K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:         Từ ngày muôn dặm phù tang(1), Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.        Vội sang vườn Thúy(2) dò la, Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.        Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa. Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời…        Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông(3).        Sập sè én...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

       Từ ngày muôn dặm phù tang(1),

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

       Vội sang vườn Thúy(2) dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

       Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa.

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời…

       Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông(3).

       Sập sè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

       Cuối tường gai góc mọc đầy,

Đi về này những lối này năm xưa!

       Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

       Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

       Hỏi ông, ông mắc tụng đình(4),

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

       Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương, cùng với là Thúy Vân.

       Đều là sa sút khó khăn,

May thuê, viết mướn, kiếm ăn lần hồi.

       Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

       Vội han di trú(5) nơi nào?

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

       Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc cài phên thưa.

       Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn người!

       Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

       Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

       Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi, biết nỗi nước này cho chưa?

       Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

       Gặp cơn gia biến lạ đường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

       Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

       Trót lời hẹn với lang quân,

Mượn con em nó Thúy Vân thay lời.

       Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên.”

        […] Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng rầu như dưa.

       Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai!

                   (Trích “Truyện Kiều”, Nguyễn Du, Nhà xuất bản Trẻ, 2015)

Chú thích: 

(1) Phù tang: Chịu tang.

(2) Vườn Thúy: Nơi Kim Trọng từng trọ học, cũng là nơi Kim – Kiều cùng nhau tình tự, thề nguyền.

(3) Hoa đào… gió đông: Thôi Hộ đời Đường, nhân tiết Thanh minh, đi đến nơi kì ngộ, tìm người con gái đã gặp gỡ năm trước thì chỉ thấy cửa đóng, người đi đâu vắng, nhân đó mà làm bài thơ, trong đó câu: “Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” (nghĩa là: “Mặt người không biết đi đằng nào/ Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ).

(4) Tụng đình: Sân xử kiện, nơi xử kiện. Ở đây dùng với nghĩa chỉ việc kiện cáo.

(5) Han: Hỏi, di trú: Dời đi nơi khác.

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?

Câu 2. Văn bản là ngôn ngữ của ai?

Câu 3. Tóm tắt lại văn bản theo các sự kiện chính trong văn bản.

Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”?

Câu 5. Nêu tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích:

        Sập sè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

       Cuối tường gai góc mọc đầy,

Đi về này những lối này năm xưa!

0
13 tháng 2

Câu 1


Đoạn trích ở phần Đọc hiểu gây ấn tượng bởi những đặc sắc nghệ thuật nổi bật. Trước hết là cách xây dựng hình ảnh giàu tính biểu tượng, qua đó gửi gắm thông điệp sâu sắc về con người và cuộc sống. Những chi tiết được lựa chọn có tính chọn lọc, tiêu biểu, vừa chân thực vừa gợi nhiều tầng ý nghĩa. Ngôn ngữ của đoạn trích giản dị nhưng hàm súc, giàu sức gợi, tạo nên dư âm trong lòng người đọc. Tác giả còn sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ hoặc điệp cấu trúc để nhấn mạnh ý tưởng trung tâm, làm nổi bật cảm xúc và quan điểm. Giọng điệu khi nhẹ nhàng, sâu lắng, khi mạnh mẽ, dứt khoát, góp phần thể hiện rõ thái độ của người viết. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự và nghị luận giúp đoạn trích vừa giàu tính hình tượng vừa có chiều sâu suy tư. Nhờ những đặc sắc nghệ thuật ấy, đoạn trích không chỉ truyền tải nội dung tư tưởng mà còn tạo nên giá trị thẩm mĩ bền vững.


Câu 2


Ý kiến “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh” gợi ra một cách nhìn sâu sắc về giá trị và giới hạn của lòng tốt. Lòng tốt trước hết là sự yêu thương, đồng cảm, sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ người khác. Trong cuộc sống, những hành động tử tế có thể xoa dịu nỗi đau, hàn gắn tổn thương và thắp lên niềm tin vào con người. Một lời động viên đúng lúc, một bàn tay chìa ra khi hoạn nạn có thể thay đổi cả cuộc đời của ai đó. Vì thế, lòng tốt luôn là nền tảng làm nên nhân cách và giá trị đạo đức của mỗi người.


Tuy nhiên, lòng tốt nếu thiếu sự tỉnh táo và hiểu biết sẽ dễ trở thành sự cả tin, thậm chí tiếp tay cho điều xấu. Trong thực tế, không ít trường hợp sự giúp đỡ thiếu suy xét đã bị lợi dụng, hoặc vô tình làm người khác ỷ lại, mất đi ý chí vươn lên. Lòng tốt “không sắc sảo” giống như con số không đứng một mình, tròn trĩnh nhưng không tạo ra giá trị thực sự. Ngược lại, khi lòng tốt đi cùng trí tuệ và nguyên tắc, nó sẽ trở thành sức mạnh bền vững, vừa giúp đỡ đúng cách, vừa bảo vệ được bản thân và cộng đồng.


Vì vậy, mỗi người cần nuôi dưỡng lòng nhân ái nhưng đồng thời rèn luyện sự tỉnh táo, biết phân biệt đúng sai, biết giúp đúng lúc, đúng người, đúng mức. Lòng tốt có trí tuệ mới thực sự là nguồn năng lượng tích cực, góp phần xây dựng một xã hội nhân văn và tiến bộ.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:          Đường đường một đấng anh hào,Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài         Đội trời đạp đất ở đời,Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông         Giang hồ quen thú vẫy vùng,Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo         Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng         Thiếp danh đưa...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

         Đường đường một đấng anh hào,

Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài

         Đội trời đạp đất ở đời,

Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông

         Giang hồ quen thú vẫy vùng,

Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo

         Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,

Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng

         Thiếp danh đưa đến lầu hồng,

Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa.

         Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,

Phải người trăng gió vật vờ hay sao?

         Bấy lâu nghe tiếng má đào,

Mắt xanh chẳng để ai vào có không?

         Một đời được mấy anh hùng,

Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi!”

         Nàng rằng: “Người dạy quá lời,

Thân này còn dám xem ai làm thường!

         Chút riêng chọn đá thử vàng,

Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?

         Còn như vào trước ra sau,

Ai cho kén chọn vàng thau tại mình!”

         Từ rằng: “Lời nói hữu tình,

Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.

         Lại đây xem lại cho gần,

Phỏng tin được một vài phần hay không?”

         Thưa rằng: “Lượng cả bao dung,

Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.

         Rộng thương cỏ nội hoa hèn,

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!”

         Nghe lời vừa ý gật đầu,

Cười rằng: “Tri kỷ trước sau mấy người?

         Khen cho con mắt tinh đời,

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!

         Một lời đã biết đến ta,

Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau!”

         Hai bên ý hợp tâm đầu,

Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân.

         Ngỏ lời nói với băng nhân,

Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.

         Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,

Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên.

         Trai anh hùng gái thuyền quyên,

Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.

               (Trích “Truyện Kiều”, Nguyễn Du, Nhà xuất bản Trẻ, 2015, tr. 293 - 297)

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở đâu?

Câu 3. (1.0 điểm) Anh/chị có nhận xét gì nhân vật Thúy Kiều qua những câu thơ sau?

         Thưa rằng: “Lượng cả bao dung,

Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.

         Rộng thương cỏ nội hoa hèn,

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!”

Câu 4. (1.0 điểm) Anh/chị có nhận xét như thế nào về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích?

Câu 5. (1.0 điểm) Văn bản trên đã khơi gợi trong anh/chị những tình cảm/cảm xúc gì? Vì sao?

1
15 tháng 1 2025

chịu


(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:  Hai lần chết      Dung là con thứ bốn. Vì vậy khi nàng ra đời, không được cha mẹ hoan nghênh lắm. Thực ra, không phải cha mẹ nàng hất hủi con, vẫn coi người con như một cái phúc trời ban cho, nhưng lúc bấy giờ cha mẹ nàng đã nghèo rồi. Với ba người con trước, hai trai, một gái, cha mẹ Dung đã thấy khó nhọc, vất vả làm lụng mới lo đàn con...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

Hai lần chết

     Dung là con thứ bốn. Vì vậy khi nàng ra đời, không được cha mẹ hoan nghênh lắm. Thực ra, không phải cha mẹ nàng hất hủi con, vẫn coi người con như một cái phúc trời ban cho, nhưng lúc bấy giờ cha mẹ nàng đã nghèo rồi. Với ba người con trước, hai trai, một gái, cha mẹ Dung đã thấy khó nhọc, vất vả làm lụng mới lo đàn con đủ ăn, và hai con trai được đi học. Sau Dung lại còn con bé út nữa, nên cảnh nhà càng thêm túng bấn.

     […] Cha mẹ Dung cũng không nghĩ đến sự bắt nàng đi học như anh chị nàng, có lẽ vì nghĩ rằng lo cho hai người cũng đã đủ.

     Dung càng lớn càng gầy gò đi. Suốt ngày nàng chỉ chạy đánh khăng đánh đáo với lũ trẻ con nhà "hạ lưu"(1) - cha nàng gọi thế những người nghèo khổ trú ngụ ở chung quanh xóm chợ. Nhiều khi đi đâu về trông thấy, cha nàng gọi về, đánh cho mấy roi mây và cấm từ đấy không được chơi với lũ trẻ ấy. Những trận đòn xong, Dung lại mon men chơi với lũ trẻ, và thấy hình như cha nàng cũng chỉ cấm lấy lệ chứ không thiết gì đến, nàng lại vững tâm nhập vào bọn hạ lưu đó, suốt ngày dông dài ở ngoài chợ.

     Một đôi khi, mẹ nàng kịp về đến nhà trông thấy nàng quần áo lôi thôi lếch thếch và chân tay lấm, bùn, chỉ chép miệng thở dài nói:

     - Con này rồi sau đến hỏng mất thôi.

     Rồi bà lại quay đi buôn bán như thường, sau khi đã để lại cho chồng một món tiền tiêu pha trong nhà, và sau khi anh chị Dung mỗi người đã nũng nịu đòi được một hào để ăn quà.

     Dung thấy thế cũng chẳng ganh tị, vì nàng xưa nay đối với các anh chị cũng không thân thiết lắm. Những khi nàng đang chơi thấy đói, nàng lại chạy về xin u già bát cơm nguội hay thức ăn gì khác thế nào u già cũng đã để phần rồi chạy nhảy như một con vật non không biết lo nghĩ gì.

     Những sự ấy đã làm cho Dung có một cái tính an phận và nhẫn nại lạ lùng. Ngày trong nhà có tết nhất, các anh chị và em nàng được mặc quần áo mới vui chơi, còn nàng vẫn cứ phải áo cũ làm lụng dưới bếp, Dung cũng không ca thán hay kêu ca gì. Mà nàng biết kêu ca cũng không được. Nhiều lần nàng đã nghe thấy u già nói mẹ nàng may cho cái áo, thì mẹ nàng trả lời:

     - May cho con nặc nô ấy làm gì. Để nó làm rách nát ra à?

     Còn nói với cha thì Dung biết là vô công hiệu, vì cha nàng không dám tự ý làm cái gì bao giờ cả.

     […] Thế là Dung đi lấy chồng.

     Nàng đi lấy chồng cũng bỡ ngỡ và lạ lùng như người nhà quê lên tỉnh. Dung coi đi lấy chồng như một dịp đi chơi xa, một dịp rời bỏ được cái gia đình lạnh lẽo và cái xóm chợ quen mắt quá của nàng. Đi lấy chồng đối với nàng là hưởng một sự mới.

     Vì thế, khi bước chân lên ô tô về nhà chồng, Dung không buồn bã khóc lóc gì cả. Nàng còn chú ý đến những sự lạ mắt lạ tai của nhà giai, không nghe thấy những lời chúc hơi mát mẻ và ganh tị của hai chị và em bé nàng nữa.

     Về đến nhà chồng, Dung mới biết chồng là một anh học trò lớp nhì, vừa lẫn thẩn vừa ngu đần. Nàng đã bé mà chồng nàng lại còn bé choắt hơn. Nhưng bà mẹ chồng với các em chồng nàng thì to lớn ác nghiệt lắm.

     Qua ngày nhị hỉ, Dung đã tháo bỏ đôi vòng trả mẹ chồng, ăn mặc nâu sồng như khi còn ở nhà, rồi theo các em chồng ra đồng làm ruộng. Nhà chồng nàng giàu, nhưng bà mẹ chồng rất keo kiệt, không chịu nuôi người làm mà bắt con dâu làm.

     Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

     Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

     - Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

     Rồi bà kể thêm:

     - Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

     Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

     Một hôm tình cờ cả nhà đi vắng, Dung vội ăn cắp mấy đồng bạc trinh lẻn ra ga lấy vé tàu về quê. Đến nơi, mẹ nàng ngạc nhiên hỏi:

     - Kìa, con về bao giờ thế? Đi có một mình thôi à?

     Dung sợ hãi không dám nói rằng trốn về, phải tìm cớ nói dối. Nhưng đến chiều tối, nàng lo sợ quá, biết rằng thế nào ngày mai mẹ chồng nàng cũng xuống tìm. Nàng đánh bạo kể hết tình đầu cho cha mẹ nghe, những nỗi hành hạ nàng phải chịu, và xin cho phép nàng ở lại nhà.

     Cha nàng hút một điếu thuốc trong cái ống điếu khảm bạc, rồi trầm ngâm như nghĩ ngợi. Còn mẹ nàng thì đùng đùng nổi giận mắng lấy mắng để:

     - Lấy chồng mà còn đòi ở nhà. Sao cô ngu thế. Cô phải biết cô làm ăn thế đã thấm vào đâu mà phải kể. Ngày trước tôi về nhà này còn khó nhọc bằng mười chứ chả được như cô bây giờ đâu, cô ạ.

     Sớm mai, bà mẹ chồng Dung xuống. Vừa thấy thông gia, bà đã nói mát:

     - Nhà tôi không có phúc nuôi nổi dâu ấy. Thôi thì con bà lại xin trả bà chứ không dám giữ.

     Mẹ Dung cãi lại:

     - Ô hay, sao bà ăn nói lạ. Bây giờ nó đã là dâu con bà, tôi không biết đến. Mặc bà muốn xử thế nào thì xử. Chỉ biết nó không phải là con tôi nữa mà thôi.

     Bà nọ nhường bà kia, rút cục Dung được lệnh của mẹ phải sửa soạn để đi với mẹ chồng.

     Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hy vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

     Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. Trí nàng sắc lại khi ước lạnh đập vào mặt, nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

     Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

     - Tỉnh rồi, tỉnh rồi, không lo sợ gì nữa. Bây giờ chỉ đắp chăn cho ấm rồi sắc nước gừng đặc cho uống là khỏi.

     Dung dần dần nhớ lại. Khi nàng mở mắt nhìn, thấy mình nằm trong buồng, người u già cầm cây đèn con đứng đầu giường nhìn nàng mỉm cười một cách buồn rầu:

     - Cô đã tỉnh hẳn chưa?

     Dung gật:

     - Tỉnh rồi.

     Một lát, nàng lại hỏi:

     - Tôi làm sao thế nhỉ... Bà cả đâu u? Bà ấy về chưa?

     U già để tay lên trán Dung, không trả lời câu hỏi:

     - Cô hãy còn mệt. Ngủ đi.

     Hai hôm sau, Dung mạnh khỏe hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

     - Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

     Dung buồn bã trả lời:

     - Con xin về.

     Khi theo bà ra ga, Dung thấy người hai bên đường nhìn nàng bàn tán thì thào. Nàng biết người ta tò mò chú ý đến nàng.

     Trông thấy dòng sông chảy xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không còn mong có ai cứu vớt nàng ra nữa.

     Dung thấy một cảm giác chán nản và lạnh lẽo. Khi bà cả lần ruột tượng gọi nàng lại đưa tiền lấy vé, Dung phải vội quay mặt đi để giấu mấy giọt nước mắt.

(Thạch Lam)

Chú thích: Hạ lưu: Tầng lớp thấp kém trong xã hội. Cha Dung gọi thế là vì ông có xuất thân là con cháu nhà quan. Khi ông cụ cố mất đi, cơ nghiệp ăn tiêu dần, cảnh nhà ông cũng dần trở nên sa sút, chỉ còn cái danh không.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.

Câu 2. Đề tài của văn bản này là gì? 

Câu 3. Nhận xét về sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật trong văn bản.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về đoạn trích: Trông thấy dòng sông chảy xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không còn mong có ai cứu vớt nàng ra nữa.?

Câu 5. Qua văn bản, tác giả gửi gắm tư tưởng, tình cảm nào đối với số phận đáng thương của nhân vật Dung?

 
0
17 tháng 5

Câu 1

Nhân vật Dung trong phần Đọc hiểu hiện lên như một số phận người phụ nữ đầy bi kịch và đáng thương trong xã hội cũ. Xuất thân là con cháu nhà quan nhưng khi cha mất, gia cảnh sa sút, Dung rơi xuống tầng lớp “hạ lưu”, mất đi cả chỗ dựa vật chất lẫn tinh thần. Cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu mà từ sự sắp đặt đã đẩy Dung vào cảnh sống bế tắc, cô độc. Hình ảnh Dung ngồi trông dòng sông chảy xa và nghĩ đến cái chết cho thấy nỗi tuyệt vọng đã lên đến tột cùng. Dòng sông không chỉ là cảnh vật mà còn là biểu tượng cho cuộc đời trôi đi vô định, không lối thoát của nhân vật. Dung ý thức rõ sự cô đơn của mình khi “không còn mong có ai cứu vớt”, điều đó thể hiện bi kịch tinh thần sâu sắc của người phụ nữ bị tước đoạt quyền sống, quyền hạnh phúc. Qua nhân vật Dung, tác giả bày tỏ niềm xót thương chân thành, đồng thời tố cáo xã hội phong kiến bất công đã chà đạp lên số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ.


Câu 2 

Hôn nhân là một trong những quyết định quan trọng nhất của đời người, bởi nó gắn liền với hạnh phúc, tương lai và cả số phận của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít bậc cha mẹ vẫn áp đặt con cái trong hôn nhân, coi việc cưới xin là sự sắp đặt mang tính trách nhiệm hơn là lựa chọn xuất phát từ tình yêu. Đây là một vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc.


Trước hết, cần thừa nhận rằng sự áp đặt của cha mẹ đôi khi bắt nguồn từ tình thương và mong muốn điều tốt đẹp cho con. Cha mẹ thường dựa vào kinh nghiệm sống, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế hay địa vị xã hội để lựa chọn người bạn đời “phù hợp” cho con cái. Trong suy nghĩ của họ, một cuộc hôn nhân ổn định về vật chất sẽ giúp con bớt vất vả. Tuy nhiên, khi tình thương ấy vượt quá giới hạn và biến thành sự áp đặt, nó lại gây ra những hậu quả nghiêm trọng.


Hôn nhân không có tình yêu dễ dẫn đến cuộc sống gia đình lạnh nhạt, mâu thuẫn, thậm chí là bi kịch. Khi con cái buộc phải kết hôn với người mình không yêu, họ sẽ sống trong tâm trạng gò bó, ức chế và mất dần niềm tin vào hạnh phúc. Nhiều người chấp nhận cuộc hôn nhân sắp đặt chỉ vì chữ hiếu, nhưng sau đó lại phải trả giá bằng cả tuổi trẻ, ước mơ và tinh thần của mình. Không ít gia đình tan vỡ cũng bắt nguồn từ việc con cái không được quyền lựa chọn hạnh phúc riêng.


Mặt khác, việc cha mẹ áp đặt hôn nhân còn thể hiện sự thiếu tôn trọng quyền tự do cá nhân. Con cái, dù ở độ tuổi nào, cũng là những con người độc lập, có cảm xúc, suy nghĩ và quyền quyết định cuộc đời mình. Khi cha mẹ thay con lựa chọn người sẽ đi cùng con suốt cả cuộc đời, điều đó vô tình tước đi quyền được hạnh phúc của con. Hạnh phúc không thể vay mượn hay sắp đặt, mà phải xuất phát từ sự tự nguyện và đồng cảm giữa hai con người.


Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận vai trò định hướng của cha mẹ trong hôn nhân. Cha mẹ nên là người lắng nghe, chia sẻ, góp ý và giúp con cái nhìn nhận đúng đắn về tình yêu, trách nhiệm gia đình, thay vì áp đặt hay quyết định thay. Sự đồng hành, thấu hiểu sẽ giúp con cái có lựa chọn chín chắn hơn, đồng thời vẫn giữ được sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thế hệ.


Tóm lại, cha mẹ áp đặt con cái trong hôn nhân là một vấn đề cần được thay đổi trong xã hội hiện đại. Hôn nhân chỉ thực sự bền vững khi được xây dựng trên cơ sở tình yêu, sự tự nguyện và trách nhiệm. Cha mẹ hãy yêu thương con bằng sự thấu hiểu, còn con cái hãy biết trân trọng, lắng nghe để cùng nhau xây dựng hạnh phúc bền lâu.

17 tháng 5

Câu 1

Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Ngay từ nhỏ, Dung đã thiếu thốn tình yêu thương của cha mẹ vì gia đình nghèo khó và đông con. Nàng sống cam chịu, nhẫn nhịn, quen với sự thờ ơ và bất công trong chính gia đình mình. Khi bị ép gả chồng, Dung ngây thơ xem đó như một chuyến đi xa mà không biết cuộc đời bất hạnh đang chờ phía trước. Về nhà chồng, nàng phải chịu cảnh lao động cực nhọc, bị mẹ chồng cay nghiệt, chồng ngu đần và không ai che chở. Quá đau khổ, Dung tìm đến cái chết như một sự giải thoát nhưng vẫn không thoát khỏi số phận nghiệt ngã. Hình ảnh “lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối” cho thấy sự tuyệt vọng tột cùng của nhân vật. Qua Dung, Thạch Lam bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với người phụ nữ bị áp bức, đồng thời lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã cướp đi quyền sống và hạnh phúc của họ.


Câu 2

Hôn nhân là chuyện quan trọng của đời người, bởi đó không chỉ là sự gắn kết giữa hai cá nhân mà còn ảnh hưởng đến hạnh phúc lâu dài của cả một gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn tồn tại tình trạng cha mẹ áp đặt con cái trong hôn nhân. Đây là vấn đề đáng suy nghĩ vì nó có thể gây ra nhiều hậu quả đau lòng.

Áp đặt con cái trong hôn nhân là việc cha mẹ tự quyết định chuyện cưới xin, ép buộc con kết hôn với người mà mình lựa chọn mà không tôn trọng cảm xúc và nguyện vọng của con. Trong xã hội phong kiến xưa, điều này diễn ra rất phổ biến. Nhiều người trẻ phải kết hôn theo sự sắp đặt của gia đình, dẫn đến những cuộc hôn nhân không tình yêu và đầy đau khổ. Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết là một minh chứng tiêu biểu. Dung bị gả cho một người chồng ngu đần, phải sống trong cảnh bị hành hạ, tuyệt vọng đến mức tìm đến cái chết.

Ngày nay, tuy xã hội đã tiến bộ hơn nhưng vẫn có nhiều cha mẹ can thiệp quá sâu vào chuyện tình cảm của con cái. Một số người ép con kết hôn vì điều kiện kinh tế, địa vị hay mong muốn cá nhân mà quên mất rằng hạnh phúc phải xuất phát từ tình yêu và sự tự nguyện. Việc áp đặt ấy khiến con cái mất tự do, sống gò bó, dễ dẫn đến mâu thuẫn gia đình, đau khổ tinh thần, thậm chí tan vỡ hôn nhân. Không ít người phải sống trong cuộc hôn nhân không hạnh phúc chỉ vì muốn làm vừa lòng cha mẹ.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng phần lớn cha mẹ áp đặt con cái vì lo lắng và mong muốn điều tốt đẹp cho con. Do có nhiều kinh nghiệm sống, cha mẹ thường muốn con tránh sai lầm trong tình yêu và hôn nhân. Nhưng tình yêu là chuyện xuất phát từ trái tim, không thể ép buộc. Nếu cha mẹ chỉ dùng quyền uy để quyết định thay con thì vô tình sẽ biến tình thương thành áp lực.

Vì vậy, trong gia đình cần có sự thấu hiểu và tôn trọng lẫn nhau. Cha mẹ nên lắng nghe, định hướng và đưa ra lời khuyên thay vì ép buộc. Con cái cũng cần biết chia sẻ, suy nghĩ chín chắn và có trách nhiệm với lựa chọn của mình. Một cuộc hôn nhân chỉ thật sự bền vững khi được xây dựng trên cơ sở tình yêu, sự tự nguyện và đồng cảm.

Tóm lại, áp đặt con cái trong hôn nhân là quan niệm không còn phù hợp với xã hội hiện đại. Hạnh phúc không thể có nếu thiếu sự tự do lựa chọn. Vì thế, mỗi gia đình cần xây dựng mối quan hệ yêu thương, tôn trọng để con cái được sống đúng với mong muốn và có cơ hội tìm thấy hạnh phúc thật sự của đời mình.


(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:  Hai lần chết      Dung là con thứ bốn. Vì vậy khi nàng ra đời, không được cha mẹ hoan nghênh lắm. Thực ra, không phải cha mẹ nàng hất hủi con, vẫn coi người con như một cái phúc trời ban cho, nhưng lúc bấy giờ cha mẹ nàng đã nghèo rồi. Với ba người con trước, hai trai, một gái, cha mẹ Dung đã thấy khó nhọc, vất vả làm lụng mới lo đàn con...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

Hai lần chết

     Dung là con thứ bốn. Vì vậy khi nàng ra đời, không được cha mẹ hoan nghênh lắm. Thực ra, không phải cha mẹ nàng hất hủi con, vẫn coi người con như một cái phúc trời ban cho, nhưng lúc bấy giờ cha mẹ nàng đã nghèo rồi. Với ba người con trước, hai trai, một gái, cha mẹ Dung đã thấy khó nhọc, vất vả làm lụng mới lo đàn con đủ ăn, và hai con trai được đi học. Sau Dung lại còn con bé út nữa, nên cảnh nhà càng thêm túng bấn.

     […] Cha mẹ Dung cũng không nghĩ đến sự bắt nàng đi học như anh chị nàng, có lẽ vì nghĩ rằng lo cho hai người cũng đã đủ.

     Dung càng lớn càng gầy gò đi. Suốt ngày nàng chỉ chạy đánh khăng đánh đáo với lũ trẻ con nhà "hạ lưu"(1) cha nàng gọi thế những người nghèo khổ trú ngụ ở chung quanh xóm chợ. Nhiều khi đi đâu về trông thấy, cha nàng gọi về, đánh cho mấy roi mây và cấm từ đấy không được chơi với lũ trẻ ấy. Những trận đòn xong, Dung lại mon men chơi với lũ trẻ, và thấy hình như cha nàng cũng chỉ cấm lấy lệ chứ không thiết gì đến, nàng lại vững tâm nhập vào bọn hạ lưu đó, suốt ngày dông dài ở ngoài chợ.

     Một đôi khi, mẹ nàng kịp về đến nhà trông thấy nàng quần áo lôi thôi lếch thếch và chân tay lấm, bùn, chỉ chép miệng thở dài nói:

     - Con này rồi sau đến hỏng mất thôi.

     Rồi bà lại quay đi buôn bán như thường, sau khi đã để lại cho chồng một món tiền tiêu pha trong nhà, và sau khi anh chị Dung mỗi người đã nũng nịu đòi được một hào để ăn quà.

     Dung thấy thế cũng chẳng ganh tị, vì nàng xưa nay đối với các anh chị cũng không thân thiết lắm. Những khi nàng đang chơi thấy đói, nàng lại chạy về xin u già bát cơm nguội hay thức ăn gì khác thế nào u già cũng đã để phần rồi chạy nhảy như một con vật non không biết lo nghĩ gì.

     Những sự ấy đã làm cho Dung có một cái tính an phận và nhẫn nại lạ lùng. Ngày trong nhà có tết nhất, các anh chị và em nàng được mặc quần áo mới vui chơi, còn nàng vẫn cứ phải áo cũ làm lụng dưới bếp, Dung cũng không ca thán hay kêu ca gì. Mà nàng biết kêu ca cũng không được. Nhiều lần nàng đã nghe thấy u già nói mẹ nàng may cho cái áo, thì mẹ nàng trả lời:

     - May cho con nặc nô ấy làm gì. Để nó làm rách nát ra à?

     Còn nói với cha thì Dung biết là vô công hiệu, vì cha nàng không dám tự ý làm cái gì bao giờ cả.

     […] Thế là Dung đi lấy chồng.

     Nàng đi lấy chồng cũng bỡ ngỡ và lạ lùng như người nhà quê lên tỉnh. Dung coi đi lấy chồng như một dịp đi chơi xa, một dịp rời bỏ được cái gia đình lạnh lẽo và cái xóm chợ quen mắt quá của nàng. Đi lấy chồng đối với nàng là hưởng một sự mới.

     Vì thế, khi bước chân lên ô tô về nhà chồng, Dung không buồn bã khóc lóc gì cả. Nàng còn chú ý đến những sự lạ mắt lạ tai của nhà giai, không nghe thấy những lời chúc hơi mát mẻ và ganh tị của hai chị và em bé nàng nữa.

     Về đến nhà chồng, Dung mới biết chồng là một anh học trò lớp nhì, vừa lẫn thẩn vừa ngu đần. Nàng đã bé mà chồng nàng lại còn bé choắt hơn. Nhưng bà mẹ chồng với các em chồng nàng thì to lớn ác nghiệt lắm.

     Qua ngày nhị hỉ, Dung đã tháo bỏ đôi vòng trả mẹ chồng, ăn mặc nâu sồng như khi còn ở nhà, rồi theo các em chồng ra đồng làm ruộng. Nhà chồng nàng giàu, nhưng bà mẹ chồng rất keo kiệt, không chịu nuôi người làm mà bắt con dâu làm.

     Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

     Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

     - Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

     Rồi bà kể thêm:

     - Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

     Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

     Một hôm tình cờ cả nhà đi vắng, Dung vội ăn cắp mấy đồng bạc trinh lẻn ra ga lấy vé tàu về quê. Đến nơi, mẹ nàng ngạc nhiên hỏi:

     - Kìa, con về bao giờ thế? Đi có một mình thôi à?

     Dung sợ hãi không dám nói rằng trốn về, phải tìm cớ nói dối. Nhưng đến chiều tối, nàng lo sợ quá, biết rằng thế nào ngày mai mẹ chồng nàng cũng xuống tìm. Nàng đánh bạo kể hết tình đầu cho cha mẹ nghe, những nỗi hành hạ nàng phải chịu, và xin cho phép nàng ở lại nhà.

     Cha nàng hút một điếu thuốc trong cái ống điếu khảm bạc, rồi trầm ngâm như nghĩ ngợi. Còn mẹ nàng thì đùng đùng nổi giận mắng lấy mắng để:

     - Lấy chồng mà còn đòi ở nhà. Sao cô ngu thế. Cô phải biết cô làm ăn thế đã thấm vào đâu mà phải kể. Ngày trước tôi về nhà này còn khó nhọc bằng mười chứ chả được như cô bây giờ đâu, cô ạ.

     Sớm mai, bà mẹ chồng Dung xuống. Vừa thấy thông gia, bà đã nói mát:

     - Nhà tôi không có phúc nuôi nổi dâu ấy. Thôi thì con bà lại xin trả bà chứ không dám giữ.

     Mẹ Dung cãi lại:

     - Ô hay, sao bà ăn nói lạ. Bây giờ nó đã là dâu con bà, tôi không biết đến. Mặc bà muốn xử thế nào thì xử. Chỉ biết nó không phải là con tôi nữa mà thôi.

     Bà nọ nhường bà kia, rút cục Dung được lệnh của mẹ phải sửa soạn để đi với mẹ chồng.

     Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hy vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

     Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. Trí nàng sắc lại khi ước lạnh đập vào mặt, nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

     Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

     - Tỉnh rồi, tỉnh rồi, không lo sợ gì nữa. Bây giờ chỉ đắp chăn cho ấm rồi sắc nước gừng đặc cho uống là khỏi.

     Dung dần dần nhớ lại. Khi nàng mở mắt nhìn, thấy mình nằm trong buồng, người u già cầm cây đèn con đứng đầu giường nhìn nàng mỉm cười một cách buồn rầu:

     - Cô đã tỉnh hẳn chưa?

     Dung gật:

     - Tỉnh rồi.

     Một lát, nàng lại hỏi:

     - Tôi làm sao thế nhỉ... Bà cả đâu u? Bà ấy về chưa?

     U già để tay lên trán Dung, không trả lời câu hỏi:

     - Cô hãy còn mệt. Ngủ đi.

     Hai hôm sau, Dung mạnh khỏe hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

     - Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

     Dung buồn bã trả lời:

     - Con xin về.

     Khi theo bà ra ga, Dung thấy người hai bên đường nhìn nàng bàn tán thì thào. Nàng biết người ta tò mò chú ý đến nàng.

     Trông thấy dòng sông chảy xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không còn mong có ai cứu vớt nàng ra nữa.

     Dung thấy một cảm giác chán nản và lạnh lẽo. Khi bà cả lần ruột tượng gọi nàng lại đưa tiền lấy vé, Dung phải vội quay mặt đi để giấu mấy giọt nước mắt.

(Thạch Lam)

Chú thích: Hạ lưu: Tầng lớp thấp kém trong xã hội. Cha Dung gọi thế là vì ông có xuất thân là con cháu nhà quan. Khi ông cụ cố mất đi, cơ nghiệp ăn tiêu dần, cảnh nhà ông cũng dần trở nên sa sút, chỉ còn cái danh không.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.

Câu 2. Đề tài của văn bản này là gì? 

Câu 3. Nhận xét về sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật trong văn bản.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về đoạn trích: Trông thấy dòng sông chảy xa xa, Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không còn mong có ai cứu vớt nàng ra nữa.?

Câu 5. Qua văn bản, tác giả gửi gắm tư tưởng, tình cảm nào đối với số phận đáng thương của nhân vật Dung?

4
17 tháng 5

Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản là số phận bất hạnh, bi kịch của người phụ nữ tên Dung – một con người xuất thân sa sút, cuộc đời bế tắc, không lối thoát trong xã hội cũ.

Câu 3.

Sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật rất tự nhiên, linh hoạt.

-Lời người kể chuyện giữ vai trò dẫn dắt, miêu tả hoàn cảnh, tâm trạng nhân vật

-Lời nhân vật (qua suy nghĩ nội tâm) giúp bộc lộ trực tiếp nỗi đau, sự tuyệt vọng của Dung.

 →Cách kết hợp này làm cho câu chuyện chân thực, giàu cảm xúc và tăng sức ám ảnh.

Câu 4.

Đoạn trích cho thấy Dung rơi vào tâm trạng tuyệt vọng đến cùng cực. Nhìn dòng sông chảy xa, nàng nghĩ đến cái chết như một lối thoát cuối cùng. Việc “không còn mong có ai cứu vớt” thể hiện sự cô độc hoàn toàn, ý thức rõ bi kịch đời mình và cảm giác bị cuộc đời bỏ rơi.

Câu 5.

Qua văn bản, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc, cảm thông và trân trọng đối với số phận đáng thương của nhân vật Dung, đồng thời kín đáo phê phán xã hội cũ đã đẩy con người – đặc biệt là người phụ nữ – vào cảnh đau khổ, bế tắc.

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: nghị luận. Câu 2 Theo tác giả, cái biết “không phải của mình” là cái biết do chỉ đọc nhiều mà không suy nghĩ, không chọn lọc, không hệ thống hóa kiến thức; đó chỉ là những ý kiến của người khác chồng chất lên nhau một cách hỗn độn. Câu 3 Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn văn thứ hai: “Đọc sách mà không suy nghĩ thì không khác gì ăn mà không tiêu.” “Không biến mình thành một cái máy thu thanh thụ động…” Tác dụng: Làm cho cách diễn đạt sinh động, dễ hiểu. Nhấn mạnh vai trò của suy nghĩ, tư duy khi đọc sách. Giúp người đọc hiểu rằng đọc mà không suy ngẫm thì kiến thức sẽ không được tiếp nhận sâu sắc và không trở thành hiểu biết của bản thân. Câu 4 Ý kiến trên muốn khẳng định rằng khi đọc sách, con người không nên tiếp nhận thông tin một cách thụ động, máy móc mà cần biết suy nghĩ, phân tích, đánh giá, phản biện những điều tác giả đưa ra. Người đọc cần chủ động trao đổi về mặt tư tưởng với tác giả để tiếp thu kiến thức một cách độc lập, tự do và sáng suốt. Câu 5 Lời khuyên về thái độ khách quan khi đọc sách gợi cho em bài học rằng khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội cần biết chọn lọc, kiểm chứng và suy nghĩ cẩn thận trước khi tin tưởng hay chia sẻ. Không nên vội vàng tin theo dư luận hoặc những thông tin chưa xác thực. Mỗi người cần rèn luyện tư duy phản biện để tránh bị dẫn dắt bởi tin giả, thông tin sai lệch và có cách nhìn nhận đúng đắn hơn về các vấn đề trong cuộc sống.

10 tháng 1 2025

1)Chị P đã thể hiện vai trò tích cực và trách nhiệm của một công dân trong việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước. Việc góp ý xây dựng pháp luật là quyền cơ bản của công dân, được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Thông qua hành động này, chị P đã đóng góp ý kiến từ góc nhìn thực tế địa phương, giúp các đại biểu Quốc hội có thêm thông tin và cơ sở để điều chỉnh dự thảo luật sao cho phù hợp hơn. Đây không chỉ là cách chị P thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, mà còn góp phần vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính khả thi và công bằng của các chính sách được ban hành.  

2)Nếu em là anh M, em sẽ tiếp nhận bài viết góp ý của chị P một cách nghiêm túc, kiểm tra đầy đủ tính hợp lệ của thông tin và gửi bài viết đến đại biểu Quốc hội hoặc cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy trình. Đồng thời, em sẽ khuyến khích chị P và các cử tri khác tiếp tục tham gia đóng góp ý kiến, giải thích rõ tầm quan trọng của việc này đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Việc phản hồi kết quả xử lý bài viết góp ý, nếu có, cũng cần được thực hiện để chị P thấy rõ ý kiến của mình được lắng nghe và trân trọng.

a) Chị P đã thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội được quy định trong Hiến pháp và pháp luật bằng cách nghiên cứu và đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật. Hành động này thể hiện tinh thần trách nhiệm của một công dân đối với các vấn đề quan trọng, đặc biệt là lĩnh vực bảo vệ môi trường – một vấn đề thiết yếu và cấp bách. Góp ý của chị không chỉ giúp các đại biểu Quốc hội hiểu rõ hơn về thực tế tại địa phương mà còn góp phần nâng cao chất lượng và tính thực tiễn của các văn bản pháp luật. Đây là biểu hiện cụ thể của dân chủ, nơi người dân có cơ hội đóng góp ý kiến vào các quyết định quan trọng của quốc gia

b) Nếu em là anh M, em sẽ tiếp nhận bài viết góp ý của chị P với thái độ tôn trọng và trách nhiệm. Sau đó, em sẽ nhanh chóng chuyển ý kiến này đến các đại biểu Quốc hội hoặc cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo tiếng nói của chị được xem xét kịp thời. Đồng thời, em sẽ thông báo cho chị P biết về tiến trình xử lý bài viết góp ý, tạo sự minh bạch và niềm tin trong việc thực hiện quyền công dân. Ngoài ra, em cũng sẽ khuyến khích và hỗ trợ các cử tri khác tham gia đóng góp ý kiến, góp phần nâng cao tinh thần dân chủ và sự tham gia tích cực của người dân trong quản lý nhà nước

Anh M là nông dân ở tỉnh G. Sau nhiều năm làm nghề trồng lúa, anh quyết định mở rộng sản xuất và thử nghiệm trồng một số giống cây ăn trái mới như cam, bưởi, và xoài. Anh M nghiên cứu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ăn trái qua các khóa học trực tuyến, đồng thời ứng dụng các phương pháp canh tác hữu cơ để sản phẩm không chỉ sạch mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Tuy nhiên,...
Đọc tiếp

Anh M là nông dân ở tỉnh G. Sau nhiều năm làm nghề trồng lúa, anh quyết định mở rộng sản xuất và thử nghiệm trồng một số giống cây ăn trái mới như cam, bưởi, và xoài. Anh M nghiên cứu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ăn trái qua các khóa học trực tuyến, đồng thời ứng dụng các phương pháp canh tác hữu cơ để sản phẩm không chỉ sạch mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Tuy nhiên, một số nông dân lại lo ngại rằng việc anh M chuyển sang trồng cây ăn trái có thể làm giảm diện tích đất trồng lúa, ảnh hưởng đến sản lượng lúa của tỉnh. Họ cho rằng nếu nhiều nông dân làm theo anh M, nền sản xuất lúa của tỉnh sẽ bị suy giảm.

Việc anh M chuyển sang trồng cây ăn trái và xuất khẩu sản phẩm có phải là thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế không? Vì sao?

62
10 tháng 1 2025

Việc anh M chuyển sang trồng cây ăn trái và xuất khẩu sản phẩm là thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế, vì anh có quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, miễn là tuân thủ các quy định pháp luật. Anh M đã tận dụng tri thức, kỹ thuật canh tác và cơ hội thị trường để phát triển kinh tế cá nhân, điều này hoàn toàn phù hợp với quyền lợi của mỗi công dân trong nền kinh tế thị trường. 

 

Việc một số nông dân lo ngại về ảnh hưởng đến sản lượng lúa của tỉnh không làm mất đi quyền của anh M. Những vấn đề liên quan đến quy hoạch đất nông nghiệp và an ninh lương thực cần được giải quyết ở cấp độ chính sách và quản lý, chứ không phải từ cá nhân anh M. Anh đã góp phần đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và tạo thêm giá trị kinh tế, điều này có thể mở ra cơ hội phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp địa phương.

Việc anh M chuyển sang trồng cây ăn trái và xuất khẩu sản phẩm là thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế. Theo quy định của pháp luật, mọi công dân có quyền tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức sản xuất kinh doanh phù hợp với khả năng và điều kiện của mình, miễn là không vi phạm pháp luật. Anh M đã nghiên cứu kỹ thuật, tham gia học tập và ứng dụng các phương pháp canh tác hữu cơ, đồng thời hướng đến xuất khẩu sản phẩm, điều này không chỉ thể hiện quyền làm chủ trong kinh tế mà còn góp phần phát triển nền nông nghiệp bền vững. Việc chuyển đổi cây trồng của anh M là một quyền chính đáng, phù hợp với chủ trương đa dạng hóa nông nghiệp và nâng cao giá trị kinh tế, miễn là anh không vi phạm quy hoạch chung của tỉnh và các quy định về sử dụng đất