Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về đoạn thơ sau,trong đó có sử dụng từ mượn và chủ ngữ được mở rộng bằng cụm từ ''Mẹ là tia nắng ban mai sưởi con ấm lại đêm dài giá băng Lòng con vui sướng nào bằng
Mẹ luôn bên cạnh nhọc nhằn trôi đi''
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bác nông dân: Chủ ngữ
đang....siêng năng: vị ngữ
Mọi người, ai chủ ngữ
cũng...vui vẻ: vị ngữ
Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!
Câu 1: Thể thơ : tự do
C2: Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh là :
+ Tiếng bánh xe, tiếng lúa khô, tiếng huầy ơ, tiếng người,...
C3:
- Biện pháp tu từ: So sánh " như búp non"
Tác dụng:
+ Nghệ thuật: Tăng sức gợi hình gợi cảm, làm tăng tính nhạc điều làm giàu giá trị diễn đạt.
+ Nội dung: Nhấn mạnh: Buổi ban mai khi sớm thức dậy, một ngày mới bắt đầu những công việc thuận lợi mới... Qua đó tác giả thể hiện sâu sắc về một ngày mới tràn đầy sức sống.
C4: Tâm trạng của nhân vật khi nghe âm thanh là: cười khúc khích vui vẻ trước ngày mới cùng tiếng đồng quê dân dã trước buổi ban mai ....
Câu 1. Thể thơ
Bài thơ viết theo thể thơ tự do, không bị ràng buộc số chữ, số dòng, cách gieo vần.
Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh
→ Các âm thanh quen thuộc của làng quê lúc ban mai.
Câu 3. Biện pháp tu từ
Câu 4. Nhận xét tâm trạng
Khi nghe “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ” và “tiếng gọi, tiếng cười khúc khích”, nhân vật trữ tình mang tâm trạng bình yên, xúc động và hân hoan. Những âm thanh đời thường đánh thức kỉ niệm quê nhà, gợi cảm giác ấm áp, gần gũi và tình yêu tha thiết với cuộc sống.
Câu 5. Thông điệp
Văn bản gửi gắm thông điệp về vẻ đẹp của đời sống quê hương. Những âm thanh, hình ảnh rất đỗi bình dị vẫn có khả năng nuôi dưỡng tâm hồn con người. Biết lắng nghe nhịp sống quanh mình, ta sẽ cảm nhận được niềm vui và ý nghĩa tồn tại. Mỗi người cần trân trọng những điều nhỏ bé, gìn giữ tình yêu với quê hương, với lao động và thiên nhiên. Đó chính là cội nguồn làm nên sự bình yên của cuộc đời.
Câu 1. (2,0 điểm)
Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm của Nguyễn Ái Quốc thể hiện quan điểm tiến bộ về chức năng của thơ ca trong thời đại mới. Hai câu thơ đầu cho thấy đặc điểm của thơ ca cổ xưa, chủ yếu ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên như núi, sông, hoa, tuyết, trăng, gió. Đó là những hình ảnh đẹp nhưng mang tính thưởng ngoạn, ít gắn với đời sống đấu tranh của con người. Sang hai câu thơ sau, tác giả nêu lên yêu cầu đối với thơ ca hiện đại: thơ phải có “thép” và người làm thơ phải biết “xung phong”. Hình ảnh “thép” là một ẩn dụ giàu ý nghĩa, tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và sức mạnh đấu tranh của thời đại. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định thơ ca không chỉ là nghệ thuật thuần túy mà còn là vũ khí tinh thần phục vụ sự nghiệp cách mạng. Bài thơ ngắn gọn nhưng có cấu tứ chặt chẽ, tư tưởng rõ ràng, thể hiện quan niệm nghệ thuật mang đậm tinh thần yêu nước và trách nhiệm xã hội của người cầm bút.
Câu 2. (4,0 điểm)
Trong dòng chảy phát triển không ngừng của xã hội hiện đại, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với giới trẻ hiện nay. Văn hóa truyền thống không chỉ là cội nguồn hình thành bản sắc dân tộc mà còn là nền tảng tinh thần giúp mỗi con người hiểu rõ mình là ai và đến từ đâu.
Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam được thể hiện qua nhiều phương diện như ngôn ngữ, phong tục tập quán, lễ hội, trang phục, âm nhạc dân gian, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”. Những giá trị ấy đã được ông cha ta gìn giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa truyền thống càng cần được bảo tồn để dân tộc không bị hòa tan giữa muôn vàn nền văn hóa khác.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy một bộ phận giới trẻ chưa thực sự quan tâm đến việc giữ gìn văn hóa truyền thống. Nhiều bạn trẻ chạy theo trào lưu hiện đại, sính ngoại, thờ ơ với các giá trị văn hóa dân tộc. Không ít người xem nhẹ tiếng Việt, thiếu hiểu biết về lịch sử, phong tục, lễ hội truyền thống. Điều này nếu kéo dài sẽ dẫn đến nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc.
Bên cạnh đó, vẫn có rất nhiều bạn trẻ có ý thức tốt trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Họ tích cực tìm hiểu lịch sử, tham gia các hoạt động văn hóa dân gian, quảng bá hình ảnh Việt Nam qua mạng xã hội, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Đây là những biểu hiện đáng trân trọng, cho thấy giới trẻ hoàn toàn có thể trở thành lực lượng nòng cốt trong việc gìn giữ văn hóa dân tộc.
Để làm được điều đó, mỗi bạn trẻ cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn, tôn trọng phong tục tập quán, trân trọng các giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần phối hợp trong việc giáo dục, định hướng để giới trẻ hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của mình đối với văn hóa truyền thống.
Giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng. Với vai trò là thế hệ kế thừa, giới trẻ hôm nay cần ý thức rõ điều đó để góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời đại hội nhập và phát triển.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Bài thơ gồm 4 câu, mỗi câu có 7 chữ, được viết bằng chữ Hán và có kết cấu ngắn gọn, chặt chẽ theo kiểu thơ cổ. Đây là những dấu hiệu tiêu biểu của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Vì vậy, có thể khẳng định văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
Bài thơ tuân thủ các quy tắc cơ bản của thơ Đường như niêm, luật và vần. Các câu thơ có sự cân đối về hình thức và ý nghĩa, đặc biệt là sự đối lập giữa thơ xưa và thơ nay. Nhịp điệu thơ đều, giọng điệu trang trọng. Do đó, bài thơ được sáng tác theo luật Đường.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong bài thơ
Một biện pháp tu từ gây ấn tượng trong bài thơ là biện pháp ẩn dụ qua hình ảnh “thép” trong câu “Hiện đại thi trung ương hữu thiết”. Hình ảnh “thép” không chỉ mang nghĩa tả thực mà còn tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và sức mạnh đấu tranh của con người thời đại mới. Biện pháp này giúp bài thơ trở nên mạnh mẽ, thể hiện rõ quan niệm của tác giả rằng thơ ca hiện đại không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phục vụ cách mạng, cổ vũ hành động và tinh thần đấu tranh.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng “Hiện đại thi trung ương hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong”?
Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại phải có “thép”, nghĩa là phải mang tinh thần chiến đấu, phản ánh hiện thực khốc liệt của xã hội và khơi dậy ý chí đấu tranh. Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải trực tiếp dấn thân, sẵn sàng xung phong cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước bị áp bức, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, vì vậy thơ ca cần trở thành một vũ khí tinh thần phục vụ cho mục tiêu cứu nước. Đây chính là lý do tác giả khẳng định vai trò chiến đấu của thơ ca và người làm thơ.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
Bài thơ có cấu tứ rõ ràng, mạch lạc. Hai câu đầu nói về đặc điểm của thơ ca xưa, chủ yếu thiên về việc miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Hai câu sau chuyển sang bàn luận về thơ ca hiện đại, nhấn mạnh yêu cầu thơ phải có tinh thần chiến đấu và nhà thơ phải biết dấn thân. Sự chuyển ý từ xưa sang nay tạo nên kết cấu chặt chẽ, thể hiện rõ tư tưởng tiến bộ của tác giả. Về nghệ thuật, bài thơ có lời thơ cô đọng, hình ảnh giàu ý nghĩa và mang tính chính luận cao, góp phần làm nổi bật nội dung tư tưởng cách mạng.
BẠN TK
Lá đỏ được nhà thơ Nguyễn Đình Thi chắp bút sau khi đến với mảnh đất Tây Nguyên, trong buổi nơi đây đang trải qua những ngày tháng khốc liệt nhất của trận chiến chống Pháp. Với thể thơ tự do và cách ngắp nhịp, gieo vần phóng khoáng, linh hoạt, bài thơ đã khắc họa được bối cảnh Trường Sơn hùng vĩ cùng khí thế hào hùng, tâm thái lạc quan của quân ta. Người lính trong bài thơ chợt gặp một “em gái tiền phương” giữa chốn rừng núi. Lá rừng đỏ rơi ào ào như cơn mưa, tạo khung cảnh đậm chất trữ tình cho cuộc gặp gỡ ấy. Người lính trẻ ví “em gái tiền phương” với quê hương, đã giúp người đọc tưởng tượng ra vẻ đẹp mộc mạc, bình dị và gần gũi của cô gái ấy. Với người lính, những cô gái đó là hiện thân của hậu phương, của quê hương - điểm tựa tinh thần cho các anh vững tay súng, chắc bước chân. Cuộc gặp gỡ ấy diễn ra chóng vánh, bời ai cũng vội vã với nhiệm vụ của mình. Đoàn quân rời đi hướng Trường Sơn nhòa khói lửa. Hình ảnh vừa hùng vĩ vừa lãng mạn, lại hào hùng. Các anh rời đi, mang theo khát vọng độc lập của hậu phương, thẳng tiến vào Sài Gòn. Với quyết tâm và hi vọng ngút ngàn, người lính để lại lời hẹn gặp mặt tại Sài Gòn. Khi đó, đất nước đã độc lập, hậu phương và tiền tuyến sẽ đoàn tụ với nhau. Đó không chỉ là một lời hứa mà còn là một thời thề mang nặng quyết tâm của người lính. Những con người quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Kết thúc bài thơ, là nụ cười và đôi mắt trong veo của em gái tiền phương. Đó là ánh nhìn của sự tin tưởng và hi vọng của hậu phương dành cho những người lính. Tác phẩm thơ Lá đỏ đã kể lại cuộc gặp gỡ chóng vánh đầy thi vị giữa chốn Trường Sơn bom đạn, giúp em cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh. Và thấu hiểu được những hi sinh cùng khát vọng của những người lính và cả hậu phương trong chiến tranh.
“Chuyện cổ tích về loài người” của Xuân Quỳnh là một bài thơ giàu ý nghĩa, đặc biệt là khổ thơ nói về sự thay đổi của trái đất khi trẻ con được sinh ra. Trước đó, trái đất thật là trần trụi: không một dáng cây ngọn cỏ, cũng như không có ánh sáng hay màu sắc. Thì sau khi trẻ con ra đời, trái đất đã hoàn toàn thay đổi. Đầu tiên là sự xuất hiện của mặt trời xuất hiện giúp trẻ con nhìn rõ. Màu xanh của cây cỏ, màu đỏ bông hoa giúp trẻ con nhận biết màu sắc. Và tiếng chim hót, tiếng gió thổi cho trẻ con cảm nhận âm thanh. Sông xuất hiện giúp trẻ con tắm rửa sạch sẽ. Biển lại giúp trẻ con suy nghĩ, cung cấp cá tôm và phương tiện là tàu thuyền để khám phá khắp nơi. Khi trời nắng, những đám mây đem bóng mát cho trẻ em. Và khi trẻ em bắt đầu tập đi thì con đường xuất hiện. Mọi sự việc xuất hiện đều xoay quanh trẻ em. Điều đó đã giúp người đọc hiểu hơn về tầm quan trọng của trẻ em trong cuộc sống.
Hôm ấy, trên đường đi học về, tôi thấy một cụ già đang loay hoay với chiếc xe đạp cũ kỹ của mình. Xe bị xích khóa, bánh xe lại bị kẹt, cụ cố mãi mà không được. Mồ hôi nhễ nhại trên trán cụ, khuôn mặt nhăn nhó vì khó chịu. Thấy vậy, tôi liền chạy lại gần và hỏi cụ có cần giúp đỡ gì không. Cụ ngước nhìn tôi, đôi mắt hiền từ ánh lên niềm vui. Tôi nhẹ nhàng giúp cụ mở khóa xích, sau đó dùng chút sức lực của mình để xoay bánh xe cho nó hoạt động trở lại. Cụ mừng rỡ cảm ơn tôi rối rít. Nhìn nụ cười tươi tắn của cụ, lòng tôi dâng lên một niềm hạnh phúc khó tả. Đó là một việc nhỏ nhưng nó khiến tôi cảm thấy mình đã làm được điều có ích, và tôi sẽ luôn nhớ về khoảnh khắc tốt đẹp ấy.
Đoạn thơ “Mẹ là tia nắng ban mai sưởi con ấm lại đêm dài giá băng / Lòng con vui sướng nào bằng / Mẹ luôn bên cạnh nhọc nhằn trôi đi” đã khắc họa hình ảnh người mẹ bằng những ngôn từ giản dị mà giàu cảm xúc. Hình ảnh “tia nắng ban mai” là một ẩn dụ đẹp, gợi lên ánh sáng, hơi ấm và niềm hi vọng mà mẹ mang đến cho con. Trong những “đêm dài giá băng” của cuộc đời, mẹ chính là nguồn động lực tinh thần giúp con vượt qua khó khăn. Đối với em, hình ảnh người mẹ tảo tần, hi sinh thầm lặng vì con cái luôn là biểu tượng thiêng liêng nhất của tình yêu thương. Tình mẫu tử ấy không chỉ là tình cảm gia đình đơn thuần mà còn là nền tảng nuôi dưỡng nhân cách và lí tưởng sống của mỗi con người. Người mẹ giàu đức hi sinh và bao dung ấy chính là điểm tựa vững chắc giúp con trưởng thành, tự tin bước vào tương lai. Vì thế, mỗi chúng ta cần biết trân trọng, yêu thương và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với mẹ, để tình cảm gia đình mãi là nguồn năng lượng tích cực nâng đỡ tâm hồn mình.