liêng trong cuộc sống.




1 tháng 2

Câu 1:

Bài thơ “Tự miễn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu chiều sâu tư tưởng, thể hiện rõ phong cách sống giản dị, khiêm nhường và tinh thần trách nhiệm cao cả của Người. Qua bài thơ, Bác bày tỏ thái độ tự giác từ chối những sự ưu đãi, chăm sóc đặc biệt dành cho cá nhân mình, bởi trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều gian khổ, nhân dân còn chịu nhiều thiếu thốn, Người không cho phép bản thân hưởng thụ hơn đồng bào. “Tự miễn” không phải là sự khắc khổ cực đoan, mà là biểu hiện của lối sống vì dân, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Giọng thơ nhẹ nhàng, mộc mạc nhưng chứa đựng sức thuyết phục lớn, toát lên vẻ đẹp nhân cách cao quý của một vị lãnh tụ luôn tự soi xét bản thân, luôn giữ mình trong khuôn khổ đạo đức cách mạng. Qua đó, bài thơ không chỉ phản ánh tâm hồn thanh cao của Hồ Chí Minh mà còn gửi gắm bài học sâu sắc cho mỗi người: sống giản dị, biết tự điều chỉnh bản thân, không sa vào đặc quyền, đặc lợi, luôn đồng cảm và sẻ chia với nhân dân. Chính những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại làm nên tầm vóc lớn lao của Bác trong lòng dân tộc.

Câu 2:

Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Không ai sinh ra đã bước đi trên con đường bằng phẳng, cũng không có thành công nào đến mà không phải trả giá bằng khó khăn và nỗ lực. Thử thách có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: là biến cố lớn của dân tộc, là những gian nan của thời đại, hoặc chỉ là những trở ngại nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày. Dù ở hình thức nào, thử thách cũng mang trong mình một ý nghĩa quan trọng: tôi luyện ý chí, giúp con người trưởng thành và nhận ra giá trị thật sự của bản thân. Chính trong nghịch cảnh, con người mới hiểu mình là ai và có thể đi xa đến đâu.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng thử thách chính là phép thử khắc nghiệt nhưng cần thiết để làm nên những bước ngoặt lớn lao. Trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, dân tộc ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: ách thống trị tàn bạo của thực dân phong kiến, nạn đói khủng khiếp năm 1945 cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, lực lượng cách mạng còn non trẻ, thiếu thốn đủ bề. Nhưng chính trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta đã được hun đúc mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thử thách không quật ngã được dân tộc, mà trái lại, đã làm bùng lên khát vọng độc lập, tự do, dẫn tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám. Trong đời sống cá nhân, thử thách cũng hiện diện ở những điều tưởng như rất nhỏ: áp lực học tập, những lần thất bại, những kỳ thi quan trọng như kỳ thi đại học. Có người từng chùn bước trước điểm số không như mong muốn, từng hoang mang trước tương lai mờ mịt, nhưng chính những khó khăn ấy buộc con người phải nỗ lực hơn, kỷ luật hơn và trưởng thành hơn. Không ít người đã vấp ngã trong lần thi đầu tiên, để rồi đứng dậy mạnh mẽ hơn và chạm tay tới ước mơ bằng chính nghị lực của mình.

Như vậy, thử thách trong cuộc sống không phải là điều để sợ hãi, mà là cơ hội để con người rèn luyện bản thân và khẳng định giá trị sống. Nếu không có thử thách, con người sẽ dễ bằng lòng với hiện tại, thiếu bản lĩnh trước sóng gió. Điều quan trọng không phải là tránh né khó khăn, mà là học cách đối diện, vượt qua và bước tiếp với niềm tin vững vàng. Khi hiểu đúng ý nghĩa của thử thách, ta sẽ nhận ra rằng mỗi gian nan đi qua đều để lại một bài học quý giá, giúp con người sống sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn tới thành công.



Câu 1:

Bài thơ "tự khuyên mình "(tự miễn) Của Hồ Chí Minh một làm bản lĩnh thép, Thể hiện tinh thần lạc quan và ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù tày. Mở đầu bài thơ, tác giả mượn quy luật của thiên nhiên: "ví không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân "để dẫn dắt một chân lý cuộc đời. Hình ảnh ấn dụ đông tàn đại diện cho những gian khổ ,khắc nghiệt ,còn "ngày xuân" chính là biểu tượng của thành công và tương lai tươi sáng. Qua đó bác khẳng định gian truân không phải là giao cảm mà là tiền đề tất yếu để ý tới vinh quang. Đến hai câu cuối, ý thơ chuyển từ quy luật khách quan sang tự rèn luyện chủ quan: "nghĩ mình trong bước gian truân /tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao".Đối với người, khó khăn không chỉ là thử thách mà còn là "trường học "để tôi luyện ý chí. Điệp từ và cấu trúc đối lập đã làm nổi bật triết lý khổ tận cam lai hết khổ sự sẽ đến lúc vui sướng. Bài thơ không chỉ là lời động viên bản thân trong chốn lao tù mà còn là bài học sâu sắc cho chúng ta về thái độ sống: cần giữ vững niềm tin và bản lĩnh để biến nghịch cảnh thành động lực vươn lên với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc tự khuyên mình mãi là bài ca về tinh thần lạc quan cách mạng.

Câu 2:

Trong cuộc sống của mỗi người, con đường đi tới thành công chưa bao giờ là một đường thẳng trải đầy hoa hồng. Để chạm tới đỉnh vinh quang hay đơn giản là sự trưởng thành, chúng ta đều phải bước qua những khúc quanh đầy xỏi đá . Đó chính là những thử thách phân tích yếu và mang lại những ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự phát triển của con người.

Trước hết, thử thách chính là "thước đo "chính xác nhất cho năng lực và bản lĩnh của mỗi cá nhân. Nếu cuộc sống cứ mãi bình lặng , chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được giới hạn của bản thân mình ở đâu. Giống như viên kim cương chỉ có thể toả sáng sau quá trình chịu áp lực cực lớn, con người cũng chỉ thực sự bộc lộ những tổ chất tiềm ẩn khi rơi vào nghịch cảnh. Khi đối mặt với khó khăn, chúng ta buộc phải suy nghĩ, sáng tạo và vận động hết công suất để tìm ra lối thoát. Chính là quá trình giúp ta rèn luyện sự kiên trì, lòng dũng cảm và tích lũy được những kinh nghiệm quý báo mà không trường lớp nào có thể giảng dạy được. Bên cạnh đó thủ thách còn giúp chúng ta nhìn nhận cuộc sống 1 cách sâu sắc hơn. Như Bác hồ đã từng viết trong bài thơ tự miễn: "vì không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân". Những gian nan chính là trình để cho sự thành công. Nếu không có những ngày đông giá rét, chúng ta sẽ chẳng thể cảm nhận được cái ấm áp và rực rỡ của mùa xuân. Tương tự, nếu không trải qua thất bại, ta sẽ không biết quý trọng hương vị của chiến thắng. Thử thách dạy ta biết khiêm tốn, biết trân trọng những gì mình đang có và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn đối với những người cũng đang gặp khó khăn xung quanh mình. Hơn thế nữa, thử thách là môi trường để rèn luyện tinh thần lạc quan và niềm tin một người có bản lĩnh không phải là người chưa từng thất bại, mà là người dám đứng lên từ chính những đổ nát của thử thách. Thay vì coi khó khăn là một tảng đá ngán đường, những người thành công thường coi đó là những nấc thang để bước cao hơn. Khi vượt qua một thử thách , Niềm tin vào bản thân sẽ được cũng cố, tạo ra một nguồn năng lượng nội tại mạnh mẽ để ta sẵn sàng Đối mặt với những cơn bão lớn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn không ít người chọn cách trốn tránh hoặc dễ dàng gục ngã trước thử thách. Thái độ bi quan, chán nản chỉ khiến con người trở nên yếu đuối và dần bị tụt lại phía sau. Chúng ta cần hiểu rằng, thử thách không sinh ra để tiêu diệt chúng ta, mà để giúp chúng ta "thay đổi da thịt "trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình.

Thử thách là một gia vị không thể thiếu để tạo nên sự đậm đà cho món ăn cuộc đời. Đừng cầu nguyện cho cuộc sống không có khó khăn, hãy cầu nguyện cho mình có một đôi vai đủ sức gánh vác và một tinh thần thép để vượt qua mọi sóng gió. Hãy đón nhận thử thách với tâm thế của một chiến sĩ bởi phía sau mỗi "cảnh đông tàn "chắc chắn sẽ có ngày xuân huy hoàng đang "chờ đợi.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:                                 TỰ MIỄN                         (Tự khuyên mình) Phiên âm:                Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,                Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;                Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,                Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương. Dịch nghĩa:        ...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

                                TỰ MIỄN

                        (Tự khuyên mình)

Phiên âm:

               Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

               Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

               Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,

               Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.

Dịch nghĩa:

               Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,

               Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;

               Tai ương rèn luyện ta,

               Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.

Dịch thơ:

                     Ví không có cảnh đông tàn,

               Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;

                     Nghĩ mình trong bước gian truân,

               Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?

170
25 tháng 1 2025

1 PTBT Chính đc sử dụng trong bài thơ là biểu cảm kết hợp với tự sự

2 thất ngôn tứ tuyết

3 là tương phản

4. là cơ hội để rèn luyện,thử thách bản thân

5 Khó khăn,thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống và là cơ hội đề con người trưởng thành và mạnh mẽ hơn

1 tháng 2

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

Câu 2:

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt đường luật

Câu 3:

- Biện pháp tu từ: phép đối

+ "Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh"

(Ví có cảnh đông tàn tiều tụy)

+ "Tương vô xuân noãn đích huy hoàng" (Thì đâu có cảnh xuân ấm áp huy hoàng)

- Phân tích:

+ Sự đối lập giữa "đông hàn" (mùa đông lạnh lẽo, tiêu điều) và "xuân noãn" (mùa xuân ấm áp, huy hoàng) tạo nên hình ảnh tương phản mạnh mẽ.

+ Hình ảnh này mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: cảnh đông tàn (gian truân, tai ương) là tiền đề để có được mùa xuân huy hoàng (thành công, cuộc sống tươi đẹp).

Câu 4:

- Đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa:

+ Đối với nhân vật trữ tình (Hồ Chí Minh), tai ương có ý nghĩa tích cực là cơ hội để rèn luyện và tôi luyện bản lĩnh, tinh thần, ý chí thêm vững vàng, kiên cường.

+ Câu thơ "Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng" thể hiện rõ điều này. Thay vì bi quan, nản lòng, Bác Hồ coi những gian nan trong tù ngục là môi trường để tự thử thách, từ đó khiến tinh thần mình trở nên mạnh mẽ hơn. 

Câu 5:

- Bài học ý nghĩa nhất là về tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường và thái độ sống tích cực trước nghịch cảnh. Bài thơ dạy chúng ta rằng trong cuộc sống gian truân, thử thách là điều không thể tránh khỏi nhưng chính những khó khăn đó lại là chất xúc tác, là cơ hội để mỗi người tự rèn luyện, trưởng thành và vươn đến thành công, hạnh phúc. Chúng ta cần giữ vững niềm tin, ý chí và không ngừng nỗ lực vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống.