K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:NGƯỜI TRONG BAO(Trích)      Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NGƯỜI TRONG BAO

(Trích)

      Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên. Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên. Nói tóm lại, con người này lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài. Cuộc sống làm hắn khó chịu, ghê tởm đối với hiện tại, lúc nào hắn cũng ca ngợi quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật. Mấy thứ ngôn ngữ cổ mà hắn dạy đối với hắn thật ra cũng chỉ là một thứ giày cao su, một thứ ô che mà nhờ đó hắn có thể trốn tránh được cuộc sống thực.

      - Ồ, tiếng Hy Lạp nghe thật là tuyệt vời, êm tai. – Hắn ta nói với vẻ ngọt ngào. Và như để chứng minh cho lời nói của mình, hắn nheo mắt lại, giơ một ngón tay lên và thốt ra tiếng: - Anthrópos!

      Cả ý nghĩ của mình, Bê-li-cốp cũng cố giấu vào bao. Đối với hắn, chỉ có những chỉ thị, thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng.

      Hắn có một thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà khác nơi bọn chúng tôi ở. Hắn đến nhà giáo viên nào đó chẳng hạn, kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Hắn cứ ngồi im như phỗng thế rồi độ một giờ sau thì cáo từ. Hắn gọi đó là “cách duy trì những mối quan hệ tốt với bạn đồng nghiệp”. Bọn giáo viên chúng tôi đều sợ hắn. Thậm chí cả hiệu trưởng cũng sợ hắn. Anh thử nghĩ mà xem, giáo giới chúng tôi là bọn người biết suy nghĩ, rất nghiêm chỉnh, được giáo dục qua các tác phẩm của Tuốc-ghê-nhép và Sê-drin, thế mà cái thằng cha quanh năm đi giày cao su và mang ô ấy đã khống chế cả trường học chúng tôi suốt mười lăm năm trời. Mà đâu phải chỉ có trường học! Cả thành phố nữa ấy! Các bà các cô tối thứ bảy không dám tổ chức diễn kịch tại nhà nữa, sợ rằng nhỡ hắn biết thì lại phiền, giới tu hành khi có mặt hắn không dám ăn thịt và đánh bài. Dưới ảnh hưởng của những kẻ như Bê-li-cốp, trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, dân chúng trong thành phố đâm ra sợ tất cả. Sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ... [...]

(Trích Ngữ văn 11, Tập 2. Nxb. (2007), tập 2, tr.65-69.)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Xác định nhân vật trung tâm của đoạn trích.

Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp. Theo anh/chị, tại sao nhan đề đoạn trích lại được đặt là "Người trong bao"?

Câu 5 (1.0 điểm): Nêu bài học rút ra được từ trong đoạn trích.

70
23 tháng 1 2025

Dạ theo em là như sau ạ :

Câu 1: PTBĐ chính đc sử dụng trong bài là : Tự Sự

Câu 2: Nhân vật xưng " tôi " là nhân vật trung tâm

Câu 3: Đoạn trích trên được sử dụng ngôi kể thứ Ba , người kể giấu mình giúp kể cả được những biểu hiện sâu kín nhất trong nội tâm nhân vật .

Câu 4:

-Chi tiết:

+ Hàng ngày đều đi giày cao su,

+cầm ô

+ nhất thiết cầm bành tô ấm cốt bông

+Chiếc đồng hồ quả quýt

+ Chiếc dao nhỏ để gọt bút chì

=> tất cả đều được đựng trong một cái bao

+ Mặt cũng được so sánh như ở trong chiếc bao vì lúc nào cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên.

- Theo em lý do đoạn trích được đặt là " Người trong bao vì " Nhân vật chính của Câu chuyện được kể đến là một người cái gì cũng liên quan đến chiếc bao. Là một người có khát vọng mãnh liệt thu mình lại với thế giới giống như núp trong một cái bao và không muốn tiếp xúc với ai tự cô lập chính bản thân mình. Nên đoạn trích có tên " Người trong bao" là như thế.

Câu 5: Theo em bài học rút ra qua đoạn trích đó là :

+ Hãy sống một cuộc sống lành mạnh, vui tươi, hòa đồng với mọi người xung quanh để xây dựng một cuộc sống lành mạnh.

+ Không nên có tính cách thu mình lại với thế giới hay cô lập chính bản thân mình với mọi người xung quanh, học cách giao tiếp, cởi mở , thân thiện với mọi người xung quanh.

+ Hãy đối mặt với cuộc sống hiện tại và không nên quá bận tâm về quá khứ. trong quá khứ ai cũng có niềm vui và nỗi buồn riêng. Việc khơi gợi lại quá khứ là một chuyện không tốt.

Em mới có cấp hai< lớp 8> nên nếu có trả lời sai mong cô thông cảm ạ

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính: Tự sự (kết hợp miêu tả và biểu cảm).


Câu 2

Nhân vật trung tâm của đoạn trích là: Bê-li-cốp.

Câu 3 (1,0 điểm):

Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất (“tôi”)

Tác dụng:+Tạo cảm giác chân thực, khách quan vì người kể là người trong cuộc.

+Bộc lộ rõ thái độ, cảm xúc, sự đánh giá của người kể về Bê-li-cốp.

+Làm nổi bật tính cách kì quái, đáng sợ của nhân vật

Câu 4 (1,0 điểm):

Những chi tiết miêu tả chân dung Bê-li-cốp:

+ Lúc nào cũng đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông.

+ Ô để trong bao, đồng hồ để trong bao da, dao gọt bút chì cũng để trong bao.

+ Giấu mặt sau cổ áo bành tô, đeo kính râm, lỗ tai nhét bông, ngồi xe ngựa kéo mui lên.

+ Thích sống theo chỉ thị, thông tư; sợ hãi mọi thứ, làm mọi người xung quanh cũng sợ hãi.

Vì sao đặt nhan đề “Người trong bao”?

-Vì Bê-li-cốp luôn thu mình trong những “cái bao” vật chất (bao ô, bao đồng hồ…).

- Đồng thời đó là “cái bao” tinh thần: lối sống bảo thủ, sợ hãi, né tránh cuộc sống thực tại.
→ Nhan đề mang ý nghĩa biểu tượng, phê phán kiểu người sống khép kín, trì trệ.

Câu 5 (1,0 điểm):

Bài học rút ra:

- Không nên sống thu mình, sợ hãi, né tránh cuộc sống.

- Cần sống cởi mở, dám suy nghĩ, dám hành động.

-Phê phán lối sống bảo thủ, giáo điều làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.




Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: NGƯỜI TRONG BAO (Trích)       Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NGƯỜI TRONG BAO

(Trích)

      Đây này, chẳng phải tìm đâu xa, cách đây khoảng hai tháng, ở thành phố có một người mới chết tên là Bê-li-cốp, bạn đồng nghiệp của tôi, một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp. Chắc là anh cũng đã nghe tên ông này rồi. Hắn ta nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên. Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên. Nói tóm lại, con người này lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài. Cuộc sống làm hắn khó chịu, ghê tởm đối với hiện tại, lúc nào hắn cũng ca ngợi quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật. Mấy thứ ngôn ngữ cổ mà hắn dạy đối với hắn thật ra cũng chỉ là một thứ giày cao su, một thứ ô che mà nhờ đó hắn có thể trốn tránh được cuộc sống thực.

      - Ồ, tiếng Hy Lạp nghe thật là tuyệt vời, êm tai. – Hắn ta nói với vẻ ngọt ngào. Và như để chứng minh cho lời nói của mình, hắn nheo mắt lại, giơ một ngón tay lên và thốt ra tiếng: - Anthrópos!

      Cả ý nghĩ của mình, Bê li cốp cũng cố giấu vào bao. Đối với hắn, chỉ có những chỉ thị, thông tư, những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng.

      Hắn có một thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà khác nơi bọn chúng tôi ở. Hắn đến nhà giáo viên nào đó chẳng hạn, kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Hắn cứ ngồi im như phỗng thế rồi độ một giờ sau thì cáo từ. Hắn gọi đó là “cách duy trì những mối quan hệ tốt với bạn đồng nghiệp”. Bọn giáo viên chúng tôi đều sợ hắn. Thậm chí cả hiệu trưởng cũng sợ hắn. Anh thử nghĩ mà xem, giáo giới chúng tôi là bọn người biết suy nghĩ, rất nghiêm chỉnh, được giáo dục qua các tác phẩm của Tuốc-ghê-nhép và Sê-drin, thế mà cái thằng cha quanh năm đi giày cao su và mang ô ấy đã khống chế cả trường học chúng tôi suốt mười lăm năm trời. Mà đâu phải chỉ có trường học! Cả thành phố nữa ấy! Các bà các cô tối thứ bảy không dám tổ chức diễn kịch tại nhà nữa, sợ rằng nhỡ hắn biết thì lại phiền, giới tu hành khi có mặt hắn không dám ăn thịt và đánh bài. Dưới ảnh hưởng của những kẻ như Bê-li-cốp, trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, dân chúng trong thành phố đâm ra sợ tất cả. Sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ... [...]

(Trích Ngữ văn 11, Tập 2. Nxb. (2007), tập 2, tr.65-69.)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Xác định nhân vật trung tâm của đoạn trích?

Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.

Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp. Theo anh/chị, tại sao nhan đề đoạn trích lại được đặt là Người trong bao?

Câu 5 (1.0 điểm): Nêu bài học rút ra được từ trong đoạn trích.

1
12 tháng 2

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

Câu 2 Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê li cốp.

Câu 3 Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng tôi. Tác dụng là tạo cảm giác chân thực, khách quan, giúp câu chuyện trở nên sinh động, tăng sức thuyết phục và thể hiện rõ thái độ, cảm xúc của người kể đối với nhân vật.

Câu 4 Những chi tiết miêu tả chân dung Bê li cốp như luôn đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông dù trời đẹp, ô để trong bao, đồng hồ để trong bao, dao gọt bút chì cũng để trong bao, giấu mặt sau cổ áo, đeo kính râm, nhét bông vào tai, luôn kéo mui xe ngựa, sống thu mình, sợ hãi hiện tại, chỉ tin vào các chỉ thị cấm đoán. Nhan đề Người trong bao vì nhân vật luôn thu mình trong những cái bao cụ thể và cả cái bao tinh thần, tượng trưng cho lối sống khép kín, bảo thủ, sợ hãi, xa lánh cuộc sống.

Câu 5 Bài học rút ra là con người không nên sống khép kín, sợ hãi, bảo thủ trước cuộc sống mà cần mở lòng, sống tích cực, dám thay đổi và hòa nhập để xã hội phát triển lành mạnh.


13 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu lên một luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử tiêu biểu ở các triều đại trước như thời Hán, thời Đường để chứng minh rằng các bậc minh quân đều biết tiến cử và sử dụng người tài. Việc nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực đã làm cho lập luận trở nên rõ ràng và đáng tin cậy. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn kết hợp lí lẽ với thực tiễn của đất nước lúc bấy giờ, cho thấy sự cấp thiết của việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Ông không chỉ kêu gọi các quan lại tiến cử người hiền mà còn khuyến khích những người có tài tự mình ra giúp nước. Cách lập luận vừa mềm mỏng, vừa tha thiết đã thể hiện tầm nhìn rộng mở và tinh thần trọng dụng nhân tài của người viết. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ về vai trò của hiền tài đối với sự phát triển của quốc gia.

Câu 2 :

Trong thời đại hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý là “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng giỏi lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống thay vì cống hiến lâu dài cho đất nước.

Thực tế cho thấy ngày càng nhiều sinh viên, nhà khoa học và người lao động có trình độ cao lựa chọn làm việc tại các quốc gia phát triển. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, ở các nước phát triển, họ có điều kiện làm việc tốt hơn, môi trường nghiên cứu hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở và mức thu nhập hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, một số nơi trong nước vẫn còn tồn tại những hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực, cơ hội thăng tiến còn hạn chế. Ngoài ra, tâm lý muốn trải nghiệm môi trường quốc tế và phát triển bản thân cũng khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài. Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra không ít hệ lụy. Khi nhiều người tài rời khỏi đất nước, nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước sẽ bị thiếu hụt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Đất nước có thể mất đi những người có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đóng góp cho xã hội. Về lâu dài, điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu có chính sách phù hợp thì những người ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể trở thành cầu nối tri thức, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về phục vụ đất nước. Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có sự chung tay của cả Nhà nước và xã hội. Trước hết, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích và tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho đất nước. Việc đầu tư vào giáo dục, khoa học – công nghệ và tạo cơ hội nghiên cứu cũng là yếu tố quan trọng giúp giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, không chỉ phát triển bản thân mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.

Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Để đất nước phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp nhằm thu hút và giữ chân người tài. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức cống hiến và đất nước biết trân trọng, tạo điều kiện cho nhân tài phát triển, nguồn lực trí tuệ sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam tiến xa hơn trong tương lai.



14 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận rất chặt chẽ và thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu ra luận điểm: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng người hiền tài. Để làm rõ điều đó, ông sử dụng cách lập luận logic từ xưa đến nay: dẫn chứng các triều đại trước biết tiến cử và trọng dụng nhân tài nên đất nước hưng thịnh. Những ví dụ lịch sử cụ thể giúp cho lập luận trở nên rõ ràng, tăng tính thuyết phục. Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích thực trạng đương thời: nhiều người tài còn ẩn mình, chưa được phát hiện hoặc chưa dám ra giúp nước. Từ đó, ông đưa ra chủ trương và giải pháp như khuyến khích các quan tiến cử người hiền tài, cho phép người có tài tự tiến cử. Cách lập luận vừa có lí lẽ vừa có dẫn chứng xác đáng, kết hợp giọng văn chân thành, khiêm nhường đã thể hiện rõ tinh thần cầu hiền, trọng dụng nhân tài. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tầm nhìn sâu sắc của người lãnh đạo.

Câu 2:

Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra nhiều hệ quả đáng lo ngại. Khi nhiều nhân tài ra nước ngoài làm việc, đất nước sẽ mất đi một nguồn lực trí tuệ quý giá để phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới, sáng tạo và giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hơn nữa, việc đào tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí của xã hội. Nếu nguồn nhân lực đó không quay về đóng góp cho đất nước thì sẽ là một sự lãng phí lớn. Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Trước hết, Nhà nước cần xây dựng môi trường làm việc tốt hơn cho người tài, tạo điều kiện để họ nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sự nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, công bằng để khuyến khích và giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường làm việc minh bạch, chuyên nghiệp và tôn trọng năng lực cá nhân cũng rất quan trọng. Ngoài ra, mỗi người trẻ khi được học tập và phát triển cũng cần ý thức trách nhiệm của mình đối với đất nước, sẵn sàng cống hiến trí tuệ và tài năng cho sự phát triển chung của xã hội. Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay. Việc tạo điều kiện để thu hút và giữ chân nhân tài không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là mong muốn chung của toàn xã hội. Khi người tài được trân trọng và tạo cơ hội phát triển, họ sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

17
23 tháng 1 2025

### Câu 1 (0.5 điểm): **Phương thức biểu đạt chính** được sử dụng trong bài là **nghị luận**. --- ### Câu 2 (0.5 điểm): **Chủ thể bài viết** là **vua Lê Lợi**. --- ### Câu 3 (1.0 điểm): **Mục đích chính của văn bản**: Kêu gọi việc tiến cử và tự tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước. **Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản**: - Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên đều phải cử người có tài, bất kể là ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa. - Người có tài kinh luân mà bị khuất hoặc hào kiệt náu mình nơi làng quê, binh lính cũng có thể tự tiến cử. - Những người tiến cử được hiền tài sẽ được thưởng, tùy theo tài năng của người được tiến cử. --- ### Câu 4 (1.0 điểm): **Dẫn chứng minh chứng cho luận điểm**: Người viết nêu ra những tấm gương điển hình từ thời Hán và Đường: - Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình. - Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. **Nhận xét về cách nêu dẫn chứng**: - Các dẫn chứng được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận. - Tác giả không chỉ kể tên mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của các triều đại, từ đó tăng tính thuyết phục. --- ### Câu 5 (1.0 điểm): **Nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết**: - **Có trách nhiệm**: Vua Lê Lợi tự nhận trách nhiệm nặng nề trong việc trị quốc và luôn mong muốn tìm người tài giúp sức. - **Khiêm tốn và cầu thị**: Ông không câu nệ tiểu tiết, sẵn sàng chấp nhận cả những người tự tiến cử. - **Sáng suốt và công bằng**: Đưa ra chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc tiến cử hiền tài, dựa trên tài năng và đức độ. - **Quan tâm đến hiền tài**: Hiểu rõ vai trò quan trọng của nhân tài trong việc xây dựng đất nước và sẵn lòng trọng dụng người tài từ mọi tầng lớp.

12 tháng 3

Câu 1;

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

Câu 2;

Chủ thể bài viết; Vua Lê Lợi

Câu 3;

Mục đích chính: Tìm kiếm và kiêu gọi những người hiền tài, có đức, có tài ra gánh vác việc nước, cùng nhà vua xây dựng và phát triển quốc gia sau khi đất nước đã thái bình.

Các đường lối tiến cử người hiền tài :

+Tự mình tiến cử.

+ Tự quan tiến cử .

+Dâng sớ hiến kế.

Câu 4.

Việc đầu tiên vua cần làm; Đó là chọn người hiền tài để giúp đất nước.

Dẫn chứng người viết đưa ra .

Nhận xét cách nêu dẫn chứng .

Câu 5;

Thông qua văn bản, chúng ta thấy chủ thể ( Vừa Lê Lợi) là một vị minh quân có những phẩm chất đáng quý.

+ Cầu thị và khiêm nhường.

+ Tầm nhìn xa trông rộng.

+ Tâm huyết với dân, với nước.

12 tháng 2

Xuân Diệu từng quan niệm “thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”. Câu nói ấy nhấn mạnh sự thống nhất giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, giữa cảm xúc bên trong và vẻ đẹp ngôn từ bên ngoài của một tác phẩm thơ. Đọc “Thu rừng” của Huy Cận, ta có thể thấy rõ sự hòa quyện ấy, làm nên một bài thơ giàu giá trị thẩm mĩ và chiều sâu tâm trạng.

Trước hết, “hồn” của bài thơ chính là bức tranh thu nơi núi rừng cùng tâm trạng bâng khuâng, cô tịch của cái tôi thi sĩ. Huy Cận khắc họa không gian thu với những gam màu đặc trưng: sắc vàng của lá, vẻ trong veo của trời, sự tĩnh lặng của rừng núi. Thiên nhiên hiện lên vừa đẹp vừa vắng lặng, mang nét trầm buồn đặc trưng của hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng. Cảnh thu không chỉ là cảnh vật bên ngoài mà còn là sự phản chiếu tâm trạng. Đằng sau những hình ảnh rừng thu là nỗi buồn mênh mang, cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người giữa vũ trụ bao la. Nỗi buồn ấy không bi lụy mà thấm thía, sâu lắng, thể hiện cái nhìn nhạy cảm và tinh tế của nhà thơ.

Bên cạnh “hồn”, “xác” của bài thơ cũng rất giàu giá trị nghệ thuật. Huy Cận sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình, nhiều hình ảnh gợi cảm, nhịp điệu chậm rãi, trầm lắng phù hợp với không khí mùa thu. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ được vận dụng tinh tế, giúp cảnh thu trở nên sống động mà vẫn giữ được vẻ thanh sơ. Âm hưởng thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, kết hợp hài hòa giữa thanh bằng và thanh trắc, tạo nên một giai điệu buồn man mác. Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, mạch cảm xúc vận động tự nhiên từ cảnh đến tình, từ ngoại cảnh đến nội tâm, khiến toàn bài có sự thống nhất và trọn vẹn.

“Thu rừng” vì thế không chỉ hay ở một vài câu thơ riêng lẻ mà hay “cả bài”. Từng hình ảnh, từng nhịp thơ đều góp phần tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật hài hòa. Nội dung và hình thức nâng đỡ lẫn nhau, cảm xúc và nghệ thuật hòa quyện, làm nổi bật phong cách thơ Huy Cận: trầm buồn, suy tư mà tinh tế.

Qua việc cảm nhận “Thu rừng”, có thể thấy nhận định của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng. Một bài thơ thực sự hay phải là sự kết tinh của tâm hồn và tài năng, của chiều sâu cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật. Chính sự toàn vẹn ấy đã giúp thơ chạm đến trái tim người đọc và sống mãi với thời gian.

20 tháng 1 2025

Lớp 12 ☠

9 tháng 2

huhu

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản. Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội.  Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn.  Câu...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản.

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội. 

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn. 

Câu 5. Trình bày một thông điệp anh/chị rút ra sau khi đọc văn bản và lí giải. 

Bài đọc:

Sống mòn

       Tóm tắt: “Sống mòn” là cuốn tiểu thuyết của nhà văn hiện thực Nam Cao, viết trước Cách mạng tháng Tám về đề tài người trí thức tiểu tư sản. Nhân vật chính là Thứ - một thanh niên được học hành, có hoài bão, chí hướng. Sau khi lấy được bằng Thành chung(1), y vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Nhưng sau 3 năm, vì nghéo khó, bệnh tật, y phải về quê, chịu cảnh thất nghiệp. Rồi Thứ lên Hà Nội dạy ở một trường tư do Đích - anh họ đồng thời cũng là bạn của Thứ cùng vợ chưa cưới là Oanh mở ở ngoại thành Hà Nội. Cùng dạy với Thứ, Oanh còn có San. Cuộc sống của họ đều khó khăn. Thứ nhận thấy kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ, hoài bão và đẩy y cùng những người xung quanh đến cảnh “sống mòn”, trở nên ti tiện, nhỏ nhen. Nghỉ hè, Thứ về quê và phải đối mặt với những chuyện rắc rối của gia đình. Khi y quay trở lại Hà Nội thì trường phải đóng cửa vì thành phố luôn trong tình trạng báo động, Đích đang hấp hối trên giường bệnh,... Thứ đành trở về quê. Đoạn trích dưới đây là phần cuối của tiểu thuyết.

       Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về một xó nhà quê. Con tàu chở y về. Y cưỡng lại làm sao, bởi vì y đang ở trên con tàu đó. Chiều hôm nay, về đến nhà, y sẽ bảo Liên rằng trường đã vỡ rồi, y hết kế sinh nhai, y sẽ ra đi, sẽ đi liều,… Liên sẽ vuốt tóc y, xoa đầu y, vỗ về y vào bảo rằng y sẽ chẳng đi đâu. Và y sẽ chẳng đi đâu... Ấy! Cái đời y là vậy! Y biết thế! Y nhu nhược quá, hèn yếu quá! Y không bao giờ cưỡng lại (...) Y chỉ để mặc con tàu mang đi.

       Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần,... và bây giờ thì xa rồi, khuất hẳn rồi. Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao nhiêu đời nay đương đánh vật nhau với đất. Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao nhiêu người sống như y, không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới. Ấy thế mà trên đời này lại chẳng có cái gì tới hai lần. Sống tức là thay đổi...

       Bên cạnh Thứ, một anh chàng nhà quê trẻ tuổi, mượn được tờ báo của một kẻ đồng hành, mở ra, ề à đọc cho mấy người nhà quê khác nghe chung. Thứ nhớ đến cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố tan nát! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn... đẹp đẽ hơn... Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ được hưởng những cái gì mình đáng hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?

(Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, 2005, tr.331-334)

Chú thích: 

(1) Bằng Thành chung: Bằng cấp cho người thi đỗ hết cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, tương đương với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay.

26
20 tháng 1 2025

Ưạ

4 tháng 2


Câu 1. Ngôi kể

→ Văn bản kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh về cuộc sống của Thứ ở Hà Nội

  • “sống rụt rè hơn, sền so hơn, sống còm rom”
  • “chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”
  • “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê”
  • “chẳng có việc gì làm, sẽ ăn bám vợ”

→ Cuộc sống nghèo túng, bế tắc, làm Thứ đánh mất ước mơ.

Câu 3. Biện pháp tu từ

“Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”

  • Biện pháp: so sánh – ẩn dụ “phế nhân”.
  • Tác dụng: nhấn mạnh cảm giác vô dụng, tuyệt vọng của Thứ; thể hiện bi kịch người trí thức trước xã hội cũ.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ

  • Ở Sài Gòn: nhiều ước mơ, tin vào tương lai.
  • Ở Hà Nội: trở nên rụt rè, thực dụng, cam chịu, chỉ lo cơm áo.

→ Thứ từ người giàu lí tưởng thành kẻ sống mòn, mất dần bản ngã.

Câu 5. Thông điệp rút ra

Văn bản gửi gắm thông điệp:

→ Con người cần sống có lí tưởng và dám thay đổi, không để hoàn cảnh làm “mòn” đi khát vọng. Nếu chỉ cam chịu, cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa. Xã hội cũng cần tạo điều kiện để mỗi cá nhân được sống đúng giá trị của mình.

Lí giải:

Nhân vật Thứ có ước mơ đẹp nhưng bị nghèo đói và thói quen an phận trói buộc. Từ đó, ta hiểu rằng muốn sống có ý nghĩa phải vượt lên nỗi sợ hãi và sự trì trệ.


21 tháng 1 2025

Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp

21 tháng 1 2025

yếm nắm

20 tháng 1 2025

a. Bầu trời, Chăm chỉ, Chương trình, Con chồn

b. Nước biển, bước đi, lần lượt, trượt ngã

21 tháng 1 2025

cham chi , chuong trinh , con chon , nuoc bien , buoc di , lan luot , truoc nga

19 tháng 2


Phần II. Viết




Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)



Phân tích nhân vật “tôi” trong đoạn trích


Nhân vật “tôi” trong đoạn trích là một đứa trẻ giàu trí tưởng tượng, nhạy cảm và yêu nghệ thuật. Cậu có thể nhìn thấy trong bức tranh hình ảnh con trăn nuốt con voi, trong khi người lớn chỉ thấy một chiếc mũ vô nghĩa. Điều đó cho thấy cậu có khả năng quan sát tinh tế và một tâm hồn sáng tạo phong phú. Tuy nhiên, trước sự thờ ơ và không thấu hiểu của người lớn, cậu dần cảm thấy thất vọng và từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ. Nhân vật “tôi” cũng là người giàu suy tư, bởi khi trưởng thành, cậu nhận ra rằng người lớn thường không tự hiểu được những điều giản dị mà trẻ em cảm nhận rất rõ. Qua nhân vật này, tác giả thể hiện sự trân trọng thế giới nội tâm trẻ thơ và đồng thời bày tỏ nỗi tiếc nuối khi con người lớn lên đã đánh mất khả năng mơ mộng và sáng tạo ban đầu của mình.





Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)



Suy nghĩ về ý kiến: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.”


Giacomo Leopardi từng cho rằng: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Câu nói đã gợi ra sự đối lập sâu sắc giữa thế giới của trẻ em và thế giới của người lớn, đồng thời gửi gắm một triết lí nhân sinh đầy ý nghĩa.


Trẻ con có một tâm hồn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú. Với các em, một hòn sỏi có thể trở thành kho báu, một bức tranh nguệch ngoạc có thể là cả thế giới thần tiên, một câu chuyện nhỏ cũng đủ làm nên niềm vui lớn. Các em nhìn cuộc sống bằng đôi mắt tò mò và háo hức, luôn khám phá mọi điều xung quanh bằng cảm xúc chân thành. Vì thế, “nơi chẳng có gì” đối với người lớn lại trở thành “tất cả” đối với trẻ em, bởi các em biết cảm nhận giá trị từ những điều rất giản dị.


Ngược lại, khi trưởng thành, con người dần bị cuốn vào guồng quay của công việc, danh lợi và những toan tính thực tế. Người lớn có trong tay rất nhiều thứ: tiền bạc, tri thức, địa vị, tiện nghi vật chất. Nhưng chính sự bận rộn và áp lực ấy khiến họ đánh mất khả năng rung cảm trước những điều nhỏ bé. Họ có thể đứng trước một bầu trời đầy sao mà không thấy đẹp, sống giữa tình yêu thương mà không nhận ra hạnh phúc. Bởi vậy, dù “có tất cả”, họ vẫn “chẳng tìm được gì” cho tâm hồn mình.


Ý kiến của Leopardi không nhằm phủ nhận vai trò của người lớn mà nhắc nhở con người hãy biết giữ lại một phần tâm hồn trẻ thơ trong quá trình trưởng thành. Con người cần học cách sống chậm lại, biết trân trọng những niềm vui giản dị như một buổi chiều yên bình, một lời hỏi thăm chân thành, hay một giấc mơ nhỏ bé của bản thân. Khi đó, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa hơn, không chỉ là chuỗi ngày mưu sinh khô khan.


Từ góc nhìn của người trẻ, em nhận thấy rằng mình cần biết dung hòa giữa hai thế giới: vừa học tập, rèn luyện để trở thành người trưởng thành có trách nhiệm, vừa giữ gìn trí tưởng tượng, sự hồn nhiên và lòng yêu cái đẹp. Không nên để áp lực học tập hay thành tích làm mất đi niềm vui sống và khả năng mơ ước. Chỉ khi giữ được “đứa trẻ” trong tâm hồn, con người mới có thể cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn.


Như vậy, câu nói của Leopardi là lời nhắn nhủ sâu sắc: hãy học ở trẻ em cách nhìn cuộc sống bằng trái tim trong sáng và giàu cảm xúc. Khi biết tìm thấy “tất cả” trong những điều giản dị, con người sẽ không còn cảm thấy trống rỗng dù đang sống giữa thế giới đầy đủ và hiện đại.


Câu 1:

Nhân vật "tôi" trong đoạn trích mở đầu của tác phẩm Hoàng tử bé không chỉ đơn thuần là người kể chuyện, mà còn là hiện thân của một bi kịch về sự lạc lõng giữa thế giới người lớn khô khan. Ngay từ khi lên sáu, "tôi" đã bộc lộ một bản năng nghệ sĩ thuần khiết với trí tưởng tượng vượt xa những giới hạn vật lý thông thường. Hình ảnh con trăn nuốt chửng con thú dữ trong cuốn sách về rừng hoang đã khơi dậy trong cậu bé một khát khao tái hiện thế giới qua lăng kính cá nhân. Tuy nhiên, bức "kiệt tác số một" – vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi – lại trở thành một phép thử nghiệt ngã cho sự kết nối giữa hai thế giới: trẻ thơ và người lớn.Sự đối lập giữa cái nhìn của "tôi" và "người lớn" chính là điểm mấu chốt khắc họa tính cách nhân vật. Trong khi cậu bé nhìn thấy một cuộc đấu tranh sinh tồn mãnh liệt và đầy bí ẩn bên trong bụng con trăn, thì những người lớn chỉ thấy một "cái mũ" tầm thường và vô hại. Nỗi thất vọng của "tôi" không chỉ đến từ việc bị chê bai kỹ năng hội họa, mà sâu sắc hơn, đó là nỗi đau khi trí tưởng tượng bị từ chối. Phản ứng của người lớn – khuyên cậu nên gạt bỏ những bức vẽ "vô bổ" để tập trung vào địa lý, lịch sử, toán học – đại diện cho áp lực của xã hội thực dụng, nơi những giá trị tinh thần bị bóp nghẹt bởi những con số và sự hữu dụng bề nổi.Chính vì sự cô độc ấy, "tôi" đã phải chọn một ngã rẽ khác: trở thành phi công. Nghề nghiệp này cho phép nhân vật bay lượn trên bầu trời, giữ một khoảng cách nhất định với mặt đất đầy những quy tắc cứng nhắc. Thế nhưng, dù đã trưởng thành và tiếp xúc với rất nhiều "người lớn quan trọng", nhân vật "tôi" vẫn luôn mang theo bức vẽ số một như một "chiếc la bàn tâm hồn". Cậu dùng nó để tìm kiếm một người bạn thực sự, một người có khả năng nhìn thấu lớp vỏ "cái mũ" để thấy con voi bên trong. Nhân vật "tôi" vừa là một người lớn đã "bị thuần hóa" bởi cuộc đời, nhưng cũng vừa là một đứa trẻ vĩnh cửu, luôn khao khát sự thấu cảm và sự chân thực. Qua nhân vật này, Saint-Exupéry đã gửi gắm một thông điệp xót xa: sự trưởng thành đôi khi là một quá trình đánh mất đi đôi mắt của trái tim, và nhân vật "tôi" chính là người đang nỗ lực cứu vãn những mảnh vỡ cuối cùng của sự hồn nhiên đó.


Trong mênh mông của văn học thế giới, hiếm có tác phẩm nào thức tỉnh tâm hồn con người về sự hồn nhiên mạnh mẽ như Hoàng tử bé của Antoine de Saint-Exupéry. Qua hình ảnh cậu bé với bức vẽ con trăn nuốt voi bị người lớn coi là cái mũ, ta sực nhớ đến nhận định đầy suy tư của Giacomo Leopardi: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". Câu nói như một tấm gương phản chiếu sự đối lập nghiệt ngã giữa hai thế giới quan: một bên là sự giàu có của trí tưởng tượng, một bên là sự nghèo nàn của tâm hồn thực dụng.

Trước hết, tại sao nói "trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì"? Với một đứa trẻ, thế giới không vận hành bằng những con số hay định nghĩa khô khan. "Chẳng có gì" ở đây có thể là một hòn đá cuội, một chiếc hộp rỗng, hay một đường kẻ nguệch ngoạc trên giấy. Nhưng qua lăng kính của trẻ thơ, hòn đá ấy là một hành tinh xa xôi, chiếc hộp là ngôi nhà của một con cừu bí ẩn, và đường kẻ ấy chính là con trăn đang tiêu hóa một con voi khổng lồ. Trẻ em sở hữu một năng lực kỳ diệu: năng lực sáng tạo ra ý nghĩa. Chúng không nhìn sự vật bằng hình dáng vật lý đơn thuần mà nhìn bằng trái tim và niềm tin thuần khiết. Với chúng, thế giới là một kho báu vô tận mà mỗi ngóc ngách đều ẩn chứa một câu chuyện.

Ngược lại, bi kịch nằm ở vế thứ hai: "người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". "Tất cả" ở đây chính là sự đủ đầy về kiến thức, vật chất, địa vị và những trải nghiệm thực tế. Người lớn biết rõ về địa lý, lịch sử, toán học; họ sở hữu những chiếc cà vạt sang trọng và bàn luận về chính trị, bài bạc. Thế nhưng, chính sự "biết tất cả" ấy lại vô tình trở thành bức tường ngăn cách họ với vẻ đẹp đích thực của cuộc sống. Khi tâm hồn đã bị "thuần hóa" bởi tư duy thực dụng, họ chỉ nhìn thấy những gì có ích, có giá trị sử dụng. Họ nhìn bức vẽ của nhân vật "tôi" và chỉ thấy một cái mũ vì họ đã mất đi khả năng nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc. Họ có tất cả các phương tiện để hiểu thế giới, nhưng lại thiếu đi cái "chìa khóa" quan trọng nhất: sự rung động và trí tưởng tượng.

Sự đối lập này dẫn đến một hệ lụy xót xa mà chúng ta thấy trong đoạn trích: nhân vật "tôi" đã phải từ bỏ ước mơ họa sĩ để học lái máy bay. Xã hội người lớn tôn vinh những môn học "văn hóa" nhưng lại xem nhẹ những giấc mơ "viển vông". Họ nhân danh sự trưởng thành để ép buộc trẻ em phải nhìn thế giới theo cách của họ – một cách nhìn phẳng lặng, thiếu màu sắc và đầy tính toán. Khi người lớn khuyên cậu bé hãy "để tâm vào môn địa, môn sử, môn toán", họ đã vô tình dập tắt một mầm mống nghệ thuật thiên tài, biến một tâm hồn bay bổng thành một bánh răng trong bộ máy xã hội.

Tuy nhiên, bài học từ câu nói của Leopardi không phải để chúng ta phủ nhận sự trưởng thành, mà là để nhắc nhở chúng ta về sự cân bằng. Chúng ta cần kiến thức để sinh tồn, nhưng chúng ta cần trí tưởng tượng để "sống" đúng nghĩa. Một người lớn thực sự sáng suốt là người dù có đi khắp thế gian, am tường mọi lẽ, vẫn giữ được trong lòng một "đứa trẻ" biết ngạc nhiên trước một bông hoa hay biết đau lòng trước một bức vẽ bị hiểu lầm. Như nhân vật "tôi", dù đã trở thành phi công, vẫn luôn giữ bức vẽ số một bên mình như một lời nhắc nhở về bản ngã chân thật.

Tóm lại, thế giới không thay đổi, chỉ có cách chúng ta nhìn thế giới là thay đổi. Đừng để sự giàu có về vật chất và kiến thức tỉ lệ nghịch với sự nghèo nàn của tâm hồn. Hãy học cách "tìm thấy tất cả" từ những điều giản đơn nhất, để cuộc đời không chỉ là một chuỗi những phép tính khô khan, mà là một cuộc phiêu lưu đầy màu sắc của trái tim. Bởi sau cùng, như lời của chính Hoàng tử bé: "Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Những gì cốt yếu thì mắt thường không nhìn thấy được".