K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1) (Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))       Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

17
23 tháng 1 2025

### Câu 1 (0.5 điểm): **Phương thức biểu đạt chính** được sử dụng trong bài là **nghị luận**. --- ### Câu 2 (0.5 điểm): **Chủ thể bài viết** là **vua Lê Lợi**. --- ### Câu 3 (1.0 điểm): **Mục đích chính của văn bản**: Kêu gọi việc tiến cử và tự tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước. **Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản**: - Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên đều phải cử người có tài, bất kể là ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa. - Người có tài kinh luân mà bị khuất hoặc hào kiệt náu mình nơi làng quê, binh lính cũng có thể tự tiến cử. - Những người tiến cử được hiền tài sẽ được thưởng, tùy theo tài năng của người được tiến cử. --- ### Câu 4 (1.0 điểm): **Dẫn chứng minh chứng cho luận điểm**: Người viết nêu ra những tấm gương điển hình từ thời Hán và Đường: - Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình. - Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. **Nhận xét về cách nêu dẫn chứng**: - Các dẫn chứng được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận. - Tác giả không chỉ kể tên mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của các triều đại, từ đó tăng tính thuyết phục. --- ### Câu 5 (1.0 điểm): **Nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết**: - **Có trách nhiệm**: Vua Lê Lợi tự nhận trách nhiệm nặng nề trong việc trị quốc và luôn mong muốn tìm người tài giúp sức. - **Khiêm tốn và cầu thị**: Ông không câu nệ tiểu tiết, sẵn sàng chấp nhận cả những người tự tiến cử. - **Sáng suốt và công bằng**: Đưa ra chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc tiến cử hiền tài, dựa trên tài năng và đức độ. - **Quan tâm đến hiền tài**: Hiểu rõ vai trò quan trọng của nhân tài trong việc xây dựng đất nước và sẵn lòng trọng dụng người tài từ mọi tầng lớp.

12 tháng 3

Câu 1;

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

Câu 2;

Chủ thể bài viết; Vua Lê Lợi

Câu 3;

Mục đích chính: Tìm kiếm và kiêu gọi những người hiền tài, có đức, có tài ra gánh vác việc nước, cùng nhà vua xây dựng và phát triển quốc gia sau khi đất nước đã thái bình.

Các đường lối tiến cử người hiền tài :

+Tự mình tiến cử.

+ Tự quan tiến cử .

+Dâng sớ hiến kế.

Câu 4.

Việc đầu tiên vua cần làm; Đó là chọn người hiền tài để giúp đất nước.

Dẫn chứng người viết đưa ra .

Nhận xét cách nêu dẫn chứng .

Câu 5;

Thông qua văn bản, chúng ta thấy chủ thể ( Vừa Lê Lợi) là một vị minh quân có những phẩm chất đáng quý.

+ Cầu thị và khiêm nhường.

+ Tầm nhìn xa trông rộng.

+ Tâm huyết với dân, với nước.

12 tháng 2

Xuân Diệu từng quan niệm “thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”. Câu nói ấy nhấn mạnh sự thống nhất giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, giữa cảm xúc bên trong và vẻ đẹp ngôn từ bên ngoài của một tác phẩm thơ. Đọc “Thu rừng” của Huy Cận, ta có thể thấy rõ sự hòa quyện ấy, làm nên một bài thơ giàu giá trị thẩm mĩ và chiều sâu tâm trạng.

Trước hết, “hồn” của bài thơ chính là bức tranh thu nơi núi rừng cùng tâm trạng bâng khuâng, cô tịch của cái tôi thi sĩ. Huy Cận khắc họa không gian thu với những gam màu đặc trưng: sắc vàng của lá, vẻ trong veo của trời, sự tĩnh lặng của rừng núi. Thiên nhiên hiện lên vừa đẹp vừa vắng lặng, mang nét trầm buồn đặc trưng của hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng. Cảnh thu không chỉ là cảnh vật bên ngoài mà còn là sự phản chiếu tâm trạng. Đằng sau những hình ảnh rừng thu là nỗi buồn mênh mang, cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người giữa vũ trụ bao la. Nỗi buồn ấy không bi lụy mà thấm thía, sâu lắng, thể hiện cái nhìn nhạy cảm và tinh tế của nhà thơ.

Bên cạnh “hồn”, “xác” của bài thơ cũng rất giàu giá trị nghệ thuật. Huy Cận sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình, nhiều hình ảnh gợi cảm, nhịp điệu chậm rãi, trầm lắng phù hợp với không khí mùa thu. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ được vận dụng tinh tế, giúp cảnh thu trở nên sống động mà vẫn giữ được vẻ thanh sơ. Âm hưởng thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, kết hợp hài hòa giữa thanh bằng và thanh trắc, tạo nên một giai điệu buồn man mác. Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, mạch cảm xúc vận động tự nhiên từ cảnh đến tình, từ ngoại cảnh đến nội tâm, khiến toàn bài có sự thống nhất và trọn vẹn.

“Thu rừng” vì thế không chỉ hay ở một vài câu thơ riêng lẻ mà hay “cả bài”. Từng hình ảnh, từng nhịp thơ đều góp phần tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật hài hòa. Nội dung và hình thức nâng đỡ lẫn nhau, cảm xúc và nghệ thuật hòa quyện, làm nổi bật phong cách thơ Huy Cận: trầm buồn, suy tư mà tinh tế.

Qua việc cảm nhận “Thu rừng”, có thể thấy nhận định của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng. Một bài thơ thực sự hay phải là sự kết tinh của tâm hồn và tài năng, của chiều sâu cảm xúc và vẻ đẹp nghệ thuật. Chính sự toàn vẹn ấy đã giúp thơ chạm đến trái tim người đọc và sống mãi với thời gian.

20 tháng 1 2025

Lớp 12 ☠

9 tháng 2

huhu

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản. Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội.  Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn.  Câu...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản.

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội. 

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn. 

Câu 5. Trình bày một thông điệp anh/chị rút ra sau khi đọc văn bản và lí giải. 

Bài đọc:

Sống mòn

       Tóm tắt: “Sống mòn” là cuốn tiểu thuyết của nhà văn hiện thực Nam Cao, viết trước Cách mạng tháng Tám về đề tài người trí thức tiểu tư sản. Nhân vật chính là Thứ - một thanh niên được học hành, có hoài bão, chí hướng. Sau khi lấy được bằng Thành chung(1), y vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Nhưng sau 3 năm, vì nghéo khó, bệnh tật, y phải về quê, chịu cảnh thất nghiệp. Rồi Thứ lên Hà Nội dạy ở một trường tư do Đích - anh họ đồng thời cũng là bạn của Thứ cùng vợ chưa cưới là Oanh mở ở ngoại thành Hà Nội. Cùng dạy với Thứ, Oanh còn có San. Cuộc sống của họ đều khó khăn. Thứ nhận thấy kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ, hoài bão và đẩy y cùng những người xung quanh đến cảnh “sống mòn”, trở nên ti tiện, nhỏ nhen. Nghỉ hè, Thứ về quê và phải đối mặt với những chuyện rắc rối của gia đình. Khi y quay trở lại Hà Nội thì trường phải đóng cửa vì thành phố luôn trong tình trạng báo động, Đích đang hấp hối trên giường bệnh,... Thứ đành trở về quê. Đoạn trích dưới đây là phần cuối của tiểu thuyết.

       Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về một xó nhà quê. Con tàu chở y về. Y cưỡng lại làm sao, bởi vì y đang ở trên con tàu đó. Chiều hôm nay, về đến nhà, y sẽ bảo Liên rằng trường đã vỡ rồi, y hết kế sinh nhai, y sẽ ra đi, sẽ đi liều,… Liên sẽ vuốt tóc y, xoa đầu y, vỗ về y vào bảo rằng y sẽ chẳng đi đâu. Và y sẽ chẳng đi đâu... Ấy! Cái đời y là vậy! Y biết thế! Y nhu nhược quá, hèn yếu quá! Y không bao giờ cưỡng lại (...) Y chỉ để mặc con tàu mang đi.

       Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần,... và bây giờ thì xa rồi, khuất hẳn rồi. Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao nhiêu đời nay đương đánh vật nhau với đất. Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao nhiêu người sống như y, không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới. Ấy thế mà trên đời này lại chẳng có cái gì tới hai lần. Sống tức là thay đổi...

       Bên cạnh Thứ, một anh chàng nhà quê trẻ tuổi, mượn được tờ báo của một kẻ đồng hành, mở ra, ề à đọc cho mấy người nhà quê khác nghe chung. Thứ nhớ đến cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố tan nát! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn... đẹp đẽ hơn... Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ được hưởng những cái gì mình đáng hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?

(Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, 2005, tr.331-334)

Chú thích: 

(1) Bằng Thành chung: Bằng cấp cho người thi đỗ hết cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, tương đương với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay.

26
20 tháng 1 2025

Ưạ

4 tháng 2


Câu 1. Ngôi kể

→ Văn bản kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh về cuộc sống của Thứ ở Hà Nội

  • “sống rụt rè hơn, sền so hơn, sống còm rom”
  • “chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”
  • “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê”
  • “chẳng có việc gì làm, sẽ ăn bám vợ”

→ Cuộc sống nghèo túng, bế tắc, làm Thứ đánh mất ước mơ.

Câu 3. Biện pháp tu từ

“Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”

  • Biện pháp: so sánh – ẩn dụ “phế nhân”.
  • Tác dụng: nhấn mạnh cảm giác vô dụng, tuyệt vọng của Thứ; thể hiện bi kịch người trí thức trước xã hội cũ.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ

  • Ở Sài Gòn: nhiều ước mơ, tin vào tương lai.
  • Ở Hà Nội: trở nên rụt rè, thực dụng, cam chịu, chỉ lo cơm áo.

→ Thứ từ người giàu lí tưởng thành kẻ sống mòn, mất dần bản ngã.

Câu 5. Thông điệp rút ra

Văn bản gửi gắm thông điệp:

→ Con người cần sống có lí tưởng và dám thay đổi, không để hoàn cảnh làm “mòn” đi khát vọng. Nếu chỉ cam chịu, cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa. Xã hội cũng cần tạo điều kiện để mỗi cá nhân được sống đúng giá trị của mình.

Lí giải:

Nhân vật Thứ có ước mơ đẹp nhưng bị nghèo đói và thói quen an phận trói buộc. Từ đó, ta hiểu rằng muốn sống có ý nghĩa phải vượt lên nỗi sợ hãi và sự trì trệ.


21 tháng 1 2025

Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp

21 tháng 1 2025

yếm nắm

20 tháng 1 2025

a. Bầu trời, Chăm chỉ, Chương trình, Con chồn

b. Nước biển, bước đi, lần lượt, trượt ngã

21 tháng 1 2025

cham chi , chuong trinh , con chon , nuoc bien , buoc di , lan luot , truoc nga

19 tháng 2


Phần II. Viết




Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)



Phân tích nhân vật “tôi” trong đoạn trích


Nhân vật “tôi” trong đoạn trích là một đứa trẻ giàu trí tưởng tượng, nhạy cảm và yêu nghệ thuật. Cậu có thể nhìn thấy trong bức tranh hình ảnh con trăn nuốt con voi, trong khi người lớn chỉ thấy một chiếc mũ vô nghĩa. Điều đó cho thấy cậu có khả năng quan sát tinh tế và một tâm hồn sáng tạo phong phú. Tuy nhiên, trước sự thờ ơ và không thấu hiểu của người lớn, cậu dần cảm thấy thất vọng và từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ. Nhân vật “tôi” cũng là người giàu suy tư, bởi khi trưởng thành, cậu nhận ra rằng người lớn thường không tự hiểu được những điều giản dị mà trẻ em cảm nhận rất rõ. Qua nhân vật này, tác giả thể hiện sự trân trọng thế giới nội tâm trẻ thơ và đồng thời bày tỏ nỗi tiếc nuối khi con người lớn lên đã đánh mất khả năng mơ mộng và sáng tạo ban đầu của mình.





Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)



Suy nghĩ về ý kiến: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.”


Giacomo Leopardi từng cho rằng: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Câu nói đã gợi ra sự đối lập sâu sắc giữa thế giới của trẻ em và thế giới của người lớn, đồng thời gửi gắm một triết lí nhân sinh đầy ý nghĩa.


Trẻ con có một tâm hồn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú. Với các em, một hòn sỏi có thể trở thành kho báu, một bức tranh nguệch ngoạc có thể là cả thế giới thần tiên, một câu chuyện nhỏ cũng đủ làm nên niềm vui lớn. Các em nhìn cuộc sống bằng đôi mắt tò mò và háo hức, luôn khám phá mọi điều xung quanh bằng cảm xúc chân thành. Vì thế, “nơi chẳng có gì” đối với người lớn lại trở thành “tất cả” đối với trẻ em, bởi các em biết cảm nhận giá trị từ những điều rất giản dị.


Ngược lại, khi trưởng thành, con người dần bị cuốn vào guồng quay của công việc, danh lợi và những toan tính thực tế. Người lớn có trong tay rất nhiều thứ: tiền bạc, tri thức, địa vị, tiện nghi vật chất. Nhưng chính sự bận rộn và áp lực ấy khiến họ đánh mất khả năng rung cảm trước những điều nhỏ bé. Họ có thể đứng trước một bầu trời đầy sao mà không thấy đẹp, sống giữa tình yêu thương mà không nhận ra hạnh phúc. Bởi vậy, dù “có tất cả”, họ vẫn “chẳng tìm được gì” cho tâm hồn mình.


Ý kiến của Leopardi không nhằm phủ nhận vai trò của người lớn mà nhắc nhở con người hãy biết giữ lại một phần tâm hồn trẻ thơ trong quá trình trưởng thành. Con người cần học cách sống chậm lại, biết trân trọng những niềm vui giản dị như một buổi chiều yên bình, một lời hỏi thăm chân thành, hay một giấc mơ nhỏ bé của bản thân. Khi đó, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa hơn, không chỉ là chuỗi ngày mưu sinh khô khan.


Từ góc nhìn của người trẻ, em nhận thấy rằng mình cần biết dung hòa giữa hai thế giới: vừa học tập, rèn luyện để trở thành người trưởng thành có trách nhiệm, vừa giữ gìn trí tưởng tượng, sự hồn nhiên và lòng yêu cái đẹp. Không nên để áp lực học tập hay thành tích làm mất đi niềm vui sống và khả năng mơ ước. Chỉ khi giữ được “đứa trẻ” trong tâm hồn, con người mới có thể cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn.


Như vậy, câu nói của Leopardi là lời nhắn nhủ sâu sắc: hãy học ở trẻ em cách nhìn cuộc sống bằng trái tim trong sáng và giàu cảm xúc. Khi biết tìm thấy “tất cả” trong những điều giản dị, con người sẽ không còn cảm thấy trống rỗng dù đang sống giữa thế giới đầy đủ và hiện đại.


Câu 1:

Nhân vật "tôi" trong đoạn trích mở đầu của tác phẩm Hoàng tử bé không chỉ đơn thuần là người kể chuyện, mà còn là hiện thân của một bi kịch về sự lạc lõng giữa thế giới người lớn khô khan. Ngay từ khi lên sáu, "tôi" đã bộc lộ một bản năng nghệ sĩ thuần khiết với trí tưởng tượng vượt xa những giới hạn vật lý thông thường. Hình ảnh con trăn nuốt chửng con thú dữ trong cuốn sách về rừng hoang đã khơi dậy trong cậu bé một khát khao tái hiện thế giới qua lăng kính cá nhân. Tuy nhiên, bức "kiệt tác số một" – vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi – lại trở thành một phép thử nghiệt ngã cho sự kết nối giữa hai thế giới: trẻ thơ và người lớn.Sự đối lập giữa cái nhìn của "tôi" và "người lớn" chính là điểm mấu chốt khắc họa tính cách nhân vật. Trong khi cậu bé nhìn thấy một cuộc đấu tranh sinh tồn mãnh liệt và đầy bí ẩn bên trong bụng con trăn, thì những người lớn chỉ thấy một "cái mũ" tầm thường và vô hại. Nỗi thất vọng của "tôi" không chỉ đến từ việc bị chê bai kỹ năng hội họa, mà sâu sắc hơn, đó là nỗi đau khi trí tưởng tượng bị từ chối. Phản ứng của người lớn – khuyên cậu nên gạt bỏ những bức vẽ "vô bổ" để tập trung vào địa lý, lịch sử, toán học – đại diện cho áp lực của xã hội thực dụng, nơi những giá trị tinh thần bị bóp nghẹt bởi những con số và sự hữu dụng bề nổi.Chính vì sự cô độc ấy, "tôi" đã phải chọn một ngã rẽ khác: trở thành phi công. Nghề nghiệp này cho phép nhân vật bay lượn trên bầu trời, giữ một khoảng cách nhất định với mặt đất đầy những quy tắc cứng nhắc. Thế nhưng, dù đã trưởng thành và tiếp xúc với rất nhiều "người lớn quan trọng", nhân vật "tôi" vẫn luôn mang theo bức vẽ số một như một "chiếc la bàn tâm hồn". Cậu dùng nó để tìm kiếm một người bạn thực sự, một người có khả năng nhìn thấu lớp vỏ "cái mũ" để thấy con voi bên trong. Nhân vật "tôi" vừa là một người lớn đã "bị thuần hóa" bởi cuộc đời, nhưng cũng vừa là một đứa trẻ vĩnh cửu, luôn khao khát sự thấu cảm và sự chân thực. Qua nhân vật này, Saint-Exupéry đã gửi gắm một thông điệp xót xa: sự trưởng thành đôi khi là một quá trình đánh mất đi đôi mắt của trái tim, và nhân vật "tôi" chính là người đang nỗ lực cứu vãn những mảnh vỡ cuối cùng của sự hồn nhiên đó.


Trong mênh mông của văn học thế giới, hiếm có tác phẩm nào thức tỉnh tâm hồn con người về sự hồn nhiên mạnh mẽ như Hoàng tử bé của Antoine de Saint-Exupéry. Qua hình ảnh cậu bé với bức vẽ con trăn nuốt voi bị người lớn coi là cái mũ, ta sực nhớ đến nhận định đầy suy tư của Giacomo Leopardi: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". Câu nói như một tấm gương phản chiếu sự đối lập nghiệt ngã giữa hai thế giới quan: một bên là sự giàu có của trí tưởng tượng, một bên là sự nghèo nàn của tâm hồn thực dụng.

Trước hết, tại sao nói "trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì"? Với một đứa trẻ, thế giới không vận hành bằng những con số hay định nghĩa khô khan. "Chẳng có gì" ở đây có thể là một hòn đá cuội, một chiếc hộp rỗng, hay một đường kẻ nguệch ngoạc trên giấy. Nhưng qua lăng kính của trẻ thơ, hòn đá ấy là một hành tinh xa xôi, chiếc hộp là ngôi nhà của một con cừu bí ẩn, và đường kẻ ấy chính là con trăn đang tiêu hóa một con voi khổng lồ. Trẻ em sở hữu một năng lực kỳ diệu: năng lực sáng tạo ra ý nghĩa. Chúng không nhìn sự vật bằng hình dáng vật lý đơn thuần mà nhìn bằng trái tim và niềm tin thuần khiết. Với chúng, thế giới là một kho báu vô tận mà mỗi ngóc ngách đều ẩn chứa một câu chuyện.

Ngược lại, bi kịch nằm ở vế thứ hai: "người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". "Tất cả" ở đây chính là sự đủ đầy về kiến thức, vật chất, địa vị và những trải nghiệm thực tế. Người lớn biết rõ về địa lý, lịch sử, toán học; họ sở hữu những chiếc cà vạt sang trọng và bàn luận về chính trị, bài bạc. Thế nhưng, chính sự "biết tất cả" ấy lại vô tình trở thành bức tường ngăn cách họ với vẻ đẹp đích thực của cuộc sống. Khi tâm hồn đã bị "thuần hóa" bởi tư duy thực dụng, họ chỉ nhìn thấy những gì có ích, có giá trị sử dụng. Họ nhìn bức vẽ của nhân vật "tôi" và chỉ thấy một cái mũ vì họ đã mất đi khả năng nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc. Họ có tất cả các phương tiện để hiểu thế giới, nhưng lại thiếu đi cái "chìa khóa" quan trọng nhất: sự rung động và trí tưởng tượng.

Sự đối lập này dẫn đến một hệ lụy xót xa mà chúng ta thấy trong đoạn trích: nhân vật "tôi" đã phải từ bỏ ước mơ họa sĩ để học lái máy bay. Xã hội người lớn tôn vinh những môn học "văn hóa" nhưng lại xem nhẹ những giấc mơ "viển vông". Họ nhân danh sự trưởng thành để ép buộc trẻ em phải nhìn thế giới theo cách của họ – một cách nhìn phẳng lặng, thiếu màu sắc và đầy tính toán. Khi người lớn khuyên cậu bé hãy "để tâm vào môn địa, môn sử, môn toán", họ đã vô tình dập tắt một mầm mống nghệ thuật thiên tài, biến một tâm hồn bay bổng thành một bánh răng trong bộ máy xã hội.

Tuy nhiên, bài học từ câu nói của Leopardi không phải để chúng ta phủ nhận sự trưởng thành, mà là để nhắc nhở chúng ta về sự cân bằng. Chúng ta cần kiến thức để sinh tồn, nhưng chúng ta cần trí tưởng tượng để "sống" đúng nghĩa. Một người lớn thực sự sáng suốt là người dù có đi khắp thế gian, am tường mọi lẽ, vẫn giữ được trong lòng một "đứa trẻ" biết ngạc nhiên trước một bông hoa hay biết đau lòng trước một bức vẽ bị hiểu lầm. Như nhân vật "tôi", dù đã trở thành phi công, vẫn luôn giữ bức vẽ số một bên mình như một lời nhắc nhở về bản ngã chân thật.

Tóm lại, thế giới không thay đổi, chỉ có cách chúng ta nhìn thế giới là thay đổi. Đừng để sự giàu có về vật chất và kiến thức tỉ lệ nghịch với sự nghèo nàn của tâm hồn. Hãy học cách "tìm thấy tất cả" từ những điều giản đơn nhất, để cuộc đời không chỉ là một chuỗi những phép tính khô khan, mà là một cuộc phiêu lưu đầy màu sắc của trái tim. Bởi sau cùng, như lời của chính Hoàng tử bé: "Người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim. Những gì cốt yếu thì mắt thường không nhìn thấy được".



(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:        Hồi lên sáu, tôi có nhìn thấy một lần, một bức tranh tuyệt đẹp, trong một cuốn sách về Rừng Hoang nhan đề: "Những câu chuyện có sống qua". Bức tranh vẽ hình một con trăn đang nuốt một con thú dữ. Đây là bản sao của bức vẽ.       Trong sách, người ta nói: "Loài trăn nuốt chửng cả con mồi, không nhai. Sau chúng chẳng nhúc nhích gì...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

      Hồi lên sáu, tôi có nhìn thấy một lần, một bức tranh tuyệt đẹp, trong một cuốn sách về Rừng Hoang nhan đề: "Những câu chuyện có sống qua". Bức tranh vẽ hình một con trăn đang nuốt một con thú dữ. Đây là bản sao của bức vẽ.

Hình minh họa trong Hoàng tử bé


      Trong sách, người ta nói: "Loài trăn nuốt chửng cả con mồi, không nhai. Sau chúng chẳng nhúc nhích gì được nữa và ngủ sáu tháng liền để tiêu hóa con mồi.".

      Từ đó, tôi hay nghĩ đến các chuyện xảy ra trong rừng rậm, và đến lượt tôi, với một cây bút chì màu, tối vẽ được hình vẽ đầu tiên của tôi. Hình vẽ số một của tôi. Nó như thế này:

Hình minh họa trong Hoàng tử bé

      Tôi đưa cho các người lớn xem kiệt tác của tôi và hỏi họ bức vẽ của tôi có làm cho họ sợ không.

      Họ trả lời: "Sao một cái mũ lại làm cho sợ được?".

      Bức tranh của tôi đâu có vẽ một chiếc mũ. Nó vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi. Thế là tôi vẽ lại bên trong bụng trăn, để cho các người lớn có thể hiểu được. Đối với người lớn, bao giờ cũng phải giảng. Bức vẽ số hai của tôi thế này:

Hình ảnh minh họa trong Hoàng tử bé

      Các người lớn khuyên tôi hãy để qua một bên các bức vẽ trăn nhìn bên ngoài hay bổ đôi kia đi, và hãy để tâm vào môn địa, môn sử, môn toán và môn ngữ pháp. Như vậy đó mà vào tuổi lên sáu, tôi đã bỏ một cuộc đời họa sĩ tuyệt diệu.

      Tôi thất vọng vì bức vẽ số một và bức vẽ số hai của tôi không thành công. Các người lớn không bao giờ tự mình hiểu được điều gì, và trẻ con lúc nào, lúc nào cũng phải giảng giải cho các ông, đến nhọc!

      Thế là tôi phải chọn một nghề khác, và tôi học lái máy bay. Trên thế giới, đâu tôi cũng từng có bay một tí. Và môn địa lí, đúng thế, có giúp cho tôi nhiều, chỉ nhìn qua, tôi biết nhận ra đây là Trung Quốc chứ không phải vùng Arizona. Cái đó cần lắm, nếu ban đêm ta bị lạc.

      Như vậy đấy, trong cuộc đời tôi, tôi có hàng đống những cuộc gặp gỡ với khối người quan trọng. Tôi đã sống nhiều ở nhà những người lớn. Tôi đã nhìn thấy họ rất gần. Việc này vẫn chẳng làm tôi đánh giá họ khá hơn bao nhiều.

      Khi gặp một người lớn có vẻ hơi sáng suốt một chút, tôi liền đem bức vẽ số một mà tôi vẫn giữ, để thử ông ta, ông ta trả lời hoài: "Đây là một cái mũ.". Thế là tôi chẳng thèm nói với ông ta về rắn trăn, rừng hoang hay trăng sao gì nữa. Tôi tự hạ ngang tầm ông ta. Tôi nói với ông ta về bài bạc, về đấu bóng, về chính trị và về cà vạt. Thế là người lớn rất lấy làm bằng lòng được gặp một người biết điều như tôi.

(Trích tiểu thuyết Hoàng tử bé, Saint Exupéry)

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.

Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì? 

Câu 3. Theo em, vì sao người lớn lại bảo cậu bé hãy chú trọng học những môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ thật nhiều?

Câu 4. Những người lớn trong văn bản trên được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về những nhân vật ấy? 

Câu 5. Qua văn bản, em rút ra được những bài học gì cho bản thân? 

91
21 tháng 1 2025

Câu 1. Ngôi kể trong văn bản trên: Ngôi thứ nhất. Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là: Bức vẽ số một – hình vẽ một con trăn đang nuốt chửng và tiêu hóa một con voi (bên ngoài trông giống một cái mũ). Câu 3. Người lớn bảo cậu bé hãy chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích vẽ vì: Người lớn thường thực dụng, chỉ coi trọng những kiến thức "hữu ích" trong học tập và công việc. Họ không có khả năng nhìn nhận sáng tạo, tưởng tượng, và không hiểu được ý nghĩa sâu xa trong bức vẽ của cậu bé. Câu 4. Người lớn được miêu tả: Thực tế, thực dụng, thiếu sáng tạo và không hiểu được tâm hồn của trẻ con. Họ thường đánh giá mọi thứ qua vẻ bề ngoài và áp đặt suy nghĩ của mình lên trẻ em. Nhận xét: Những người lớn trong văn bản đại diện cho cách tư duy khô khan, hạn chế trí tưởng tượng và sự sáng tạo, khiến trẻ con dễ cảm thấy thất vọng hoặc bị ép buộc theo những lối mòn. Câu 5. Bài học rút ra: Hãy giữ gìn trí tưởng tượng và sự sáng tạo của bản thân, không để ý kiến của người khác làm mất đi niềm đam mê. Trẻ em cần được khuyến khích và tôn trọng những ý tưởng của mình, thay vì áp đặt hay phủ nhận. Quan trọng hơn, chúng ta cần học cách nhìn sâu vào vấn đề, không chỉ đánh giá mọi thứ qua vẻ bề ngoài.

19 tháng 2


Phần I. Đọc hiểu



(Văn bản trích từ tiểu thuyết Hoàng tử bé của Saint-Exupéry)



Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.



Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.





Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?



Kiệt tác của cậu bé là bức tranh vẽ con trăn đang nuốt (và tiêu hóa) một con voi – hình vẽ số một và hình vẽ số hai (vẽ rõ phần bên trong bụng trăn).





Câu 3. Vì sao người lớn lại bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ nhiều?



Vì:


  • Người lớn nhìn bức tranh chỉ thấy đó là “một cái mũ”, không hiểu được trí tưởng tượng và ý nghĩa thực sự của bức vẽ.
  • Họ đề cao những môn học thực dụng như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp hơn là hội họa và sáng tạo.
  • Điều này cho thấy người lớn thiếu sự đồng cảm với thế giới tâm hồn trẻ thơ và không trân trọng năng khiếu nghệ thuật của cậu bé.






Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả như thế nào? Nhận xét về các nhân vật ấy.



Những người lớn được miêu tả là:


  • Khô khan, thực dụng, thiếu trí tưởng tượng.
  • Không hiểu được suy nghĩ và thế giới nội tâm của trẻ em.
  • Chỉ quan tâm đến những vấn đề “người lớn” như bài bạc, chính trị, cà vạt…



Nhận xét:

Họ đại diện cho một kiểu người trưởng thành đã đánh mất khả năng mơ mộng, sáng tạo và cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống một cách hồn nhiên. Đây là lời phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của tác giả đối với tư duy máy móc của người lớn.





Câu 5. Qua văn bản, em rút ra những bài học gì cho bản thân?



Qua văn bản, em rút ra bài học:


  • Cần biết trân trọng trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của bản thân và của người khác.
  • Không nên nhìn mọi việc chỉ bằng con mắt khô cứng, thực dụng.
  • Phải học cách lắng nghe, thấu hiểu suy nghĩ của trẻ em cũng như của những người xung quanh.
  • Giữ gìn tâm hồn trong sáng, hồn nhiên dù đã trưởng thành.



I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 điểm) Đọc văn bản sau:           Bến đò ngày mưa Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa. Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt, Mặc con thuyền cắm lại đậu trơ vơ.  Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo Vài quán hàng không khách đứng xo ro. Một bác lái ghé buồm vào hút điếu, Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho. Ngoài đường lội...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Đọc văn bản sau:

          Bến đò ngày mưa

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt,
Mặc con thuyền cắm lại đậu trơ vơ. 

Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo
Vài quán hàng không khách đứng xo ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu,
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.

Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở,
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.

               (Trích Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân, NXB Văn học, 2000, tr.192 - 193)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Đề tài của bài thơ này là gì?

Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em thấy ấn tượng trong bài thơ.

Câu 4. Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận gì?

Câu 5. Qua bức tranh bến đò ngày mưa, bài thơ đã gợi lên tâm trạng, cảm xúc như thế nào?

29
16 tháng 3 2025

Thể thơ 8 chữ

16 tháng 3 2025

Đề tài quê hương

2 tháng 3

Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Lê Phụng Hiểu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. Nhân vật Lê Phụng Hiểu trong đoạn trích được khắc họa là một vị tướng tài ba, trung nghĩa, có sức mạnh phi thường và lòng trung thành tuyệt đối với vua, với đất nước. Ông vốn là người Na Sơn, huyện Thanh Hóa, cao lớn (7 thước), râu rậm, sức mạnh hơn người, từ nhỏ đã nổi tiếng với sức khỏe phi thường (nhổ cây, bẻ gãy rễ để dọa kẻ thù). Khi triều đình rối loạn, Lê Phụng Hiểu được vua Lý Thái Tông tin dùng, giao chặn giữ cửa thành Long Thành. Với lòng trung nghĩa, ông một mình chống giữ, dùng sức mạnh phi thường (rút kiếm chém cửa thành, hét lớn khiến giặc khiếp sợ) để bảo vệ vua và triều đình. Hành động “vâng mệnh mở cửa thành, rút kiếm đến chỗ cửa Quảng Phúc và hét lớn” thể hiện sự dũng cảm, quyết đoán và tinh thần trách nhiệm cao. Sau khi dẹp yên nội loạn, ông tiếp tục theo vua đánh Chiêm Thành, lập nhiều công trạng lớn, được phong thưởng và sau khi mất vẫn được dân chúng tôn thờ. Qua nhân vật Lê Phụng Hiểu, tác giả ca ngợi phẩm chất anh hùng, trung nghĩa, sức mạnh phi thường của người lính, tướng lĩnh thời Lý – những người góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước. (Khoảng 220 chữ) Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về hiện tượng nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội mà bỏ quên các hoạt động thực tế như học tập, rèn luyện sức khỏe hay giao tiếp trực tiếp với gia đình và bạn bè. Hiện nay, hiện tượng nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội (TikTok, Facebook, Instagram, YouTube…) mà bỏ bê học tập, rèn luyện sức khỏe và giao tiếp thực tế đang trở thành vấn đề đáng báo động trong xã hội. Trước hết, việc lạm dụng mạng xã hội gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Về học tập, nhiều bạn “dán mắt” vào điện thoại hàng giờ, dẫn đến sao nhãng bài vở, giảm khả năng tập trung, kết quả học tập sa sút. Về sức khỏe, ngồi lâu, thiếu vận động gây mỏi mắt, đau lưng, béo phì, rối loạn giấc ngủ. Về giao tiếp, các bạn ít nói chuyện trực tiếp với gia đình, bạn bè, dẫn đến khoảng cách thế hệ, thiếu kỹ năng giao tiếp thực tế, dễ rơi vào cô đơn, trầm cảm dù “có hàng nghìn bạn bè ảo”. Nhiều vụ việc đau lòng như học sinh tự tử vì áp lực từ bình luận trên mạng hay nghiện game online bỏ học đã minh chứng rõ nét. Nguyên nhân chủ yếu là do mạng xã hội hấp dẫn với nội dung giải trí nhanh, dễ gây nghiện (thuật toán gợi ý liên tục), áp lực “sống ảo”, khoe mẽ, FOMO (sợ bị bỏ lỡ). Bản thân các bạn trẻ đôi khi thiếu ý thức tự giác, chưa biết cân bằng giữa thế giới ảo và thực. Để khắc phục, bản thân mỗi bạn trẻ cần ý thức và hành động: đặt giới hạn thời gian sử dụng mạng xã hội (ví dụ: không quá 2 giờ/ngày), ưu tiên học tập và rèn luyện thể thao, dành thời gian trò chuyện trực tiếp với gia đình, bạn bè. Gia đình và nhà trường cần giám sát, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, thể thao, câu lạc bộ để thu hút học sinh tham gia thực tế. Xã hội cần tuyên truyền về tác hại của nghiện mạng xã hội, khuyến khích lối sống lành mạnh. Tóm lại, mạng xã hội là công cụ hữu ích nếu sử dụng đúng mức, nhưng nếu lạm dụng sẽ trở thành “kẻ thù” cướp đi thời gian, sức khỏe và mối quan hệ thực sự. Thế hệ trẻ cần tỉnh táo, cân bằng giữa thế giới ảo và thực tế để phát triển toàn diện, sống có ý nghĩa và trách nhiệm hơn. (Khoảng 420 chữ)

4 tháng 3

Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Lê Phụng Hiểu hiện lên trong đoạn trích là một vị tướng tài năng, dũng mãnh và trung nghĩa. Ông vốn có sức khỏe phi thường, “cao bảy thước, râu ria rậm rạp”, từ nhỏ đã nổi tiếng khỏe mạnh khác thường, thể hiện qua chi tiết nhổ cả cây bật rễ khiến người khác khiếp sợ. Khi ba vương làm loạn, Lê Phụng Hiểu vâng mệnh vua, dũng cảm xông thẳng vào nơi nguy hiểm, lớn tiếng quát mắng kẻ phản nghịch và chém chết Vũ Đức Vương. Hành động quyết liệt ấy cho thấy khí phách hiên ngang, lòng trung thành tuyệt đối với vua và tinh thần bảo vệ chính nghĩa. Ông không ngại hiểm nguy, sẵn sàng lấy thân mình dẹp loạn, lập lại trật tự cho triều đình. Nhờ công lao to lớn đó, ông được vua ban thưởng, phong tặng và đời sau thờ phụng. Nhân vật Lê Phụng Hiểu tiêu biểu cho hình tượng người anh hùng trung quân ái quốc trong truyền thuyết dân gian.

Câu 2 (khoảng 400 chữ):

Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của giới trẻ. Tuy nhiên, hiện tượng nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội mà bỏ quên việc học tập, rèn luyện sức khỏe và giao tiếp trực tiếp đang là vấn đề đáng lo ngại.

Trước hết, không thể phủ nhận mạng xã hội mang lại nhiều lợi ích như cập nhật thông tin nhanh chóng, kết nối bạn bè, giải trí sau giờ học căng thẳng. Thế nhưng, khi sử dụng thiếu kiểm soát, nó dễ khiến người trẻ sa đà vào những nội dung vô bổ, những cuộc trò chuyện kéo dài hay việc “lướt” điện thoại hàng giờ liền. Hậu quả là thời gian dành cho học tập bị rút ngắn, kết quả sa sút, tinh thần thiếu tập trung. Bên cạnh đó, việc ngồi lâu trước màn hình còn ảnh hưởng xấu đến thị lực và sức khỏe thể chất. Đáng buồn hơn, nhiều bạn dần ngại giao tiếp trực tiếp, ít trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, dẫn đến khoảng cách trong các mối quan hệ.

Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ tâm lý muốn khẳng định bản thân, sợ bị “tụt hậu” khỏi xu hướng, cùng với sự thiếu ý thức quản lí thời gian. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần học cách sử dụng mạng xã hội một cách thông minh: đặt giới hạn thời gian sử dụng, ưu tiên nhiệm vụ học tập, tích cực tham gia hoạt động thể thao và trò chuyện với gia đình. Nhà trường và phụ huynh cũng nên định hướng, nhắc nhở và đồng hành cùng con em mình.


Mạng xã hội không xấu nếu ta biết làm chủ nó. Điều quan trọng là người trẻ phải cân bằng giữa thế giới ảo và đời sống thực để phát triển toàn diện cả tri thức lẫn nhân cách.