Câu 8. Tìm các tiếng có thanh sắc.
Cô Bích đã dạy lớp em cách giải bài toán này.
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Nội dung bài thơ là từ hình ảnh bà còng trong câu ca dao, người cháu đã hiểu ra nỗi vất vả, lam lũ của người nông dân, đặc biệt là người bà phải cúi lưng cấy lúa ngoài đồng, qua đó thể hiện sự thấu hiểu, thương yêu và biết ơn đối với bà.
Bài thơ Quê hương của Tế Hanh gợi cho tôi nhiều cảm xúc, ấn tượng. Những câu thơ mở đầu là lời giới thiệu hết sức đơn giản về quê hương của nhân vật trữ tình. Đó là một làng chài có truyền thống lâu đời, nằm gần biển. Sau đó, tác giả tiếp tục khắc họa công việc quen thuộc của người dân quê hương đó là ra khơi đánh bắt cá. Hình ảnh con thuyền ra khơi đầy dũng mãnh, hứa hẹn về một vụ mùa bội thu. Nhưng có lẽ với tôi, ấn tượng nhất phải là khung cảnh đoàn thuyền khi trở về. Bến đỗ trở nên tấp nập, sôi động cho thấy một chuyến ra khơi bội thu. Người dân chài lưới đầy khỏe khoắn đang làm công việc thu hoạch cá. Con thuyền thì trở về nằm nghỉ ngơi sau hành trình lao động vất vả. Đến khổ thơ cuối, Tế Hanh đã bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ quê hương khi phải xa cách. Tác giả nhớ những hình ảnh quen thuộc của quê hương “màu nước xanh”, “cá bạc”, “chiếc buồm vôi”, “con thuyền rẽ sóng”… Câu thơ cuối thốt lên gửi gắm tình cảm, nỗi nhớ da diết: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”. Tác phẩm có âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động cùng với ngôn từ giản dị. Tôi thực sự yêu thích bài thơ Quê hương.
Đừng toxic nhen
Câu 1. Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do, vì số chữ mỗi dòng không đều, không bị gò bó niêm luật
Câu 2. Biện pháp tu từ điệp ngữ “tôi học”, tác dụng là nhấn mạnh tinh thần ham học hỏi, học từ nhiều điều trong cuộc sống, làm câu thơ giàu nhịp điệu
Câu 3. “Hạn hẹp” có nghĩa là nhỏ bé, giới hạn, không rộng lớn, ý câu thơ khuyên con người không nên suy nghĩ thiển cận
Câu 4. Hình ảnh “biển” tượng trưng cho sự rộng lớn, bao la, gợi bài học sống phải có tầm nhìn rộng, không bó hẹp bản thân
Câu 5. Nhân vật “tôi” học từ nụ hồng là vẻ đẹp và sự hi sinh, học từ ngọn gió là sự tự do, không vô nghĩa mà luôn có ý nghĩa trong cuộc sống
Câu 6. Thông điệp là con người cần biết kiên cường trước khó khăn như xương rồng, đồng thời sống đẹp, biết cống hiến và chấp nhận hi sinh như hoa hồng
II. Em rất yêu quý mẹ của em, người luôn yêu thương và chăm sóc em từng ngày, mẹ là người mà em luôn cảm nhận được sự hi sinh thầm lặng, mỗi buổi sáng mẹ dậy sớm chuẩn bị bữa ăn và đưa em đi học, hình ảnh mẹ tất bật khiến em càng thêm trân trọng, mẹ không chỉ chăm lo cho gia đình mà còn luôn dạy em những điều hay lẽ phải, em sẽ cố gắng học thật tốt để không phụ lòng mẹ và để mẹ luôn tự hào về em
Câu 1. Thể thơ tự do, vì số chữ mỗi dòng không đều, không gò bó niêm luật
Câu 2. Biện pháp điệp ngữ “tôi học”, tác dụng nhấn mạnh tinh thần học hỏi từ mọi sự vật, làm nổi bật ý nghĩa giáo dục của bài thơ
Câu 3. “Hạn hẹp” nghĩa là nhỏ bé, chật hẹp, bó buộc, ở đây khuyên con người không nên sống thiển cận, giới hạn suy nghĩ
Câu 4. Hình ảnh “biển” tượng trưng cho sự rộng lớn, bao dung, ý nghĩa khuyên con người phải có tấm lòng rộng mở, không giới hạn bản thân
Câu 5. Từ nụ hồng học được vẻ đẹp dù phải trải qua đau đớn, từ ngọn gió học được sự tự do, sống có ý nghĩa chứ không vô ích
Câu 6. Thông điệp là con người cần biết kiên cường trước khó khăn như xương rồng, biết trân trọng vẻ đẹp và giá trị của sự hi sinh như nụ hồng, từ đó sống mạnh mẽ và ý nghĩa hơn
II. Viết: Người em yêu quý nhất là mẹ, mẹ luôn yêu thương, chăm sóc và hi sinh vì em, từ những việc nhỏ như chuẩn bị bữa ăn đến việc lo lắng cho việc học, mẹ dạy em cách sống tốt, biết quan tâm người khác, dù vất vả nhưng mẹ luôn cố gắng vì gia đình, em rất biết ơn và mong muốn học thật tốt để không phụ lòng mẹ, mẹ là người quan trọng nhất trong cuộc sống của em
Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân là một áng văn đặc sắc, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác của nhà văn. Qua hình tượng người lái đò và con sông Đà, tác giả không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của con người lao động trong cuộc sống mới.
Trước hết, sông Đà hiện lên với hai vẻ đẹp đối lập, vừa hung bạo vừa trữ tình. Ở phương diện hung bạo, con sông như một kẻ thù nguy hiểm với những thác nước dữ dội, đá ngầm hiểm trở, dòng chảy cuộn xoáy. Nguyễn Tuân đã sử dụng hàng loạt hình ảnh so sánh, nhân hóa độc đáo để miêu tả sự dữ dằn của sông Đà, khiến người đọc cảm nhận được sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây. Tuy nhiên, bên cạnh đó, sông Đà cũng mang vẻ đẹp thơ mộng, dịu dàng với dòng nước xanh biếc, cảnh vật hai bên bờ đầy chất trữ tình. Chính sự kết hợp này đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa nên thơ.
Nổi bật giữa thiên nhiên ấy là hình tượng người lái đò, một con người lao động bình dị nhưng mang phẩm chất anh hùng. Ông là người dày dạn kinh nghiệm, nắm chắc quy luật của dòng sông, từ đó điều khiển con thuyền vượt qua những ghềnh thác nguy hiểm. Trong cuộc chiến với sông Đà, người lái đò hiện lên như một chiến binh kiên cường, bình tĩnh, mưu trí. Dù phải đối mặt với nhiều thử thách, ông vẫn làm chủ tình huống, đưa con thuyền vượt qua tất cả. Qua đó, Nguyễn Tuân đã ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động trong thời kì mới, những con người tuy bình dị nhưng đầy bản lĩnh và tài năng.
Về nghệ thuật, tác phẩm thể hiện rõ phong cách Nguyễn Tuân với ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, kết hợp nhiều biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo. Cách miêu tả vừa cụ thể, chi tiết lại vừa giàu chất thơ, giúp người đọc hình dung rõ nét về cảnh vật và con người. Đồng thời, việc sử dụng nhiều kiến thức từ các lĩnh vực khác nhau cũng làm cho bài văn thêm phong phú, hấp dẫn.
Tóm lại, “Người lái đò sông Đà” không chỉ là một tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là bài ca về con người lao động. Qua đó, Nguyễn Tuân đã thể hiện tình yêu đất nước, niềm tự hào về con người Việt Nam và tài năng nghệ thuật độc đáo của mình.
Misa là chú chó bà ngoại cho em trong đợt nghỉ hè về quê vừa qua. Chú đi đứng rất nhẹ nhàng và chạy rất nhanh. Sáng nào cũng vậy, Misa đùa với chú mèo đen ngoài sân. Đùa chán, chú lại tìm chỗ nào đó mát để nằm. Misa nằm sấp gác mõm lên hai chân trước của mình, lim dim ngủ, tưởng như chú ngủ rất ngon nhưng không phải thế nhé! Chú sẽ luôn luôn đứng phắt dậy khi nghe có tiếng động hoặc ngửi thấy mùi lạ nào đó. Nếu là người lạ, chú ta liền tỏ ra hung dữ nhe nanh, gầm gừ như muốn nói: “Hãy ra khỏi đây nhanh nào!” nhưng ngược lại đối với thành viên trong gia đình em khi đi đâu về chỉ cần đến đầu ngõ thôi, chú đã biết và luôn luôn chạy ngay ra cổng đón, chú còn chạy quanh người, đuôi thì ngoáy tít lên vì vui sướng, những lúc đó thật là vui.
Hồi nhỏ tôi rất nghịch và ăn đòn khá thường xuyên
Nghịch là tính từ chỉ tính cách của con người
Ăn đòn (đánh đòn) là động từ chỉ hành động của con người
Phó từ là từ đi kèm tính từ và động từ, bổ sung cho ý nghĩa của tính từ và động từ. về mức độ, tần suất, trạng thái
Từ đi kèm với từ nghịch là từ: rất
Từ đi kèm với từ ăn đòn là từ khá thường xuyên
Từ lập luận trên ta có: Phó từ trong câu trên là rất và khá thường xuyên. Nó có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho việc tăng mức độ của một tính chất hay hành động nào đó.
những tiếng có thanh sắc là:
bích, lớp, cách, toán
Các tiếng có thanh sắc là:bé,lá,cú,bóng,chó,toán,lớp,bích,cách,...