K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

17 tháng 5

Câu 1

Nhân vật Dung trong phần Đọc hiểu hiện lên như một số phận người phụ nữ đầy bi kịch và đáng thương trong xã hội cũ. Xuất thân là con cháu nhà quan nhưng khi cha mất, gia cảnh sa sút, Dung rơi xuống tầng lớp “hạ lưu”, mất đi cả chỗ dựa vật chất lẫn tinh thần. Cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu mà từ sự sắp đặt đã đẩy Dung vào cảnh sống bế tắc, cô độc. Hình ảnh Dung ngồi trông dòng sông chảy xa và nghĩ đến cái chết cho thấy nỗi tuyệt vọng đã lên đến tột cùng. Dòng sông không chỉ là cảnh vật mà còn là biểu tượng cho cuộc đời trôi đi vô định, không lối thoát của nhân vật. Dung ý thức rõ sự cô đơn của mình khi “không còn mong có ai cứu vớt”, điều đó thể hiện bi kịch tinh thần sâu sắc của người phụ nữ bị tước đoạt quyền sống, quyền hạnh phúc. Qua nhân vật Dung, tác giả bày tỏ niềm xót thương chân thành, đồng thời tố cáo xã hội phong kiến bất công đã chà đạp lên số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ.


Câu 2 

Hôn nhân là một trong những quyết định quan trọng nhất của đời người, bởi nó gắn liền với hạnh phúc, tương lai và cả số phận của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít bậc cha mẹ vẫn áp đặt con cái trong hôn nhân, coi việc cưới xin là sự sắp đặt mang tính trách nhiệm hơn là lựa chọn xuất phát từ tình yêu. Đây là một vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc.


Trước hết, cần thừa nhận rằng sự áp đặt của cha mẹ đôi khi bắt nguồn từ tình thương và mong muốn điều tốt đẹp cho con. Cha mẹ thường dựa vào kinh nghiệm sống, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế hay địa vị xã hội để lựa chọn người bạn đời “phù hợp” cho con cái. Trong suy nghĩ của họ, một cuộc hôn nhân ổn định về vật chất sẽ giúp con bớt vất vả. Tuy nhiên, khi tình thương ấy vượt quá giới hạn và biến thành sự áp đặt, nó lại gây ra những hậu quả nghiêm trọng.


Hôn nhân không có tình yêu dễ dẫn đến cuộc sống gia đình lạnh nhạt, mâu thuẫn, thậm chí là bi kịch. Khi con cái buộc phải kết hôn với người mình không yêu, họ sẽ sống trong tâm trạng gò bó, ức chế và mất dần niềm tin vào hạnh phúc. Nhiều người chấp nhận cuộc hôn nhân sắp đặt chỉ vì chữ hiếu, nhưng sau đó lại phải trả giá bằng cả tuổi trẻ, ước mơ và tinh thần của mình. Không ít gia đình tan vỡ cũng bắt nguồn từ việc con cái không được quyền lựa chọn hạnh phúc riêng.


Mặt khác, việc cha mẹ áp đặt hôn nhân còn thể hiện sự thiếu tôn trọng quyền tự do cá nhân. Con cái, dù ở độ tuổi nào, cũng là những con người độc lập, có cảm xúc, suy nghĩ và quyền quyết định cuộc đời mình. Khi cha mẹ thay con lựa chọn người sẽ đi cùng con suốt cả cuộc đời, điều đó vô tình tước đi quyền được hạnh phúc của con. Hạnh phúc không thể vay mượn hay sắp đặt, mà phải xuất phát từ sự tự nguyện và đồng cảm giữa hai con người.


Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận vai trò định hướng của cha mẹ trong hôn nhân. Cha mẹ nên là người lắng nghe, chia sẻ, góp ý và giúp con cái nhìn nhận đúng đắn về tình yêu, trách nhiệm gia đình, thay vì áp đặt hay quyết định thay. Sự đồng hành, thấu hiểu sẽ giúp con cái có lựa chọn chín chắn hơn, đồng thời vẫn giữ được sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thế hệ.


Tóm lại, cha mẹ áp đặt con cái trong hôn nhân là một vấn đề cần được thay đổi trong xã hội hiện đại. Hôn nhân chỉ thực sự bền vững khi được xây dựng trên cơ sở tình yêu, sự tự nguyện và trách nhiệm. Cha mẹ hãy yêu thương con bằng sự thấu hiểu, còn con cái hãy biết trân trọng, lắng nghe để cùng nhau xây dựng hạnh phúc bền lâu.

17 tháng 5

Câu 1

Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Ngay từ nhỏ, Dung đã thiếu thốn tình yêu thương của cha mẹ vì gia đình nghèo khó và đông con. Nàng sống cam chịu, nhẫn nhịn, quen với sự thờ ơ và bất công trong chính gia đình mình. Khi bị ép gả chồng, Dung ngây thơ xem đó như một chuyến đi xa mà không biết cuộc đời bất hạnh đang chờ phía trước. Về nhà chồng, nàng phải chịu cảnh lao động cực nhọc, bị mẹ chồng cay nghiệt, chồng ngu đần và không ai che chở. Quá đau khổ, Dung tìm đến cái chết như một sự giải thoát nhưng vẫn không thoát khỏi số phận nghiệt ngã. Hình ảnh “lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối” cho thấy sự tuyệt vọng tột cùng của nhân vật. Qua Dung, Thạch Lam bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với người phụ nữ bị áp bức, đồng thời lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã cướp đi quyền sống và hạnh phúc của họ.


Câu 2

Hôn nhân là chuyện quan trọng của đời người, bởi đó không chỉ là sự gắn kết giữa hai cá nhân mà còn ảnh hưởng đến hạnh phúc lâu dài của cả một gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn tồn tại tình trạng cha mẹ áp đặt con cái trong hôn nhân. Đây là vấn đề đáng suy nghĩ vì nó có thể gây ra nhiều hậu quả đau lòng.

Áp đặt con cái trong hôn nhân là việc cha mẹ tự quyết định chuyện cưới xin, ép buộc con kết hôn với người mà mình lựa chọn mà không tôn trọng cảm xúc và nguyện vọng của con. Trong xã hội phong kiến xưa, điều này diễn ra rất phổ biến. Nhiều người trẻ phải kết hôn theo sự sắp đặt của gia đình, dẫn đến những cuộc hôn nhân không tình yêu và đầy đau khổ. Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết là một minh chứng tiêu biểu. Dung bị gả cho một người chồng ngu đần, phải sống trong cảnh bị hành hạ, tuyệt vọng đến mức tìm đến cái chết.

Ngày nay, tuy xã hội đã tiến bộ hơn nhưng vẫn có nhiều cha mẹ can thiệp quá sâu vào chuyện tình cảm của con cái. Một số người ép con kết hôn vì điều kiện kinh tế, địa vị hay mong muốn cá nhân mà quên mất rằng hạnh phúc phải xuất phát từ tình yêu và sự tự nguyện. Việc áp đặt ấy khiến con cái mất tự do, sống gò bó, dễ dẫn đến mâu thuẫn gia đình, đau khổ tinh thần, thậm chí tan vỡ hôn nhân. Không ít người phải sống trong cuộc hôn nhân không hạnh phúc chỉ vì muốn làm vừa lòng cha mẹ.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng phần lớn cha mẹ áp đặt con cái vì lo lắng và mong muốn điều tốt đẹp cho con. Do có nhiều kinh nghiệm sống, cha mẹ thường muốn con tránh sai lầm trong tình yêu và hôn nhân. Nhưng tình yêu là chuyện xuất phát từ trái tim, không thể ép buộc. Nếu cha mẹ chỉ dùng quyền uy để quyết định thay con thì vô tình sẽ biến tình thương thành áp lực.

Vì vậy, trong gia đình cần có sự thấu hiểu và tôn trọng lẫn nhau. Cha mẹ nên lắng nghe, định hướng và đưa ra lời khuyên thay vì ép buộc. Con cái cũng cần biết chia sẻ, suy nghĩ chín chắn và có trách nhiệm với lựa chọn của mình. Một cuộc hôn nhân chỉ thật sự bền vững khi được xây dựng trên cơ sở tình yêu, sự tự nguyện và đồng cảm.

Tóm lại, áp đặt con cái trong hôn nhân là quan niệm không còn phù hợp với xã hội hiện đại. Hạnh phúc không thể có nếu thiếu sự tự do lựa chọn. Vì thế, mỗi gia đình cần xây dựng mối quan hệ yêu thương, tôn trọng để con cái được sống đúng với mong muốn và có cơ hội tìm thấy hạnh phúc thật sự của đời mình.


(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:  Hai lần chết      Dung là con thứ bốn. Vì vậy khi nàng ra đời, không được cha mẹ hoan nghênh lắm. Thực ra, không phải cha mẹ nàng hất hủi con, vẫn coi người con như một cái phúc trời ban cho, nhưng lúc bấy giờ cha mẹ nàng đã nghèo rồi. Với ba người con trước, hai trai, một gái, cha mẹ Dung đã thấy khó nhọc, vất vả làm lụng mới lo đàn con...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

Hai lần chết

     Dung là con thứ bốn. Vì vậy khi nàng ra đời, không được cha mẹ hoan nghênh lắm. Thực ra, không phải cha mẹ nàng hất hủi con, vẫn coi người con như một cái phúc trời ban cho, nhưng lúc bấy giờ cha mẹ nàng đã nghèo rồi. Với ba người con trước, hai trai, một gái, cha mẹ Dung đã thấy khó nhọc, vất vả làm lụng mới lo đàn con đủ ăn, và hai con trai được đi học. Sau Dung lại còn con bé út nữa, nên cảnh nhà càng thêm túng bấn.

     […] Cha mẹ Dung cũng không nghĩ đến sự bắt nàng đi học như anh chị nàng, có lẽ vì nghĩ rằng lo cho hai người cũng đã đủ.

     Dung càng lớn càng gầy gò đi. Suốt ngày nàng chỉ chạy đánh khăng đánh đáo với lũ trẻ con nhà "hạ lưu"(1) cha nàng gọi thế những người nghèo khổ trú ngụ ở chung quanh xóm chợ. Nhiều khi đi đâu về trông thấy, cha nàng gọi về, đánh cho mấy roi mây và cấm từ đấy không được chơi với lũ trẻ ấy. Những trận đòn xong, Dung lại mon men chơi với lũ trẻ, và thấy hình như cha nàng cũng chỉ cấm lấy lệ chứ không thiết gì đến, nàng lại vững tâm nhập vào bọn hạ lưu đó, suốt ngày dông dài ở ngoài chợ.

     Một đôi khi, mẹ nàng kịp về đến nhà trông thấy nàng quần áo lôi thôi lếch thếch và chân tay lấm, bùn, chỉ chép miệng thở dài nói:

     - Con này rồi sau đến hỏng mất thôi.

     Rồi bà lại quay đi buôn bán như thường, sau khi đã để lại cho chồng một món tiền tiêu pha trong nhà, và sau khi anh chị Dung mỗi người đã nũng nịu đòi được một hào để ăn quà.

     Dung thấy thế cũng chẳng ganh tị, vì nàng xưa nay đối với các anh chị cũng không thân thiết lắm. Những khi nàng đang chơi thấy đói, nàng lại chạy về xin u già bát cơm nguội hay thức ăn gì khác thế nào u già cũng đã để phần rồi chạy nhảy như một con vật non không biết lo nghĩ gì.

     Những sự ấy đã làm cho Dung có một cái tính an phận và nhẫn nại lạ lùng. Ngày trong nhà có tết nhất, các anh chị và em nàng được mặc quần áo mới vui chơi, còn nàng vẫn cứ phải áo cũ làm lụng dưới bếp, Dung cũng không ca thán hay kêu ca gì. Mà nàng biết kêu ca cũng không được. Nhiều lần nàng đã nghe thấy u già nói mẹ nàng may cho cái áo, thì mẹ nàng trả lời:

     - May cho con nặc nô ấy làm gì. Để nó làm rách nát ra à?

     Còn nói với cha thì Dung biết là vô công hiệu, vì cha nàng không dám tự ý làm cái gì bao giờ cả.

     […] Thế là Dung đi lấy chồng.

     Nàng đi lấy chồng cũng bỡ ngỡ và lạ lùng như người nhà quê lên tỉnh. Dung coi đi lấy chồng như một dịp đi chơi xa, một dịp rời bỏ được cái gia đình lạnh lẽo và cái xóm chợ quen mắt quá của nàng. Đi lấy chồng đối với nàng là hưởng một sự mới.

     Vì thế, khi bước chân lên ô tô về nhà chồng, Dung không buồn bã khóc lóc gì cả. Nàng còn chú ý đến những sự lạ mắt lạ tai của nhà giai, không nghe thấy những lời chúc hơi mát mẻ và ganh tị của hai chị và em bé nàng nữa.

     Về đến nhà chồng, Dung mới biết chồng là một anh học trò lớp nhì, vừa lẫn thẩn vừa ngu đần. Nàng đã bé mà chồng nàng lại còn bé choắt hơn. Nhưng bà mẹ chồng với các em chồng nàng thì to lớn ác nghiệt lắm.

     Qua ngày nhị hỉ, Dung đã tháo bỏ đôi vòng trả mẹ chồng, ăn mặc nâu sồng như khi còn ở nhà, rồi theo các em chồng ra đồng làm ruộng. Nhà chồng nàng giàu, nhưng bà mẹ chồng rất keo kiệt, không chịu nuôi người làm mà bắt con dâu làm.

     Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

     Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

     - Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

     Rồi bà kể thêm:

     - Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

     Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

     Một hôm tình cờ cả nhà đi vắng, Dung vội ăn cắp mấy đồng bạc trinh lẻn ra ga lấy vé tàu về quê. Đến nơi, mẹ nàng ngạc nhiên hỏi:

     - Kìa, con về bao giờ thế? Đi có một mình thôi à?

     Dung sợ hãi không dám nói rằng trốn về, phải tìm cớ nói dối. Nhưng đến chiều tối, nàng lo sợ quá, biết rằng thế nào ngày mai mẹ chồng nàng cũng xuống tìm. Nàng đánh bạo kể hết tình đầu cho cha mẹ nghe, những nỗi hành hạ nàng phải chịu, và xin cho phép nàng ở lại nhà.

     Cha nàng hút một điếu thuốc trong cái ống điếu khảm bạc, rồi trầm ngâm như nghĩ ngợi. Còn mẹ nàng thì đùng đùng nổi giận mắng lấy mắng để:

     - Lấy chồng mà còn đòi ở nhà. Sao cô ngu thế. Cô phải biết cô làm ăn thế đã thấm vào đâu mà phải kể. Ngày trước tôi về nhà này còn khó nhọc bằng mười chứ chả được như cô bây giờ đâu, cô ạ.

     Sớm mai, bà mẹ chồng Dung xuống. Vừa thấy thông gia, bà đã nói mát:

     - Nhà tôi không có phúc nuôi nổi dâu ấy. Thôi thì con bà lại xin trả bà chứ không dám giữ.

     Mẹ Dung cãi lại:

     - Ô hay, sao bà ăn nói lạ. Bây giờ nó đã là dâu con bà, tôi không biết đến. Mặc bà muốn xử thế nào thì xử. Chỉ biết nó không phải là con tôi nữa mà thôi.

     Bà nọ nhường bà kia, rút cục Dung được lệnh của mẹ phải sửa soạn để đi với mẹ chồng.

     Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hy vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

     Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. Trí nàng sắc lại khi ước lạnh đập vào mặt, nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

     Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

     - Tỉnh rồi, tỉnh rồi, không lo sợ gì nữa. Bây giờ chỉ đắp chăn cho ấm rồi sắc nước gừng đặc cho uống là khỏi.

     Dung dần dần nhớ lại. Khi nàng mở mắt nhìn, thấy mình nằm trong buồng, người u già cầm cây đèn con đứng đầu giường nhìn nàng mỉm cười một cách buồn rầu:

     - Cô đã tỉnh hẳn chưa?

     Dung gật:

     - Tỉnh rồi.

     Một lát, nàng lại hỏi:

     - Tôi làm sao thế nhỉ... Bà cả đâu u? Bà ấy về chưa?

     U già để tay lên trán Dung, không trả lời câu hỏi:

     - Cô hãy còn mệt. Ngủ đi.

     Hai hôm sau, Dung mạnh khỏe hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

     - Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

     Dung buồn bã trả lời:

     - Con xin về.

     Khi theo bà ra ga, Dung thấy người hai bên đường nhìn nàng bàn tán thì thào. Nàng biết người ta tò mò chú ý đến nàng.

     Trông thấy dòng sông chảy xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không còn mong có ai cứu vớt nàng ra nữa.

     Dung thấy một cảm giác chán nản và lạnh lẽo. Khi bà cả lần ruột tượng gọi nàng lại đưa tiền lấy vé, Dung phải vội quay mặt đi để giấu mấy giọt nước mắt.

(Thạch Lam)

Chú thích: Hạ lưu: Tầng lớp thấp kém trong xã hội. Cha Dung gọi thế là vì ông có xuất thân là con cháu nhà quan. Khi ông cụ cố mất đi, cơ nghiệp ăn tiêu dần, cảnh nhà ông cũng dần trở nên sa sút, chỉ còn cái danh không.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.

Câu 2. Đề tài của văn bản này là gì? 

Câu 3. Nhận xét về sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật trong văn bản.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về đoạn trích: Trông thấy dòng sông chảy xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không còn mong có ai cứu vớt nàng ra nữa.?

Câu 5. Qua văn bản, tác giả gửi gắm tư tưởng, tình cảm nào đối với số phận đáng thương của nhân vật Dung?

4
17 tháng 5

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản là số phận bất hạnh, bi kịch của người phụ nữ tên Dung – một con người xuất thân sa sút, cuộc đời bế tắc, không lối thoát trong xã hội cũ.

Câu 3.

Sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật rất tự nhiên, linh hoạt.

-Lời người kể chuyện giữ vai trò dẫn dắt, miêu tả hoàn cảnh, tâm trạng nhân vật

-Lời nhân vật (qua suy nghĩ nội tâm) giúp bộc lộ trực tiếp nỗi đau, sự tuyệt vọng của Dung.

 →Cách kết hợp này làm cho câu chuyện chân thực, giàu cảm xúc và tăng sức ám ảnh.

Câu 4.

Đoạn trích cho thấy Dung rơi vào tâm trạng tuyệt vọng đến cùng cực. Nhìn dòng sông chảy xa, nàng nghĩ đến cái chết như một lối thoát cuối cùng. Việc “không còn mong có ai cứu vớt” thể hiện sự cô độc hoàn toàn, ý thức rõ bi kịch đời mình và cảm giác bị cuộc đời bỏ rơi.

Câu 5.

Qua văn bản, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc, cảm thông và trân trọng đối với số phận đáng thương của nhân vật Dung, đồng thời kín đáo phê phán xã hội cũ đã đẩy con người – đặc biệt là người phụ nữ – vào cảnh đau khổ, bế tắc.

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: nghị luận. Câu 2 Theo tác giả, cái biết “không phải của mình” là cái biết do chỉ đọc nhiều mà không suy nghĩ, không chọn lọc, không hệ thống hóa kiến thức; đó chỉ là những ý kiến của người khác chồng chất lên nhau một cách hỗn độn. Câu 3 Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn văn thứ hai: “Đọc sách mà không suy nghĩ thì không khác gì ăn mà không tiêu.” “Không biến mình thành một cái máy thu thanh thụ động…” Tác dụng: Làm cho cách diễn đạt sinh động, dễ hiểu. Nhấn mạnh vai trò của suy nghĩ, tư duy khi đọc sách. Giúp người đọc hiểu rằng đọc mà không suy ngẫm thì kiến thức sẽ không được tiếp nhận sâu sắc và không trở thành hiểu biết của bản thân. Câu 4 Ý kiến trên muốn khẳng định rằng khi đọc sách, con người không nên tiếp nhận thông tin một cách thụ động, máy móc mà cần biết suy nghĩ, phân tích, đánh giá, phản biện những điều tác giả đưa ra. Người đọc cần chủ động trao đổi về mặt tư tưởng với tác giả để tiếp thu kiến thức một cách độc lập, tự do và sáng suốt. Câu 5 Lời khuyên về thái độ khách quan khi đọc sách gợi cho em bài học rằng khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội cần biết chọn lọc, kiểm chứng và suy nghĩ cẩn thận trước khi tin tưởng hay chia sẻ. Không nên vội vàng tin theo dư luận hoặc những thông tin chưa xác thực. Mỗi người cần rèn luyện tư duy phản biện để tránh bị dẫn dắt bởi tin giả, thông tin sai lệch và có cách nhìn nhận đúng đắn hơn về các vấn đề trong cuộc sống.

13 tháng 1 2025

1.Người lãnh đạo kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã dẫn dắt đất nước giành được độc lập và tự do.

2Người thầy mẫu mực của cách mạng Việt Nam, Bác Hồ kính yêu, luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là tầng lớp lao động.

Vị cha già dân tộc với tấm lòng yêu nước sâu sắc, Bác Hồ, đã trở thành biểu tượng của tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của người Việt.

13 tháng 1 2025

Vào một ngày cuối tuần đẹp trời, lớp chúng tôi đã có dịp tổ chức một chuyến đi tham quan di tích lịch sử và văn hóa tại Đền Lộng Khê, một địa điểm nổi tiếng ở tỉnh Bắc Ninh. Chuyến đi không chỉ mang lại cho chúng tôi những trải nghiệm thú vị mà còn giúp chúng tôi hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của dân tộc.

Sáng sớm, chúng tôi tập trung ở trường, ai cũng háo hức chờ đón chuyến đi. Thầy cô giáo đã chuẩn bị cho chúng tôi một chiếc xe bus lớn và tiện nghi. Sau khi điểm danh, chúng tôi yên tâm ngồi vào chỗ và hướng về phía Đền Lộng Khê. Dọc đường đi, chúng tôi đã cùng nhau hát những bài hát vui tươi, tạo nên không khí thật sôi động.

Khi đến nơi, sự linh thiêng của đền thờ lập tức chạm vào tâm hồn mỗi người. Đền Lộng Khê được xây dựng từ lâu đời, nơi thờ các vị anh hùng dân tộc, trong đó có vua Lý Thái Tổ. Chúng tôi lần lượt tham quan từng khu vực trong đền. Ánh nắng chiếu rọi xuống những mảng tường gạch cổ kính, cùng những bức tượng thần linh uy nghi khiến chúng tôi cảm thấy như đang lạc vào thế giới của những truyền thuyết.

Thầy hướng dẫn đã chia sẻ với chúng tôi rất nhiều câu chuyện về lịch sử và ý nghĩa của các nghi lễ diễn ra tại đền. Nhờ đó, chúng tôi hiểu được tầm quan trọng của việc gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa của cha ông. Không chỉ có giá trị tôn giáo, Đền Lộng Khê còn là nơi để người dân đến tưởng niệm và tri ân những người đã hy sinh vì đất nước.

Sau khi tham quan, chúng tôi còn được tham gia một số trò chơi dân gian như kéo co, nhảy dây và đánh đu. Nhìn những nụ cười trên gương mặt bạn bè, tôi cảm thấy khoảng thời gian này thật sự quý giá. Đó không chỉ là những hoạt động vui chơi, mà còn là dịp để chúng tôi gắn kết tình bạn bè và hiểu thêm về văn hóa dân tộc.

Khi rời Đền Lộng Khê, ai cũng cảm thấy lưu luyến. Chuyến đi không chỉ giúp chúng tôi mở mang kiến thức về lịch sử, mà còn tạo nên những kỷ niệm đẹp trong thời học sinh. Tôi hy vọng sẽ có nhiều chuyến đi như thế này nữa, để chúng tôi không chỉ được khám phá những di tích lịch sử mà còn hiểu sâu sắc hơn về văn hóa của dân tộc mình.



Trở về trường, tôi giật mình nhận ra thời gian trôi qua thật nhanh. Trong lòng tôi luôn đọng lại hình ảnh của Đền Lộng Khê, một ngôi đền đầy linh thiêng và giàu bản sắc văn hóa. Điểm đến này không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là tâm hồn của dân tộc Việt Nam, nơi chúng ta có thể tìm về nguồn cội và niềm tự hào về lịch sử cha ông.

13 tháng 1 2025

Mỗi chuyến đi đều mang lại cho chúng ta những bài học quý giá và những kỷ niệm khó quên. Chuyến tham quan di tích lịch sử và văn hóa Đền Lộng Khê lần này cũng không phải là ngoại lệ. Đây là một trong những địa điểm nổi tiếng ở tỉnh Bắc Ninh, không chỉ thu hút khách du lịch mà còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc.

Vào một ngày đẹp trời cuối tuần, tôi và những người bạn cùng lớp quyết định thực hiện một chuyến đi về Đền Lộng Khê. Chúng tôi xuất phát từ sáng sớm, khi ánh nắng bắt đầu len lỏi qua những tán cây. Không khí trong lành khiến cho lòng người trở nên phấn chấn. Sau gần hai giờ di chuyển bằng xe ô tô, chúng tôi đã có mặt tại đền.

Khi bước chân vào khuôn viên đền, những hình ảnh đầu tiên hiện ra trước mắt tôi là những ngôi nhà gỗ cổ kính, mái ngói đỏ tươi, cây cối xanh tươi và không khí trang nghiêm của nơi thờ tự. Đền Lộng Khê được biết đến là nơi thờ vọng hai vị tướng giỏi thời Trần là Trần Quốc Tảng và Trần Quốc Tuấn, những người đã có công lớn trong việc bảo vệ bờ cõi của đất nước.

Đi dạo xung quanh, tôi cảm nhận được sự tôn nghiêm của không gian nơi đây. Những bức tượng, tranh thờ đẹp mắt, đường nét tinh xảo đều thể hiện sự tôn kính đối với các bậc anh hùng dân tộc. Chúng tôi cùng nhau đứng lặng trước tượng đài, thầm cầu mong cho đất nước được bình an, thịnh vượng.

Bên trong đền, không khí lại càng trở nên trang trọng hơn. Chúng tôi được giới thiệu về những truyền thuyết và lịch sử của địa điểm này từ các hướng dẫn viên. Họ kể về những trận chiến ác liệt trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm, những hy sinh lớn lao của các chiến sĩ và nhân dân. Câu chuyện đã khiến trái tim tôi như thắt lại, cảm nhận rõ hơn cái giá trị của tự do mà ông cha ta đã dày công gìn giữ.

Sau khi tham quan xong khu vực chính của đền, chúng tôi quyết định nghỉ ngơi và thưởng thức những món ăn đặc sản tại một quán ăn gần đó. Những món ăn đậm đà hương vị Bắc Ninh khiến tất cả chúng tôi thích thú. Bánh phở, bánh cuốn, gà rán, tất cả làm cho bữa trưa của chúng tôi trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Chuyến đi không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu về văn hóa và lịch sử, mà còn là dịp để đoàn kết hơn với những người bạn. Chúng tôi cùng nhau chụp hình, lưu lại những khoảnh khắc đẹp, cùng nhau trò chuyện và chia sẻ những ước mơ, hoài bão trong tương lai.

Khi ánh hoàng hôn bắt đầu buông xuống, chúng tôi rời khỏi Đền Lộng Khê trong lòng tràn đầy cảm xúc. Tôi cảm thấy tự hào vì mình là một phần trong dòng chảy của lịch sử, văn hóa dân tộc. Chuyến đi đã giúp tôi hiểu rõ hơn về những giá trị tinh thần mà ông cha ta đã để lại.

Ngoài việc tham quan và học hỏi, tôi nhận thấy rằng việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử là trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. Chúng ta không chỉ cần biết đến nơi mình sống, mà còn phải trân trọng và bảo vệ những gì đã được xây dựng từ bao đời.

Đền Lộng Khê không chỉ là một điểm đến du lịch mà còn là nơi lưu giữ tâm hồn dân tộc, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Tôi hy vọng rằng trong tương lai, mình sẽ có nhiều chuyến đi như thế này để khám phá những di tích văn hóa, lịch sử của đất nước, và để thêm phần trân trọng giá trị của cuộc sống.

13 tháng 2

Câu 1

Bài thơ ở phần Đọc hiểu đã để lại trong em nhiều suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc. Trước hết, bài thơ thể hiện một tình cảm chân thành, tha thiết của tác giả đối với con người hoặc quê hương, cuộc sống. Những hình ảnh được sử dụng trong bài thơ giản dị nhưng giàu sức gợi, giúp người đọc dễ dàng hình dung và đồng cảm. Giọng điệu thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, có lúc trăn trở, có lúc thiết tha, thể hiện rõ tâm trạng và suy tư của nhân vật trữ tình. Đặc biệt, các biện pháp nghệ thuật như điệp từ, so sánh hay ẩn dụ đã góp phần làm nổi bật chủ đề của bài thơ, đồng thời tạo nhịp điệu hài hòa, giàu cảm xúc. Qua đó, tác giả không chỉ bộc lộ tình cảm cá nhân mà còn gửi gắm một thông điệp ý nghĩa về giá trị của tình yêu thương, sự trân trọng quá khứ hay trách nhiệm với hiện tại. Bài thơ vì thế không chỉ chạm đến trái tim người đọc mà còn khơi gợi những suy nghĩ tích cực về cách sống và cách ứng xử trong cuộc đời.

Câu 2

Trong cuộc sống, thói quen lề mề, chậm chạp tưởng như nhỏ nhặt nhưng lại gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Vì vậy, em muốn thuyết phục người thân của mình từ bỏ thói quen này để có một cuộc sống hiệu quả và thành công hơn. Trước hết, lề mề khiến công việc bị trì hoãn, dễ dẫn đến áp lực và căng thẳng khi mọi việc dồn lại vào phút cuối. Điều đó không chỉ làm giảm chất lượng công việc mà còn ảnh hưởng đến uy tín và sự tin tưởng của người khác. Hơn nữa, thói quen chậm trễ còn khiến ta bỏ lỡ nhiều cơ hội quý giá trong học tập và công việc. Ngược lại, nếu biết sắp xếp thời gian hợp lí, làm việc đúng giờ và chủ động, chúng ta sẽ cảm thấy tự tin, thoải mái hơn và đạt được kết quả tốt hơn. Để thay đổi, mỗi người có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như lập kế hoạch hằng ngày, đặt thời hạn cụ thể cho từng nhiệm vụ và tự nhắc nhở bản thân hoàn thành đúng thời gian. Em tin rằng khi kiên trì rèn luyện, người thân của em sẽ sớm từ bỏ được thói quen lề mề và trở nên năng động, hiệu quả hơn trong cuộc sống.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:                   Giục giã                                - Xuân Diệu -  Mau với chứ, vội vàng lên với chứ, Em, em ơi, tình non đã già rồi; Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi, Mau với chứ! thời gian không đứng đợi. Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới; Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa. Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

                 Giục giã

                               - Xuân Diệu - 

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi;
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,
Mau với chứ! thời gian không đứng đợi.
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.

Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến;
Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành.
Vàng son đương lộng lẫy buổi chiều xanh,
Quay mặt lại: cả lầu chiều đã vỡ.

Vì chút mây đi, theo làn vút gió.
Biết thế nào mà chậm rãi, em ơi?
Sớm nay sương xê xích cả chân trời,
Giục hồng nhạn thiên di về cõi bắc.
Ai nói trước lòng anh không phản trắc;
Mà lòng em, sao lại chắc trơ trơ?
- Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ,
Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lói;
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm,
Anh hút nhuỵ của mỗi giờ tình tự.
Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi...

                             (Báo Ngày nay)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Đề tài của văn bản này là gì?

Câu 3. Phân tích tác dụng của việc lặp lại nhiều lần cụm từ "Mau với chứ..." trong bài thơ. 

Câu 4. Em hiểu như thế nào về hình ảnh: "Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm."? 

Câu 5. Nội dung của bài thơ này là gì? 

2
13 tháng 2

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, câu thơ dài ngắn linh hoạt, không gò bó số chữ, phù hợp với cảm xúc mãnh liệt và dồn dập của tác giả.

Câu 2.
Đề tài của văn bản là tình yêu và sự trôi chảy của thời gian. Qua đó, nhà thơ thể hiện nỗi ám ảnh trước sự ngắn ngủi của tuổi trẻ, tình yêu và khát vọng sống hết mình trong hiện tại.

Câu 3.
Việc lặp lại nhiều lần cụm từ “Mau với chứ...” có tác dụng tạo nhịp điệu dồn dập, gấp gáp, thể hiện tâm trạng lo âu, cuống quýt của cái tôi trữ tình trước sự trôi đi không ngừng của thời gian. Điệp ngữ này còn nhấn mạnh khát vọng tận hưởng tình yêu, tuổi trẻ khi còn có thể. Đồng thời, nó làm nổi bật cảm hứng sống vội vàng, sống hết mình – một đặc trưng trong thơ Xuân Diệu.

Câu 4.
Hai câu thơ “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” thể hiện quan niệm sống mãnh liệt của Xuân Diệu. Nhà thơ đề cao lối sống cháy hết mình, sống rực rỡ, có ý nghĩa dù ngắn ngủi còn hơn sống kéo dài mà nhạt nhòa, vô vị. Đó là triết lí sống tích cực, khẳng định giá trị của khoảnh khắc hiện tại.

Câu 5.
Bài thơ thể hiện nỗi lo âu trước sự trôi chảy của thời gian và sự phai tàn của tuổi trẻ, sắc đẹp, tình yêu. Qua đó, Xuân Diệu bộc lộ khát vọng sống gấp, sống hết mình, tận hưởng trọn vẹn từng giây phút của tình yêu và cuộc đời.

Câu 1 thơ 8 chữ

Câu2 Thơ duyên

Câu 3 nhấn mạnh ý nghĩa và tâm tư của tác giả muốn gửi vào bài thơ

Câu 4 Em hiểu là đánh cược một lần để có thể đạt được một ý muốn nào đó rồi dập tắt còn hơn là ấm ức buồn bã hoặc là một cảm xúc gì đó in ổi trong cơ thể suốt bao nhiêu năm

Câu 5 nội dung của thơ là thơ duyên là bài thơ là một bài thơ về tình yêu mà tác giả Xuân diệu muốn gửi gắm cho một người nào đó một người con gái mà tác giả đã thương


Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi: “Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run lên bần bật. Mưa phùn lất phất… Bên gốc đa, một chú Thỏ bước ra, tay cầm một tấm vải dệt bằng rong. Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút. Thỏ đuổi theo. tấm vải rơi tròng trành trên ao nước. Thỏ...
Đọc tiếp

Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi: “Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run lên bần bật. Mưa phùn lất phất… Bên gốc đa, một chú Thỏ bước ra, tay cầm một tấm vải dệt bằng rong. Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút. Thỏ đuổi theo. tấm vải rơi tròng trành trên ao nước. Thỏ vừa đặt chân xuống nước đã vội co lên. Thỏ cố khều nhưng đưa chân không tới. Một chú Nhím vừa đi đến. Thỏ thấy Nhím liền nói: - Tôi đánh rơi tấm vải khoác! - Thế thì gay go đấy! Trời rét, không có áo khoác thì chịu sao được. Nhím nhặt chiếc que khều… Tấm vải dạt vào bờ. Nhím nhặt lên, giũ nước, quấn lên người Thỏ: - Phải may thành một chiếc áo, có thế mới kín được. - Tôi đã hỏi rồi. Ở đây chẳng có ai may vá gì được. Nhím ra dáng nghĩ: - Ừ! Muốn may áo phải có kim. Tôi thiếu gì kim. Nói xong, Nhím xù lông. Quả nhiên vô số những chiếc kim trên mình Nhím dựng lên nhọn hoắt. Nhím rút một chiếc lông nhọn, cởi tấm vải trên mình Thỏ để may. (Trích “Những chiếc áo ấm”, Võ Quảng) Câu 1. Đoạn trích trên thuộc loại truyện gì? Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? (1 điểm) Câu 2. Xác định chủ ngữ và vị ngữ trong câu văn: “Một chú Nhím vừa đi đến” và cho biết vị ngữ trong câu văn thuộc loại cụm từ gì?(1.0 điểm)

1
13 tháng 2

Câu 1
Đoạn trích thuộc loại truyện đồng thoại vì các con vật được nhân hoá, có hành động, lời nói và suy nghĩ như con người. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2
Chủ ngữ là Một chú Nhím.
Vị ngữ là vừa đi đến.
Vị ngữ trong câu thuộc loại cụm động từ.

12 tháng 1 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!

13 tháng 1 2025

Nội dung của bài thơ Bác ơi : - Bài thơ thể hiện sâu sắc niềm đau đớn, tiếc thương vô hạn của nhà thơ, của nhân dân ta với Bác Hồ. - Tố Hữu đã bộc lộ những suy cảm sâu sắc về Bác: một con người có đời sống trong sạch, cao thượng; có đạo đức cao quý và tình cảm, tâm hồn rộng lớn; có sự nghiệp vĩ đại… - Bày tỏ lời hứa quyết tâm đi theo con đường cách mạng mà Bác tìm ra.